Biến đổi khí hậu

(TN&MT) – Sáng 21/10,  UBND quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng đã tổ chức Hội nghị Tập huấn lồng ghép kiến thức biến đổi khí hậu (BĐKH) trong chương trình học và ngoại khóa tại các trường Tiểu học và Trung học cơ sở trên địa bàn quận Thanh Khê năm học 2017-2018 và những năm tiếp theo.

Ông Nguyễn Văn Tĩnh- Chủ tịch UBND quận Thanh Khê tặng sách cho đại diện các trường
Ông Nguyễn Văn Tĩnh- Chủ tịch UBND quận Thanh Khê tặng sách cho đại diện các trường

Tham dự hội nghị có đại diện Sở Giáo dục và đào tạo, Phòng khí tượng thủy văn và BĐKH, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Ban Giám hiệu và giáo viên các trường Tiểu học, Trung học Cơ sở trên địa bàn quận Thanh Khê.

Hội nghị nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong công tác giáo dục bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, giáo viên, học sinh về ứng phó với BĐKH và phòng chống thiên tai.

Tại hội nghị, các đại biểu đã tìm hiểu về các khái niệm cơ bản của BĐKH. Trong đó, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới BĐKH là do khí hiệu ứng nhà kính. Tác động của BĐKH làm tăng cường độ và tần suất thiên tai (lũ lụt, bão, hạn hán…), tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, tăng dâng mực nước biển…Với những hậu quả nặng nề mà BĐKH gây ra, để giảm nhẹ thiệt hại cần có cách ứng phó và thích ứng, đồng thời giảm nhẹ bằng các hoạt động nhằm giảm thiểu các mức độ, cường độ phát thải các khí hiệu ứng nhà kính…

Quang cảnh hội nghị
Quang cảnh hội nghị

Ứng phó với BĐKH là trách nhiệm của tất cả mọi người và cần có sự chung tay của cả cộng đồng. Việc lồng ghép kiến thức BĐKH vào chương trình học là vô cùng cần thiết và hữu ích để nâng cao kiến thức, trách nhiệm cho cộng đồng ứng phó với BĐKH. Thực hiện chủ trương của TP. Đà Nẵng, UBND quận Thanh Khê đã tiến hành hội nghị lần này nhằm phổ biến kiến thức về BĐKH cho các trường học và hướng dẫn phương pháp truyền tải đến học sinh.

Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Tĩnh – Chủ tịch UBND quận Thanh Khê cho biết, lớp tập huấn được tổ chức với mục đích trang bị kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, giáo viên, học sinh về ứng phó BĐKH và phòng chống thiên tai, giáo dục học sinh có ý thức quan tâm đến vấn đề môi trường, tích cực tham gia các hoạt động về bảo vệ môi trường và nhất là phòng chống BĐKH.

Tin & ảnh: Yến Nhi

(TN&MT) – Sáng 19/10, tại Hà Nội, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) tổ chức Hội thảo Bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn lần thứ 7 nhìn từ góc độ cộng đồng. Hội thảo tập trung đề cập đến các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) dãy Trường Sơn phục vụ phát triển bền vững (PTBV).
Toàn cảnh hội thảo
Toàn cảnh hội thảo
Phát biểu tại hội thảo, GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh – Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN cho biết: Vùng sinh thái dãy Trường Sơn là một trong 7 vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam bởi thế mạnh về sự phong phú, độc đáo của tài nguyên đa dạng sinh học và còn là vùng đang có nguồn lao động dồi dào với 30 triệu dân gồm 40 dân tộc anh em, trong đó có khoảng 30 dân tộc bản địa. Do đó, bảo tồn đa dạng sinh học trên dãy Trường Sơn cũng chính là bảo vệ phát huy các nền văn hóa đặc sắc của 40 dân tộc anh em trong phát triển bền vững.
“Công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam nói chung và trên vùng sinh thái dãy Trường Sơn nói riêng chỉ đạt được thành công như mong muốn của Đảng, Chính phủ, của nhân dân khi có được sự hưởng ứng, tham gia có trách nhiệm của cộng đồng bản địa cùng với đảm bảo các lợi ích thiết thực cho cộng đồng thông qua công tác bảo tồn ĐDSH – với quan điểm “Lợi ích vừa là động lực – vừa là mục tiêu của sự nghiệp bảo tồn ĐDSH” – GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh nhấn mạnh.
GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh – Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN
GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh – Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN phát biểu tại hội thảo
GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh đề xuất các giải pháp bảo tồn ĐDSH như: Đề ra các chính sách sử dụng bền vững tài nguyên đất, nước, rừng và ĐDSH; cần có một chương trình nghiên cứu cơ bản “Điều tra phát hiện, thống kê – phân tích đánh giá trên cơ sở khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn của các tri thức bản địa của cộng đồng trong bảo tồn – sử dụng ĐDSH trong quá khứ – hiện tại”; tổ chức đánh giá – xác nhận – khen thưởng động viên kịp thời đối với cộng đồng địa phương trong việc đóng góp công sức, trí tuệ trong việc bảo vệ ĐDSH có hiệu quả; đảm bảo lợi ích cho cộng đồng trên dãy Trường Sơn từ các hoạt động kinh tế – phúc lợi xã hội; thường xuyên nâng cao năng lực cho cán bộ địa phương đồng thời nâng cao nhận thức cho cộng đồng về giá trị đích thực của các dịch vụ hệ sinh thái và ĐDSH để người dân chủ động và tích cực hơn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Cũng cần có chủ trương rõ ràng, minh bạch trong việc thu hút lực lượng lao động địa phương có trình độ – năng lực tham gia vào lực lượng kiểm lâm ở các khu bảo tồn xuyên VQG; các doanh nghiệp trong nước – Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần đầu tư – phát huy tiềm năng độc đáo của ĐDSH trong kinh doanh; tạo việc làm cho phụ nữ và người nghèo có cơ hội tiếp cận và hưởng lợi từ việc sử dụng khôn khéo ĐDSH trên dãy Trường Sơn; kêu gọi sự ủng hộ và chia sẻ thông tin kinh nghiệm sử dụng khôn khéo ĐDSH từ cộng đồng ASEAN; khuyến khích sự gần gũi, gắn kết cộng đồng với ĐDSH vì sự PTBV.
Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường
TS. Phạm Đức Thi – Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường phát biểu
Trong bối cảnh BĐKH, TS. Phạm Đức Thi – Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn ĐDSH phục vụ PTBV dãy Trường Sơn, gồm: Thống nhất quan điểm và xây dựng chiến lược tổng hợp PTBV dãy Trường Sơn; tổ chức điều tra, đánh giá tổng hợp toàn dãy Trường Sơn, xây dựng quy hoạch phát triển cho toàn khu vực; chú trọng quản lý bảo tồn các loài và các hệ sinh thái đặc trưng của dãy Trường Sơn, đặc biệt là Sao la và hệ sinh thái rừng khộp; điều tra, đánh giá và khai thác Tri thức bản địa đặc sắc của các dân tộc phục vụ PTBV dãy Trường Sơn; thành lập một cơ quan, tổ chức nghiên cứu, quản lý phù hợp
Theo TS Lê Trần Chấn – Trung tâm Đa dạng và An toàn sinh học thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, các loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu của dãy Trường Sơn rất phong phú và đặc sắc. Theo thống kê, có 902 loài đặc hữu Trung Bộ (chủ yếu ở dãy Trường Sơn), chiếm 8,8% tổng số loài của hệ thực vật Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên quan trọng này đang đứng trước nguy cơ ngày càng suy giảm. Vì vậy, vấn đề bảo tồn đã trở nên rất cấp thiết”.
Từ góc độ cộng đồng, TS Lê Trần Chấn đề xuất cần gắn nhiệm vụ bảo tồn cây quý hiếm với việc nâng cao đời sống tăng thu nhập góp phần giúp người dân xóa đói giảm nghèo; làm tốt công tác tuyên truyền để người dân hiểu và biết giá trị những đối tượng cần bảo tồn, nhận dạng các đối tượng quý hiếm cần bảo tồn để hạn chế việc xâm hại; cần có sự đồng thuận, tạo điều kiện giúp đỡ và sẵn sàng chia sẻ khó khăn, chỉ đạo kịp thời để giải quyết mọi khó khăn khi thực thi nhiệm vụ của cấp lãnh đạo chính quyền cơ sở…
Tin & ảnh: Mai Đan – Khương Trung

(TN&MT) – UBND tỉnh Nghệ An vừa ra công điện khẩn về việc cấm tàu thuyền ra khơi trong cơn bão số 11. Theo đó, từ 7h00 ngày 16/10/2017, cấm tất cả các loại tàu thuyền và phương tiện vận tải ra khơi.

Để bảo đảm an toàn cho ngư dân và các tàu thuyền hoạt động trên biển, Chủ tịch UBND tỉnh – Trưởng Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai (PCTT) và Tìm kiếm cứu nạn (TKCN) tỉnh yêu cầu: Chủ tịch UBND – Trưởng Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các huyện: Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Thị xã Cửa Lò, Thị xã Hoàng Mai; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Chi cục Trưởng Chi cục Thủy sản Sử dụng mọi phương tiện, bằng mọi biện pháp thông báo cho tàu thuyền trên biến biết diễn biến của bão, hướng dẫn, kêu gọi tàu thuyền về nơi tránh trú an toàn hoặc thoát ra khỏi vùng nguy hiểm. Hướng dẫn neo đậu tàu thuyền tại nơi tránh trú (bao gồm cả tàu du lịch, tàu vận tải); tổ chức di dời, neo đậu lồng bè nuôi trồng thủy sản, nhà nổi đảm bảo an toàn.

Tàu thuyền hối hả cập cảng Cửa Hội để tránh bão số 11
Tàu thuyền hối hả cập cảng Cửa Hội để tránh bão số 11

Cấm các loại tàu thuyền và phương tiện vận tải ra khơi kể từ 7 giờ ngày 16/10. Các tàu thuyền đang hoạt động trên biển phải về bờ neo đậu an toàn trước giờ nói trên.

Công điện khẩn cấm tàu thuyền ra khơi từ 7h ngày 16/10
Công điện khẩn cấm tàu thuyền ra khơi từ 7h ngày 16/10

Cũng theo báo cáo nhanh của Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Nghệ An thì tính đến 11h trưa 16/10 toàn tỉnh có 3.907 tàu thuyền với 18.463 lao động đã vào bờ neo đậu tránh trú bão an toàn; trong đó có 4 phương tiện với 48 lao động của tỉnh Quảng Ninh, 1 tàu với 12 lao động của Đà Nẵng.

Đình Tiệp

(TN&MT) – Theo báo cáo mới đây của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Kiên Giang, bờ biển của tỉnh này có chiều dài khoảng 200km trải dài từ huyện An Minh đến thị xã Hà Tiên. Những năm gần đây do ảnh hưởng của BĐKH, đã có gần 70km bờ biển bị sạt lở, trong đó có khoảng 31km sạt lở nghiêm trọng.

Sạt lở tập trung trên địa bàn ven biển thuộc 4 huyện như: Thị xã Hà Tiên chiều dài sạt lở 2km, huyện Hòn Đất 25,9km, An Biên 25km và An Minh chiều dài sạt lở khoảng 16,9km. Chiều tộng bị sạt lở từ 60 – 300m, tính trung bình mỗi năm sạt lở ăn sâu vào đất liền khoảng 20m. Những năm qua, sạt lở làm mất khoảng hơn 600ha rừng phòng hộ và đã làm ảnh hưởng cuộc sống trên 500 hộ dân.

Ông Nguyễn Văn Tâm, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang cho biết, trước tình hình sạt lở ngày càng nghiêm trọng như hiện nay, ngành nông nghiệp tỉnh đã làm việc với các địa phương bị sạt lở và xây dựng phương án hỗ trợ người dân. Việc xây dựng kè chỉ mang tính tạm thời, ở những đoạn sạt lở nghiêm trọng, như Tiểu Dừa, Xẻo (huyện An Minh), những nơi sạt lở sát đê về lâu dài cần có nguồn vốn đầu tư lớn xây dựng hệ thống kè cứng, gây bồi tạo bãi mới đảm bảo được tình trạng sạt lở.

Theo ông Tâm, UBND tỉnh Kiên Giang đã yêu cầu Sở NN&PTNT phối hợp với UBND huyện An Minh và các đơn vị liên quan tiến hành xác định ranh giới khu vực sạt lở bờ biển; tiến hành lập dự án cấp bách gây bồi, tạo bãi, phục hồi rừng ngập mặn bảo vệ khu vực huyện An Minh và tạo sinh kế cho người dân ven biển, đổ trụ rỗng tiêu giảm sóng, gây bồi tạo bãi với chiều dài gần 4.000m, kinh phí gần 120 tỷ đồng.

Đồng thời, UBND tỉnh đã báo Trung ương về tình hình sạt lở bờ biển và đề nghị hỗ trợ vốn để đầu tư xây dựng dự án cấp bách khắc phục, phòng chống sạt lở. Tỉnh cũng đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục để thực hiện các mô hình thuộc dự án “Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL”. Dự kiến Dự án sẽ triển khai vào năm 2018 với nguồn vốn 736 tỷ đồng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phòng, chống xói lở bờ biển và hỗ trợ người dân nuôi trồng thủy sản ở hai huyện An Biên, An Minh thuộc tỉnh Kiên Giang.

                                                                        Tin, ảnh: Bạch Thanh

(TN&MT) – UBND tỉnh Bình Dương vừa ban hành Quyết định số 2633/QĐ-UBND phê duyệt dự án “Giải pháp bảo vệ rừng trong điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH) trên địa bàn tỉnh Bình Dương”.

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

Theo đó, mục tiêu dự án là nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực thích ứng và giảm nhẹ khả năng dễ bị tổn thương do tác động BĐKH của các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái rừng trồng và rừng tự nhiên; ngăn chặn sự suy giảm diện tích rừng, suy thoái chất lượng rừng và cải thiện cấu trúc rừng. Dự án có quy mô 10.687,61 ha đất quy hoạch lâm nghiệp, thời gian thực hiện dự án từ năm 2018 – 2020.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp thực hiện nhóm giải pháp về chiến lược và quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng và mảng xanh đô thị; nhóm các giải pháp về kỹ thuật lâm sinh; giải pháp quản lý rừng và đất lâm nghiệp. Cụ thể, về nhóm giải pháp về chiến lược và quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng và mảng xanh đô thị: Cần phải bảo vệ và phát triển rừng, với những loài cây rừng thực thụ có tác dụng hấp thụ carbon, che phủ đất, chống thoái hóa đất, hấp thụ nhiệt, tạo cảnh quan.

Bảo vệ nghiêm ngặt 1.792,23 ha diện tích rừng tự nhiên hiện còn, phát triển diện tích trồng cây rừng thực thụ để phòng hộ đầu nguồn; duy trì ổn định diện tích đất đã quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp là 10.687,61 ha để làm cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp tổ chức, quản lý rừng một cách ổn định và bền vững; gia tăng tỷ lệ mảng xanh để bảo vệ môi trường, kết hợp tạo cảnh quan, thẩm mỹ cho cho đô thị Bình Dương trong tương lai.

Phát triển mảng xanh trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đảm bảo diện tích cây xanh trong phạm vi khu, cụm tối thiểu chiếm 10% tổng diện tích của toàn bộ khu, cụm công nghiệp; tăng tỷ lệ cây xanh phân tán trong đô thị; xây dựng cơ chế chính, sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân trồng cây xanh phân tán để gia tăng tỷ lệ mảng xanh, giảm phát thải CO2, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển Bình Dương bền vững…

Về nhóm các giải pháp về kỹ thuật lâm sinh: Đối với trạng thái rừng non phục hồi, là trạng thái rừng tự nhiên phổ biến hiện còn trên địa bàn tỉnh Bình Dương, có mục đích sử dụng là rừng phòng hộ, rừng sản xuất thì đều sử dụng các biện pháp lâm sinh để nâng cao chất lượng rừng và năng lực phòng hộ đầu nguồn theo hướng xây dựng cấu trúc rừng chuẩn, phân bổ số cây theo đường kính theo phân bổ giảm với tỷ lệ cấp đường kính  từ 8 – 20cm là 73%, cấp đường kính từ 20 – 40cm là 19% và cấp dường kính trên 40cm là 8%…

Đối với rừng khộp, ngoài việc tỉa thưa những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn và cây gỗ tạp thì cần trồng bổ sung những loại cây bản địa mục đích như: giáng hương, cà te hay gõ đỏ, gụ mật, cẩm liên, sao đen, dầu rái… nhằm chống chọi với nạn cháy rừng và góp phần tăng tỷ lệ cây bản địa mục đích, tăng tổ thành loài. Đối với trạng thái rừng trồng hỗn loài cây lớn bản địa thì cũng cần tiến hành các biện pháp lâm sinh để nâng cao chất lượng rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.

Về giải pháp quản lý rừng, đất lâm nghiệp: Rà soát thành lập các chủ rừng cho những diện tích rừng hiện nay chưa có chủ rừng để quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo đúng quy định của pháp luật; rà soát tất cả diện tích đất lâm nghiệp đang khoán cho các hộ dân để điều chỉnh cơ cấu cây trồng vừa đảm bảo đúng mục tiêu là “rừng phòng hộ” vừa cải thiện thu nhập cho hộ dân và ứng phó với tác động của BĐKH.

Tổ chức tuyên truyền, phố biến cho các tổ chức chủ rừng, các tổ chức đang được giao quản lý rừng, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang được khoán rừng, cho thuê rừng về tình hình BĐKH, các chính sách của Nhà nước liên quan đến bảo vệ rừng ứng phó với BĐKH và những giải pháp để nâng cao hiệu quả phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ môi trường của rừng.

Tường Tú

(TN&MT) – Hồ chứa nước Vạn Hội ở xã Ân Tín (huyện Hoài Ân) đưa vào khai thác, sử dụng năm 2003, với dung tích thiết kế 14,5 triệu m3, đảm nhiệm cung cấp nước tưới tiêu cho 1.100 ha đất nông nghiệp. Thế nhưng, hiện nay, tình trạng sạt lở núi trong lòng hồ đang làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động công trình, đe dọa đến cuộc sống của hàng trăm hộ dân sinh sống dưới vùng hạ lưu chân đập.

Sạt lở núi trong lòng hồ

Theo ông Nguyễn Văn Phú, Giám đốc Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi tỉnh (đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa nước Vạn Hội – PV), sáng 17.12.2016, mưa lớn kéo dài đã khiến một phần núi nằm ở phía thượng lưu bờ trái đập lòng hồ Vạn Hội bị nứt, sạt lở. Hàng chục ngàn khối đất, đá đổ vùi xuống lòng hồ, cách cửa tràn xả lũ khoảng 300m, gây ra tiếng nổ lớn, tạo nên cột sóng nước cao khoảng 20m tràn qua đỉnh đập và nhà quản lý công trình. Sự cố này đã làm hư hỏng toàn bộ cổng trục, phai phụ, lan can và hỏng hoàn toàn đường ống dẫn dầu thủy lực cửa tràn số 3. Hệ thống đường dây điện phía hạ lưu cũng bị tê liệt, đồng thời, làm hỏng máy phát điện dự phòng.

Dãy núi nằm trước tràn xả lũ bị sạt lở, nhiều vết nứt, gãy hiện rõ cho thấy hiện tượng sạt lở đất, đá từ núi sẽ còn diễn ra khi có mưa lớn
Dãy núi nằm trước tràn xả lũ bị sạt lở, nhiều vết nứt, gãy hiện rõ cho thấy hiện tượng sạt lở đất, đá từ núi sẽ còn diễn ra khi có mưa lớn

Sau sự cố thiên tai xảy ra, Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi tỉnh phối hợp với chính quyền xã Ân Tín, UBND xã Hoài Ân tổ chức sửa chữa; đến nay, những hỏng hóc kể trên cơ bản được khắc phục. Song đáng lo ở thời điểm này, khoảng 800.000m3 đất, đá từ vách núi đổ vùi dưới lòng hồ Vạn Hội chưa được nạo vét, thu gom để trả lại dung tích chứa cho lòng hồ. “Hầu hết, lượng bùn lỏng sau khi hiện tượng sạt lở núi xảy ra đã đẩy ra tới cửa tràn; khối lượng đất, đá kết tinh nằm cách cửa tràn chừng 200m. Thời gian tới không kịp thu gom, lượng đất, đá này sẽ đẩy ra cửa tràn khi có mưa lớn. Lúc đó, tràn xả lũ sẽ gặp nhiều rủi ro, bất trắc. Để nạo vét, thu gom khối lượng đất, đá này phải mất chừng 10 tỉ đồng, số tiền này công ty khó lòng kham nổi”, ông Phú lo lắng nói.

Theo ghi nhận PV, dãy núi nằm trong khu vực lòng hồ Vạn Hội đã bị sạt lở trên diện tích khá lớn. Các vết nứt, đứt gãy dài chừng 20-30m nằm trước, cách tràn xả lũ chừng 300m còn hiện hữu rõ nét. Theo Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi tỉnh, trong mùa mưa lũ sắp tới, nếu xảy ra mưa với lưu lượng từ 400-500mm khả năng núi tiếp tục bị sạt lở là rất lớn. Hiện tượng này xảy ra, cộng dồn với khối lượng đất, đá cũ chưa thu dọn sẽ làm thu hẹp dung tích hồ chứa, đẩy áp lực nước tăng lên, làm ảnh hưởng đến quá trình vận hành, điều tiết lũ; đặc biệt, là hệ thống tràn xả lũ, tiềm ẩn nguy cơ vỡ hồ.

Chất lượng hoạt động của hệ thống mái thượng lưu, tràn xả lũ của hồ chứa nước Vạn Hội sẽ bị đe dọa khi có mưa lớn, kèm theo hiện tượng sạt lở núi trong lòng hồ
Chất lượng hoạt động của hệ thống mái thượng lưu, tràn xả lũ của hồ chứa nước Vạn Hội sẽ bị đe dọa khi có mưa lớn, kèm theo hiện tượng sạt lở núi trong lòng hồ

Ông Nguyễn Hữu Khúc, Phó Chủ tịch Thường trực UBND huyện Hoài Ân, nhận xét: Tình trạng sạt lở núi trong lòng hồ Vạn Hội là đáng báo động, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn cho công trình. Trường hợp xảy ra sạt lở núi lần nữa, tôi e rằng, nhiều hạng mục hồ Vạn Hội sẽ bị hư hỏng; thậm chí, nguy cơ vỡ hồ cũng có thể xảy ra, đe dọa đến cuộc sống, tính mạng, tài sản của hàng ngàn hộ dân trên địa bàn các xã Ân Tín, Ân Thạnh hay Ân Mỹ. Để kịp thời khắc phục hiện tượng này, UBND huyện đã có văn bản gửi UBND tỉnh đề nghị tỉnh quan tâm, chỉ đạo các sở, ngành có liên quan xem xét và có giải pháp khắc phục để ngăn ngừa, giảm thiểu thiệt hại.

Lúng túng tìm cách khắc phục

Ông Nguyễn Văn Phú, Giám đốc Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi tỉnh, đánh giá: “Hiện tượng sạt lở núi trước tràn xả lũ hồ chứa nước Vạn Hội là hiện tượng chưa từng xảy ra ở công trình hồ chứa trong tỉnh. Để khắc phục hậu quả và phòng ngừa những nguy cơ tiếp theo, Công ty đã đầu tư 2 tỉ đồng để sửa chữa, nâng cấp lại các hạng mục hạ tầng, thiết bị máy móc bị hư hỏng. Đến nay, công tác này đã hoàn thành. Riêng hệ thống van côn của cống lấy nước do sử dụng lâu bị hỏng hóc, Công ty đã bỏ ra 400 triệu đồng để sửa chữa, phần việc này sẽ hoàn thành trước mùa mưa bão năm nay”.

Hiện tượng sạt lở núi trong lòng hồ chứa nước Vạn Hội ngoài ảnh hưởng tới hệ thống tiêu, thoát lũ của công trình còn đe dọa đến sinh mạng của hàng trăm hộ dân sinh sống ở hạ lưu chân đập
Hiện tượng sạt lở núi trong lòng hồ chứa nước Vạn Hội ngoài ảnh hưởng tới hệ thống tiêu, thoát lũ của công trình còn đe dọa đến sinh mạng của hàng trăm hộ dân sinh sống ở hạ lưu chân đập

Để khắc phục hiện tượng sạt lở núi, Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi tỉnh đã khảo sát, tính toán khối lượng đất, đá bị bồi lấp trong lòng hồ, báo cáo Sở NN&PTNT, UBND tỉnh cùng các đơn vị có liên quan xem xét, cho chủ trương nạo vét để trả lại dung tích cho hồ chứa. Tuy nhiên cái khó hiện nay là nguồn kinh phí chưa được đơn vị quản lý hồ tìm ra.

“Trước mắt, chúng tôi sẽ xin ý kiến của Sở NN&PTNT, UBND tỉnh để thực hiện nạo vét khối lượng đất, đá đang bồi lấp trong lòng hồ sau sự cố núi lở xảy ra cuối năm 2016. Về lâu dài, Công ty đề nghị Tổng cục Thủy lợi và các cơ quan chuyên môn có liên quan của tỉnh hỗ trợ đánh giá về mức độ ổn định của vùng trượt, lở này để có giải pháp thích hợp nhằm đảm bảo an toàn cho công trình hồ chứa và hạ du. Đồng thời, xem xét giải pháp có thể để việc điều tiết, xả lũ cửa tràn bình thường trước nguy cơ có khả năng sạt lở tiếp hay không, để từ đó có giải pháp ứng phó”, ông Phú cho hay.

Hoàng Nguyên

(TN&MT) – Ngày 13/10/2017, tại Hà Nội Uỷ ban Quốc gia về Phòng chống thiên tai, Bộ NN&PTNT phối hợp với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam tổ chức Hội nghị quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp và Tăng cường Khả năng chống chịu Nông nghiệp với Biến đổi Khí hậu ở Việt Nam. 

Phát biểu tại Hội nghị Phó Thủ tưởng Chính phủ, Trịnh Đình Dũng cho biết: Biến đổi khí hậu (BĐKH) và thiên tai đã trở thành vấn đề toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hàng tỷ người trên trái đất. Ở Việt Nam ngay tại thời điểm này, trận mua lớn nhất trong hàng chục năm qua đang gây gập lụt trên diện rộng tại các tỉnh miền Trung và miền núi phía Bắc ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất người dân. Để ứng phó với vấn đề này Việt Nam đã ưu tiên dành nhiều nguồn lực cho công tác phòng, chống thiên tai, đầu tư các công trình hạ tầng như đường giao thông, đê, kè, cầu, cống…

Hội nghị Phó thủ tưởng Chính phủ, Trịnh Đình Dũng
Hội nghị Phó thủ tưởng Chính phủ, Trịnh Đình Dũng phát biểu

Tuy nhiên, để thích ứng hiệu quả với thiên tai, phải kết hợp đồng thời nhiều giải pháp. Trong đó, ngoài việc rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật; các chiến lược quy hoạch, kế hoạch về đầu tư phát triển hạ tầng, sản xuất, phan bố dân cư; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo điều hành của cơ quan quản lý các cấp. Việt Nam còn khuyến khích các nguồn lực của doanh nghiệp và cộng đồng kết hợp với Nhà nước, đặc biệt là sự hợp tác giữa các vùng, khu vực và các quốc gia, nhất là Ngân hàng Thế giới và các tổ chức của Liên Hợp quốc đóng vay trò quan trọng trong việc hỗ trợ nâng cao nhận thức, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nguồn lực cho ứng phó và giảm thiểu rủi ro thiên tai.

Hội nghị được tổ chức đúng vào ngày quốc tế Giảm nhẹ rủi ro thiên tai 13/10. Chính vì vậy, Phó thủ tướng mong cộng đồng quốc tế sẽ tăng cường hỗ trợ các nước đang phát triển, các nước nghèo đang chịu ảnh hưởng nặng nề về thiên tai, trong đó ưu tiên hỗ trợ việc nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo, đánh giá rủ do thiên tai cũng như năng lực thể chế và quản lý điều hành phòng chống thiên tai.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

Ông Nguyễn Xuân Cường, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về PCTT, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết: Trong vòng hai thập kỷ qua, các đợt thiên tai ở Việt Nam đã làm hơn 13.000 người bị thiệt mạng và các tài sản bị thiệt hại tính ra hơn 6,4 tỉ đô-la Mỹ. Vì thế, công tác phòng, chống thiên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và được ưu tiên hàng đầu, là yếu tố quan trọng, quyết định đến quy mô, tốc độ tăng trưởng, phát  triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Tuy vậy, công tác này đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể, bên cạnh các kinh nghiệm truyền thống, cần tiếp tục phát triển các cơ sở hạ tầng thiết yếu và đặc biệt là tăng cường, phát triển các công cụ hỗ trợ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và khoa học công nghệ.

Để quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp, tăng cường khả năng chống chịu nông nghiệp với biến đổi Khí hậu, các đại biểu đã thảo luận việc phân định rõ và tập hợp trách nhiệm trong quản lý rủi ro thiên tai giữa các cơ quan và việc hình thành những hệ thống mạnh để chuẩn bị và ứng phó với thiên tai. Thực tiễn và kinh nghiệm từ các nước cho thấy việc hoạch định và thực hiện có hiệu quả phải bắt đầu từ việc có được các chính sách đúng đắn.

Huy An

(TN&MT) – Chủ trương phát triển nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường đã sớm được quan tâm ở nước ta, với các chính sách mới và sự ra đời của các phương thức canh tác nông nghiệp mới. “Nông nghiệp thông minh với khí hậu” (CSA) là một cách tiếp cận tổng hợp nhằm giải quyết những thách thức của an ninh lương thực và BĐKH cùng một lúc.

Bên lề hội thảo “Biến đổi khí hậu toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam” được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam tổ chức sáng 13/10, PGS.TS Nguyễn Bỉnh Thìn – Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ NN&PTNT) cho biết: “Ở quy mô trang trại, CSA là các thực hành canh tác mang lại các tác động tích cực cho phục hồi khi gặp phải điều kiện thời tiết cực đoan và sinh kế của hộ gia đình. Ở quy mô cảnh quan hoặc quốc gia, CSA cung cấp khung chính sách, quy hoạch sử dụng đất và giám sát đầu ra của các giải pháp can thiệp sinh kế.

CSA hướng tới 3 mục tiêu và cũng là 3 trụ cột quan trọng gồm: Tăng năng suất nông nghiệp một cách bền vững, hỗ trợ tăng trưởng đồng đều giữa thu nhập, an ninh lương thực và phát triển; Thích ứng và tăng cường khả năng phục hồi của các hệ thống sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực với BĐKH ở các cấp độ; Giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp”.

PGS.TS Nguyễn Bỉnh Thìn – Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ NN&PTNT)
PGS.TS Nguyễn Bỉnh Thìn – Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ NN&PTNT)
Một số thực hành CSA cụ thể trong trồng trọt được áp dụng tại Việt Nam như: sử dụng giống lúa ngắn ngày, điều chỉnh lịch thời vụ để hạn chế ảnh hướng của hạn, úng; mô hình lúa tôm ĐBSCL; mô hình “1 Phải, 5 Giảm” tại Nam Định; mô hình trồng cà phê xen cây ăn quả (bơ, sầu riêng); mô hình tưới khô ẩm xen kẽ trong canh tác lúa tại An Giang.

Trong chăn nuôi, các thực hành CSA được áp dụng gồm: Hầm khí sinh học trong quản lý chất thải chăn nuôi lợn; Quy trình chăn nuôi Vịt Biển; Nuôi trâu bò kết hợp trồng và chế biến cỏ nhằm bổ sung thức ăn vào mùa đông ở các tỉnh miền núi phía Bắc.

Theo PGS.TS Nguyễn Bỉnh Thìn, ngành chăn nuôi Việt Nam đang tập trung các giải pháp ứng phó với BĐKH như: ứng dụng công nghệ sinh học, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến để hướng tới nền nông nghiệp hiện đại sử dụng hiệu quả các nguồn lực tự nhiên trong chăn nuôi; chuyển dịch chăn nuôi sang những đối tượng vật nuôi có khả năng thích ứng với nhập mặn; giảm dần chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường; tổ chức sản xuất tăng liên kết theo chuỗi, sản xuất theo hướng tập trung hàng hóa có truy xuất nguồn gốc; quản lý và chủ động nguồn thức ăn, nguồn nước đảm bảo vệ sinh cho vật nuôi; quản lý và xử lý triệt để chất thải chăn nuôi; xây dựng hệ thống quản lý, kiểm soát, phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi trong điều kiện BĐKH; xây dựng và triển khai chương trình truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống thiên tai, BĐKH.

Mặt khác, những tác động của BĐKH trong sản xuất lương thực ở Việt Nam đang ảnh hưởng đến an ninh lương thực khu vực và trên thế giới. Do vậy, để ứng phó với BĐKH, cách tiếp cận hợp lý nhất là “Nông nghiệp thông minh với BĐKH”- hướng đi mới để giải quyết cùng lúc các thách thức của BĐKH đưa nền Nông nghiệp Việt Nam đến phát triển bền vững.

Tin & ảnh: Mai Đan

(TN&MT) – Tình hình mưa lũ tiếp tục diễn biến phức tạp, cho tới thời điểm hiện tại trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã có 7 người chết, 4 người mất tích, hàng nghìn ngôi nhà bị ngập lụt. Nhiều tuyến đê bao bị vỡ và sạt lở.

Tại địa bàn huyện Thường Xuân đã có 3 người chết, danh tính được xác định là anh Vi Văn Chiến (SN 1989) và con gái 2 tuổi, ngụ xã Yên Nhân; Lê Thị Hà (SN 1974), ngụ thôn Cạn, xã Bát Mọt và 3 người bị thương gồm Lương Thị Lưu (SN 1987), xã Tân Thành bị gãy tay; Hoàng Văn Hưng (SN 1977), thôn Cạn; Lữ Văn Cuộc (SN 1972), ngụ ở thôn Lẹ, xã Bát Mọt bị lũ cuốn cùng nhà nhưng may mắn được cứu sống. Cầu treo tại bản Mạ, xã Xuân Cẩm cũng bị lũ cuốn trôi.

Nước sông Lò dâng cao, bờ kè ở thị trấn Quan Sơn đã bị sạt lở mạnh.
Nước sông Lò dâng cao, bờ kè ở thị trấn Quan Sơn đã bị sạt lở mạnh.

Theo báo cáo nhanh của huyện Nông Cống cho thấy, từ chiều qua (10/10) đã 412 ngôi nhà bị ngập nước, hàng trăm ha hoa màu bị ngập úng, sập hư hỏng cống Lầm Lầm tại tuyến đê bao Tế Độ (xã Tế Nông), sạt lở đê tả sông Yên 27m, ước tổng thiệt hại gần 1,5 tỷ đồng.

Tại huyện Quan Sơn, do nước sông Lò lên cao bờ kè tại thị trấn cũng đã bị sạt lở. Mưa lũ cũng đã cuốn trôi 2 người, trong đó thi thể của 1 người đàn ông đã được tìm thấy, 1 người phụ nữ được cứu sống đang đưa đi cấp cứu.

Cầu nối làng Nhồng với làng Na Mén, xã Vạn Xuân (Thường Xuân) bị sập hoàn toàn.
Cầu nối làng Nhồng với làng Na Mén, xã Vạn Xuân (Thường Xuân) bị sập hoàn toàn.

Mực nước sông Bưởi tại Kim Tân (Thạch Thành) hồi 15h hôm nay là 12,05m, trên mức báo động III 0,05m; dự báo trong 12 giờ tới, mực nước sông Bưởi tại đây sẽ dâng cao lên 12,3 m do nước nguồn vẫn đang cuồn cuộn đổ về. Chính quyền huyện đã triển khai di dời 2.865 hộ dân sinh sống ở các vùng trũng thấp, ngoại đê đến nơi an toàn.

Các huyện Lang Chánh, Bá Thước bị ngập lụt nặng, toàn bộ hệ thống điện đã bị cắt. Các huyện Yên Định, Tĩnh Gia, Thạch Thành… ngập lụt cục bộ ở nhiều xã, nhiều địa phương bị chia cắt hoàn toàn.

Hiện trường vụ sập nhà ở bản Chiềng, xã Yên Nhân, huyện Thương Xuân làm 2 người tử vong.
Hiện trường vụ sập nhà ở bản Chiềng, xã Yên Nhân, huyện Thương Xuân làm 2 người tử vong.

Tính đến 17h ngày 11/10 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã có 11 người chết và mất tích do mưa lũ, trong đó có 7 người chết và 4 người mất tích. Ngoài ra, mưa bão đã làm 39 nhà bị thiệt hại hoàn toàn, hơn 6.000 ngôi nhà bị ngập sâu trong nước. Diện tích lúa và hoa màu cũng chịu nhiều thiệt hại sau hoàn lưu áp thấp nhiệt đới, theo đó có hơn 400 ha lúa bị ngập, 2,5 tấn lúa đã thu hoạch bị cuốn trôi. Diện tích hoa màu thiệt hại hơn 20.000 ha. Diện tích nuôi trồng thủy sản bị ngập hơn 4,7 nghìn ha. Mưa lũ cũng đã cuốn trôi hơn 1.000 con gia súc, gia cầm..

Nước lũ vẫn đang tiếp tục dâng cao ở nhiều tuyến sông.
Nước lũ vẫn đang tiếp tục dâng cao ở nhiều tuyến sông.

Ngành chức năng cũng thông báo hiện nước sông Bưởi, sông Mã, sông Chu đang lên rất nhanh, các huyện cần chủ động sẵ sàng ứng phó với lũ lụt với miền xuôi và lũ quét ở miền núi.

Tin và ảnh: Thanh Tâm

​(TN&MT) – UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa giao 36 tỷ đồng kế hoạch đầu tư vốn ngân sách trung ương năm 2017 cho các dự án thuộc Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh.

Cụ thể, giao 6 tỷ đồng thực hiện dự án trồng rừng ngập mặn ven biển các xã: Bình Phước, Bình Đông, Bình Dương, huyện Bình Sơn; 30 tỷ đồng xây dựng hệ thống đê bao nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển hạ tầng khu vực xã Tịnh Kỳ và phía Đông huyện Sơn Tịnh.

Triển khai chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH sẽ giúp Quảng Ngãi chủ động ứng phó với thiên tai
Triển khai chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH sẽ giúp Quảng Ngãi chủ động ứng phó với thiên tai

Căn cứ Kế hoạch vốn được giao này, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi có trách nhiệm triển khai dự án và đảm bảo hoàn thành kế hoạch được giao theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước. Thời gian giải ngân kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2017 thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công, Điều 46 Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ về kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm, Nghị quyết của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Biến đổi khí hậu khiến thời tiết diễn biến thất thường, gia tăng tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, gây nhiều thiệt hại đến sản xuất và sinh hoạt của người dân ở Quảng Ngãi. Triển khai chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh sẽ giúp Quảng Ngãi chủ động ứng phó với thiên tai và những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, hướng tới nền kinh tế tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.

Tin, ảnh: Lan Anh

Bài viết mới nhất