(TN&MT) – Được ký kết vào ngày 10/12/1982 và chính thức có hiệu lực từ ngày 16/11/1994, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) ra đời đã đáp ứng sự kỳ vọng của cộng đồng quốc tế về việc thiết lập một trật tự pháp lý mới trên biển, đồng thời, dung hòa được quyền và lợi ích giữa các quốc gia.

Sau 35 năm hình thành và phát triển, UNCLOS thể hiện vai trò như một bản Hiến pháp của đại dương trong việc điều chỉnh quy chế pháp lý các vùng biển cũng như đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các quốc gia trong khai thác và sử dụng biển.

Xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển. Ảnh: Hoàng Minh
Xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển. Ảnh: Hoàng Minh

Khẳng định chủ quyền trên biển của các quốc gia

Sau khi Công ước Luật Biển 1982 ra đời và có hiệu lực, các quốc gia ven biển đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với những vùng biển được mở rộng theo quy định của Công ước. Quy chế pháp quốc gia với nhau. Lưu thông hàng hải qua vùng lãnh hải và các dải hẹp giờ đây dựa trên các nguyên tắc pháp lý.

Các quốc gia ven biển đã tận dụng các điều khoản lợi thế cho phép mở rộng vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) ra tới 200 hải lý dọc theo bờ biển. Các quốc gia không có biển được quyền tiếp xúc với biển hoặc từ biển cũng được quy định một cách rõ ràng. Quyền được tiến hành các nghiên cứu khoa học biển, giờ đây, được dựa trên các nguyên tắc mà không thể vì lý do gì để từ chối. Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương đã được thành lập năm 1994, đang thực hiện chức năng tổ chức và kiểm soát các hoạt động dưới biển sâu ngoài vùng thuộc quyền tài phán quốc gia, nhằm điều hành việc khai thác và bảo tồn các nguồn tài nguyên của biển. Tòa án Luật Biển quốc tế cũng đã được thành lập năm 1996 và có quyền lực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển phát sinh từ việc áp dụng hay hiểu biết về Công ước.

Tuy vậy, cần phải nói thêm rằng, phần XI của Công ước Luật Biển 1982 liên quan đến quy chế pháp lý đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia (Công ước gọi chung là “Vùng”), đặc biệt là việc khai thác các quặng nằm sâu dưới đáy đại dương, đã làm dấy lên nhiều lo ngại từ các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là Mỹ. Để đạt được sự tham gia rộng rãi hơn của các nước đối với Công ước, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc đã chủ động tiến hành một loạt các cuộc tham vấn không chính thức giữa các quốc gia để giải quyết các lo ngại này. Sự tham vấn đã kết thúc bằng việc các nước đạt được thoả thuận vào tháng 7/1994, gọi là “ Thỏa thuận liên quan đến việc thực hiện phần XI của Công ước Luật Biển 1982”. Thỏa thuận này được coi là một bộ phận của Công ước và đã mở đường cho tất cả các nước tham gia ký hoặc phê chuẩn để trở thành thành viên của Công ước.

Công cụ pháp lý chính thống để hành xử trên biển

Là quốc gia nằm bên bờ Tây của Biển Đông, biển có một ý nghĩa đặc biệt với Việt Nam trên nhiều phương diện. Đến nay, UNCLOS đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vô cùng quan trọng cho Việt Nam trong việc xác lập cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phù hợp với quy định của luật quốc tế. Trong bối cảnh phức tạp như hiện nay, UNCLOS còn là một công cụ pháp lý chính thống và hữu hiệu trong việc kiềm chế, quản lý các mối đe dọa với an ninh, an toàn ở Biển Đông cũng như bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên biển.

Chính vì vậy, sau khi Công ước Luật Biển 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay. Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước ta đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”. Quốc hội khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải. Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.

Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời, cũng tuyên bố rõ lập trường của Nhà nước ta là giải quyết hòa bình các bất đồng liên quan đến Biển Ðông trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển Ðông đối với vùng ĐQKT và thềm lục địa. Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Tham gia Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam, quốc gia ven biển, được thừa nhận có vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng ĐQKT rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà nước ta được hưởng theo quy định của Công ước, khoảng gần một triệu km2, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.

Công ước Luật Biển 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc, quan trọng, được thừa nhận và luôn được viện dẫn trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp để bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa và các quyền và lợi ích chính đáng của nước ta trên biển. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh những những chứng cứ lịch sử, pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã được xác lập liên tục, hòa bình từ lâu đời đối với hai quần đảo, Công ước là công cụ pháp lý để phản bác những yêu sách phi lý, ngang ngược của Trung Quốc đối với cái gọi là “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông, vốn là vùng biển nửa kín được bao bọc bởi 9 quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Công ước Luật Biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý chung cho việc phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa nước ta với các nước xung quanh Biển Đông như: Campuchia, Thái lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia… góp phần tạo dựng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tạo môi trường ổn định, hoà bình, hợp tác và phát triển trong Biển Đông.

Sau 35 năm kể từ khi ra đời, không thể phủ nhận tầm quan trọng và vị trí pháp lý của Công ước Luật Biển 1982 trong đời sống luật pháp quốc tế. Tại Hội nghị lần thứ 22 các quốc gia thành viên của Công ước, tổ chức tại NewYork tháng 6/2012, một lần nữa Công ước được khẳng định là thành tựu của nhân loại bởi những quy định của nó là kết quả của sự hợp tác – đấu tranh – xây dựng nhiều năm giữa các quốc gia trên thế giới với các chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, quan điểm luật pháp… khác nhau; là sự thỏa hiệp giữa các quốc gia vì một nhận thức chung đối với tầm quan trọng sống còn của biển và đại dương đối với sự phát triển của nhân loại. Khi trở thành thành viên của Công ước, các quốc gia có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định trong Công ước, không có ngoại lệ, và không có bảo lưu. Do đó, không thể có quốc gia nào, khi tham gia sân chơi luật pháp chung này, lại chỉ viện dẫn và áp dụng những quy định trong Công ước có lợi cho quốc gia mình, hoặc không tuân thủ, thậm chí phủ nhận, những quy định không có lợi cho quốc gia mình

Việt Nam tiếp tục kêu gọi các nước hành xử đúng luật pháp quốc tế trên biển

Kỷ niệm 35 năm ra đời của Công ước Luật Biển 1982 năm nay, ngày 5/12, tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở thành phố New York, Đại Hội đồng (ĐHĐ) khóa 72 đã họp phiên toàn thể về đề mục thứ 77 trong chương trình nghị sự về đại dương và luật biển. Phiên họp đã xem xét các báo cáo của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc về các vấn đề liên quan đến đại dương và Luật Biển và thảo luận về các dự thảo nghị quyết được đưa ra dưới đề mục này.

Tại phiên thảo luận, các nước nhấn mạnh năm 2017 đã chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng liên quan đến vấn đề đại dương và luật biển, đặc biệt là Hội nghị Liên Hợp Quốc về đại dương lần đầu tiên được tổ chức với chủ đề “Bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển và tài nguyên biển” nhằm hỗ trợ việc thực hiện Mục tiêu Phát triển bền vững thứ 14 về biển và đại dương. Đồng thời, các phiên họp của Ủy ban trù bị do Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thành lập nhằm xây dựng công cụ ràng buộc pháp lý quốc tế trong khuôn khổ Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển tại khu vực ngoài vùng tài phán quốc gia (BBNJ) đã kết thúc thành công, thông qua báo cáo khuyến nghị về các thành tố của văn kiện pháp lý về BBNJ. Các nước đều cho rằng đã đến lúc phải đưa các cam kết thành hành động thực tế nhằm góp phần thực hiện thắng lợi các Mục tiêu Phát triển bền vững.

Phát biểu tại phiên thảo luận, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn đại diện Thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc Nguyễn Phương Nga khẳng định tính phổ quát và thống nhất của UNCLOS, kêu gọi tất cả các nước tôn trọng và thực thi các nghĩa vụ của mình nhằm bảo đảm hòa bình, ổn định và phát triển bền vững biển, đại dương và tài nguyên biển, vì lợi ích của toàn thể nhân loại và các thế hệ tương lai.

Liên quan đến vấn đề biển Đông, Đại sứ Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh Biển Đông không chỉ là không gian sinh tồn của người dân các quốc gia ven biển mà còn là nơi có nhiều tuyến hàng hải quốc tế lớn. Duy trì hòa bình và ổn định ở biển Đông là lợi ích và quan tâm của khu vực và thế giới. Cùng với các nước ASEAN, Việt Nam kêu gọi các bên liên quan kiềm chế và giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982, tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, tiếp tục thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử giữa các bên ở biển Đông (DOC). Việt Nam hoan nghênh ASEAN và Trung Quốc đã thông qua dự thảo khung Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC), đồng thời, đề nghị sớm đàm phán thực chất để xây dựng một COC có tính khả thi, ràng buộc pháp lý và phù hợp với UNCLOS 1982.

K.Liên

NO COMMENTS

Leave a Reply