Biến đổi khí hậu

(TN&MT) – UBND tỉnh Quảng Nam vừa phê duyệt Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu thiên tai tại miền Trung, Việt Nam (giai đoạn II)”, do Tổ chức Catholic Relief Services (CRS) tài trợ.

Dự án được triển khai tại các phường Điện An, Điện Nam Trung, Điện Nam Bắc, thị xã Điện Bàn; thời gian thực hiện từ tháng 9/2017 – 9/2018. Tổng vốn viện trợ hơn 1 tỷ đồng.

Mục tiêu của dự án nhằm xây dựng và nâng cao năng lực giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu thông qua hợp tác bền vững nhằm tăng khả năng thích ứng, đảm bảo cộng đồng an toàn.

Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu thiên tai tại miền Trung, Việt Nam (giai đoạn II)”, do Tổ chức Catholic Relief Services (CRS) tài trợ với tổng vốn hơn 1 tỷ đồng
Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu thiên tai tại miền Trung, Việt Nam (giai đoạn II)”, do Tổ chức Catholic Relief Services (CRS) tài trợ với tổng vốn hơn 1 tỷ đồng

UBND tỉnh đề nghị UBND thị xã Điện Bàn chịu trách nhiệm phối hợp nhà tài trợ lập kế hoạch triển khai thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phi chính phủ nước ngoài; báo cáo kết quả viện trợ cho Sở Tài chính, UBND tỉnh và các ngành chức năng liên quan theo quy định.

Sở Ngoại vụ chịu trách nhiệm hướng dẫn UBND thị xã Điện Bàn thực hiện dự án theo đúng quy định của Nhà nước; chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng liên quan của tỉnh kiểm tra, tổng hợp tình hình tiếp nhận, quản lý và thực hiện các khoản viện trợ báo cáo UBND tỉnh.

Yến Nhi

.
.

(TN&MT) – Trong bối cảnh nguồn năng lượng hóa thạch như than, khí đang cạn dần và tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm thì phát triển NLTT là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, để phát huy lợi thế từ nguồn năng lượng này phục vụ mục tiêu phát triển bền vững vẫn đang vướng nhiều “rào cản” từ chính sách.

ảnh minh họa
ảnh minh họa

Muốn đầu tư mà …vướng!

Ông Nguyễn Viết Hùng, Phó trưởng Ban Đầu tư, Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho biết: Hiện Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị thành viên của EVN đang triển khai các bước Quy hoạch và chuẩn bị đầu tư 23 dự án điện mặt trời, tổng công suất khoảng 3.100MW. Tập đoàn đã xác định địa điểm và lập quy hoạch:04 dự án điện mặt trời, tổng công suất khoảng 575MW.

Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, đã có nhiều thay đổi về các quy định trong đầu tư xây dựng, dẫn đến những khó khăn vướng mắc khi triển khai các thủ tục xây dựng. Công tác chuẩn bị đầu tư bị chi phối bởi nhiều Luật và nhiều Nghị định, thông tư. Trong quá trình thực hiện đã xuất hiện trường hợp khác nhau về trình tự, thủ tục đầu tư cho một Dự án điện khi áp dụng các Luật khác nhau…Việc bố trí quỹ đất và công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ngày càng khó khăn, phức tạp….

Các quy hoạch NLTT/ Điện mặt trời nói riêng (trừ thuỷ điện nhỏ) mới quy hoạch về quy mô công suất theo vùng, khu vực, chưa xác định địa điểm dự án, nên khó khăn trong việc quy hoạch và phát triển đồng bộ lưới điện. Công suất phát của NLTT không ổn định, thay đổi theo cường độ gió, bức xạ mặt trời…

Xung quanh việc đầu tư cho NLTT, ông Nguyễn Hoàng Dũng – Trưởng phòng NLTT, Công ty CP Tư vấn Xây dựng điện 3 cho rằng, chi phí đầu tư cho dự án NLTT tương đối cao là thách thức để phát triển lĩnh vực này. Trong khi việc tiếp cận các nguồn vốn vay gặp nhiều khó khăn thì giá bán điện thấp khiến các nhà đầu tư không mặn mà.

Ông Dũng cũng bày tỏ: “NLTT là mảng rất mới với các doanh nghiệp Việt Nam. Dù quyết tâm, song chúng tôi còn thiếu kinh nghiệm, năng lực về kỹ thuật và tài chính. Với các chính sách hỗ trợ về năng lượng gió, năng lượng mặt trời…, nhà nước đã thể hiện rõ quyết tâm về NLTT như: Ưu đãi về thuế thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp… Tuy nhiên, đó là chính sách thực hiện sau khi dự án thành công. Hiện tại, nhà đầu tư chưa được hưởng chính sách ưu đãi nên phải tính toán, nếu có khả năng thu lợi nhuận thì mới thực hiện”.

Tại một số địa phương như Đà Nẵng việc phát triển NLTT vẫn còn những rào cản như: Thiếu cơ sở dữ liệu về tiềm năng NLTT, thông tin tản mạn nên các nhà đầu tư, kinh doanh rất khó thu thập, phân tích, đánh giá hiệu quả trước khi quyết định đầu tư; Thiếu thông tin về các mô hình sử dụng NLTT cho các loại hình kinh doanh, sản xuất và tiêu dùng. Trong khi, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước tại Trung ương và địa phương còn chưa đồng bộ…

Ông Nguyễn Phương Đông – Phó giám đốc Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh cho biết: Mặc dù có tiềm năng phát triển nguồn điện mặt trời nhưng đến nay, thành phố mới chỉ có 1 dự án đầu tư xây dựng xử lý chất thải rắn có kết hợp với thu hồi năng lượng để phát điện.

Phải thay đổi bằng nhiều cách làm mới

Việt Nam hiện đang chuyển đổi từ một nước xuất khẩu năng lượng thành nước nhập khẩu năng lượng. Để đáp ứng được mục tiêu phát triển bền vững không đánh đổi kinh tế lấy môi trường thì phát triển NLTT là một giải pháp quan trọng.

Để làm được điều này, Thứ trưởng Bộ TN&MT Võ Tuấn Nhân cho rằng phải tiếp tục hoàn thiện, tạo lập các cơ chế, chính sách để thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển các nguồn NLTT. Các địa phương cân đối, bố trí quỹ đất cho các dự án điện theo quy hoạch. Đồng thời nghiên cứu bổ sung, điều chỉnh cơ chế chính sách để thu hút các nguồn lực tham gia đầu tư phát triển NLTT…

Trong khi đó, Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho biết: Tiềm năng NLTT, đặc biệt thuỷ điện của Việt Nam vẫn còn, chúng ta phải đặt ra câu hỏi là tại sao Quốc hội đã quyết định xoá bỏ hàng trăm dự án thuỷ điện trong thời gian vừa qua? Đây có phải là lỗi của bản thân các dự án thuỷ điện hay không? “Lý do không phải là bản thân các dự án mà do cách làm, do cơ chế, chính sách và chủ trương của chúng ta thời gian qua. Một thời chúng ta cho phát triển ồ ạt các dự án thuỷ điện, không có quy hoạch nên tác động lớn đến môi trường sinh thái và hiệu quả. Vấn đề khôi phục các dự án NLTT hiện nay không phải quay lại với mô hình cũ mà phải có cách làm, có mô hình mới, bền vững hơn, an toàn hơn..” – Tiến sĩ Trần Đình Thiên nhấn mạnh.

Để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, ông Trần Viết Ngãi – Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cũng cho rằng, Chính phủ cần sớm tổ chức lập quy hoạch về phát triển năng lượng tái tạo; xác định giá trị đầu tư hợp lý cho các dự án. Ông Trần Viết Ngãi cũng đưa ra đề xuất: Nhà đầu tư trong lĩnh vực này cần được miễn, giảm thuế để tăng tính khuyến khích; tổ chức nghiên cứu tiềm năng tổng thể, giao nhiệm vụ chỉ tiêu cho các đơn vị, doanh nghiệp lớn phát triển về năng lượng như ngành điện, dầu khí, than khoáng sản…

Thái Bình

(TN&MT) – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi cho biết, Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Đặng Văn Minh vừa chủ trì việc giải quyết các vướng mắc liên quan đến Dự án trồng rừng ngập mặn ven biển các xã Bình Phước, Bình Đông, Bình Dương, huyện Bình Sơn.

Tỉnh Quảng Ngãi đã trồng mới được 41,3/65,1 ha, đạt 63,41% diện tích trồng rừng của dự án
Tỉnh Quảng Ngãi đã trồng mới được 41,3/65,1 ha, đạt 63,41% diện tích trồng rừng của dự án

Được biết, ​Dự án trên thuộc chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, triển khai thực hiện trên diện tích 91,3 ha; trong đó diện tích trồng rừng dừa nước 65,1 ha thuộc địa bàn các xã Bình Phước (45,1 ha), Bình Đông (2 ha) và Bình Trị (17,9 ha). Phần diện tích 26,1 còn lại thuộc hạng mục chăm sóc, bảo v​ệ rừng ngập mặn hiện có. Dự án do Sở Tài nguyên và Môi trường làm chủ đầu tư, có tổng vốn đầu tư 21 tỷ đồng (vốn từ Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu 19 tỷ đồng, vốn ngân sách tỉnh 2 tỷ đồng).

Sở Tài nguyên và Môi trường đã tích cực tổ chức triển khai thực hiện và đảm bảo đúng tiến độ. Đến thời điểm này, đã trồng mới được 41,3/65,1 ha, đạt 63,41% diện tích trồng rừng của dự án. Diện tích còn lại chưa thực hiện 23,8 ha hiện đang gặp phát sinh vướng mắc. Cụ thể, khu vực này trong thời gian đến là vùng tích nước của hồ chứa Cà Ninh để phục vụ cho Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất. Vì vậy, việc trồng rừng ở khu vực này là không hiệu quả.

Trên cơ sở đề xuất của Sở Tài nguyên và Môi trường, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Đặng Văn Minh thống nhất không tiếp tục trồng rừng ngập mặn đối với diện tích 23,8 ha còn lại nêu trên. Giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra soát lại Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2030; khảo sát tìm vị trí trồng mới khác phù hợp hơn; yêu cầu đảm bảo tiến độ sớm hoàn thành dự án, góp phần bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Tin & ảnh: Võ Hà

(TN&MT) – Sáng 6/10, Đoàn kiểm tra của Tổ công tác Bộ Tài nguyên và Môi trường do ông Tăng Thế Cường – Chánh Văn phòng Bộ làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Cục Biến đổi khí hậu, nhằm kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kết luận của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo Bộ và Chương trình công tác của Bộ TN&MT. Phát biểu tại buổi làm việc, ông Tăng Thế Cường cho biết Bộ trưởng ghi nhận và đánh giá cáo Cục BĐKH trong việc triển khai thực hiện tốt nhiều nhiệm vụ được giao…

Ông Tăng Thế Cường - Chánh Văn phòng Bộ - Tổ phó Tổ công tác Bộ TN&MT - Trưởng đoàn kiểm tra phát biểu tại buổi làm việc sáng 6/10
Ông Tăng Thế Cường – Chánh Văn phòng Bộ – Tổ phó Tổ công tác Bộ TN&MT – Trưởng đoàn kiểm tra phát biểu tại buổi làm việc sáng 6/10

Tham gia đoàn công tác có lãnh đạo, đại diện lãnh đạo các đơn vị: Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Pháp Chế, Vụ Kế hoạch – Tài chính, Vụ Thi đua, Khen thưởng và Tuyên truyền, Vụ Hợp tác quốc tế, Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ, Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu TN&MT, Cục Quản lý Tài nguyên nước, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu… cùng sự có mặt của ban lãnh đạo Cục BĐKH và các phòng ban, chuyên môn.

Thay mặt Cục Biến đổi khí hậu, Cục trưởng Nguyễn Văn Tuệ đã nêu tình hình thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu của Đoàn kiểm tra. Theo đó, trong 8 tháng đầu năm 2017, Cục Biến đổi khí hậu được giao 189 nhiệm vụ. Đến nay, Cục đã hoàn thành 182 nhiệm vụ. Còn lại 6 nhiệm vụ đang tiếp tục triển khai trong thời hạn được giao. 1 nhiệm vụ quá hạn là việc thực hiện văn bản của Văn phòng Chính phủ, về việc thống nhất với Bộ KHĐT và các cơ quan liên quan rà soát soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định sửa đổi bổ sung Quyết định số 2359/QQĐ-TTg, Nghị định số 97/2016/NĐ-CP và Nghị định số 35/2017/NĐ-CP. Cục đã làm việc với Tổng cục Thống kê, nhưng do nội dung công việc vượt quá thẩm quyền quyết định của 2 đơn vị, nên 2 bên đang xin ý kiến lãnh đạo Bộ để có cơ sở tiếp tục triển khai thực hiện.

Quá trình triển khai các nhiệm vụ, lãnh đạo Bộ đã chú trọng chỉ đạo, điều hành thực hiện đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng, tích cực kiểm tra, giám sát và công ông rõ trách nhiệm đến từng đơn vị trực thuộc. Trong số các nhiệm vụ có 14 nhiệm vụ, chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo Chương trình công tác của Bộ TN&MT năm 2016 và 2017 đều đã được hoàn thành. Lãnh đạo Cục xác định đây là vấn đề trọng tâm theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ và luôn chỉ đạo các đơn vị bám sát các công việc theo Chương trình công tác năm của Cục.

Cục trưởng Nguyễn Văn Tuệ cũng chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, đó là thiếu cán bộ làm việc tại nhiều bộ phận như Ban điều phối Chương trình SP-RCC, Văn phòng UBQG về BĐKH, Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế… Vì đang trong quá trình hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chia tách lĩnh vực khí tượng thủy văn sang Tổng cục Khí tượng thủy văn nên quá trình triển khai các nhiệm vụ có một số đơn vị gặp vướng mắc. Một số nhiệm vụ lớn cần thời gian để phối hợp với nhiều đơn vị, nhưng thời hạn xử lý Bộ đã giao ngắn. Bởi vậy, Cục kiến nghị với Bộ xem xét, giao thời hạn hợp lý để Cục chỉ đạo hoàn thành đúng thời hạn. Đồng thời, xem xét kiện toàn Văn phòng UBQG về BĐKH theo Đề án đã trình.

Ông Nguyễn Văn Tuệ - Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu phát biểu tại buổi làm việc
Ông Nguyễn Văn Tuệ – Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu phát biểu tại buổi làm việc

Tại buổi làm việc, lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Cục Biến Đổi khí hậu đã phát biểu làm rõ thêm báo cáo mà Cục trưởng trình bày. Tiếp đến, các thành viên tổ công tác đã góp ý, bổ sung những ý kiến để Cục Biến đổi khí hậu hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ được giao trong thời gian tới.

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Tăng Thế Cường – Chánh Văn phòng Bộ – Tổ phó Tổ công tác, Trưởng Đoàn kiểm tra đã thông báo ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Trần Hồng Hà với Cục Biến đổi khí hậu. “Bộ trưởng biểu dương và đánh giá cao sự nỗ lực và kết quả đạt được của tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức của Cục Biến đổi khí hậu” – ông Tăng Thế Cường thông tin.

Theo đó, so với các lĩnh vực khác, Cục Biến đổi khí hậu là đơn vị, lĩnh vực mới được thành lập thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu, trước đây là khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu. Tuy mới được thành lập, song trong thời gian qua Cục đã triển khai thực hiện tốt nhiều nhiệm vụ được giao như:

Triển khai thực hiện tốt Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), như: xây dựng báo cáo đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định (INDC) của Việt Nam và đã được Chính phủ phê duyệt trình UNFCCC; xây dựng Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris và đã được Chính phủ phê duyệt cho triển khai thực hiện; xây dựng các Thông báo quốc gia của Việt Nam trình UNFCCC.

Về công tác hợp tác quốc tế, đã hợp tác chặt chẽ với UNDP trong dự án thực hiện Chiến lược quốc gia về BĐKH; hợp tác với JICA trong dự án SPI-NAMA; hợp tác với JICA, Phaspo, WB… trong Chương trình SP-RCC; hợp tác với UNEP trong dự án thực hiện UNFCCC.

Về công tác quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu: Cục đã làm đầu mối xây dựng Luật khí tượng thủy văn, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật. Xây dựng và triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về BĐKH, Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH; Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh. Tham mưu hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH…

Toàn cảnh buổi làm việc sáng 6/10
Toàn cảnh buổi làm việc sáng 6/10

Về những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới, Bộ trưởng đặt ra 6 nhiệm vụ trọng tâm và 5 giải pháp yêu cầu Lãnh đạo Cục tập trung triển khai thực hiện, cụ thể:

Thứ nhất, chú trọng xây dựng và hoàn thiện các quy định cơ chế, chính sách, pháp luật về biến đổi khí hậu, tiến tới xây dựng Luật biến đổi khí hậu (trong giai đoạn sau năm 2020) nhằm nâng cao vị trí, vai trò trong quản lý, điều phối các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; huy động được các nguồn lực xã hội cho các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu: khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án thích ứng; trước mắt các doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ để giảm phát thải khí nhà kính, về lâu dài có chế tài để thực hiện. Chú trọng phát triển thị trường trao đổi tín chỉ các-bon trong nước và tham gia thị trường các-bon toàn cầu.

Thứ hai, chủ động tham mưu cho Bộ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định những quyết sách lớn; rà soát, bổ sung và hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ về ứng phó với biến đổi khí hậu đảm bảo hài hòa với quy định của toàn cầu, đảm bảo tính liên ngành, liên vùng. Trong đó, tập trung vào các khu vực có nguy cơ chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu như Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Phát huy vai trò, trách nhiệm của bộ quản lý chuyên ngành trong việc huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ ba, Việt Nam đã tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto và đặc biệt là Thỏa thuận Paris 2015 về biến đổi khí hậu, theo đó đến năm 2020 xoá bỏ các cơ chế, chính sách hỗ trợ giá đối với nhiên liệu hoá thạch và Việt Nam đã cam kết đến năm 2030 giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính và 25% lượng phát thải khí nhà kính nếu có hỗ trợ của quốc tế. Vì vậy, Cục cần tập trung tham mưu cho Bộ đề xuất với Chính phủ giao các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện các hành động cụ thể. Trước mắt, cần nghiên cứu đánh giá được thực trạng phát thải khí nhà kính của Việt Nam phục vụ việc hoạch định các cơ chế, chính sách và hành động giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam, tham gia vào nỗ lực chung của toàn cầu; đồng thời, xây dựng được hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) các nỗ lực giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và hệ thống MRV cho các hoạt động thích ứng với BĐKH.

Thứ tư, tham mưu cho Bộ trong việc đề xuất với Chính phủ kiện toàn tổ chức, bộ máy ở các Bộ, ngành có liên quan, có đầu mối quản lý các hoạt động về BĐKH; rà soát chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban quốc gia về BĐKH để đề xuất phương án hoàn thiện, đổi mới hoạt động và xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể của Ủy ban quốc gia về BĐKH, nâng cao vai trò điều phối giúp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; phát huy vai trò của Hội đồng tư vấn để làm tốt công tác tham mưu, phản biện các chủ trương, đề xuất ứng phó với BĐKH; xây dựng bộ tiêu chí giúp Ủy ban quốc gia về BĐKH giám sát việc thực hiện các hoạt động ứng phó với BĐKH trên phạm vi toàn quốc.

5 giải pháp thực hiện các nhiệm vụ của Cục Biến đổi khí hậu

1. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo, điều hành; Lãnh đạo đơn vị cần có chương trình công tác cụ thể theo tháng, quý, năm; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị, cán bộ, công chức đảm bảo mỗi nhiệm vụ đều có người chịu trách nhiệm chính. Đồng thời có cơ chế theo dõi, đánh giá, giám sát đối với từng nhiệm vụ làm cơ sở đánh giá cán bộ, công chức, đề bạt, bổ nhiệm và khen thưởng.

2. Xây dựng kế hoạch theo dõi, giám sát cụ thể đối với các nhiệm vụ dự án thuộc Chương trình mục tiêu về biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, Chương trình Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC). Tăng cường quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước đảm bảo hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm theo hướng ưu tiên các nhiệm vụ cấp bách, không hối tiếc cho  ứng phó với biến đổi khí hậu.

3. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý điều hành công việc. Đẩy mạnh việc triển khai dịch vụ công trực tuyến đối với tất cả các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Cục.

4. Phối hợp chặt chẽ với Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu và các đơn vị khác có liên quan như: Tổng cục Môi trường Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Cục Viễn tham quốc gia, Cục Quản lý tài nguyên nước, Cục Công nghệ thông tin và Dự liệu tài nguyên môi trường, trong quá trình triển khai nhiệm vụ được giao nhằm nâng cao hiệu quả.

5. Chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng được đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ và ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu về đàm phán quốc tế về biến đổi khí hậu hiện nay và trong những năm tới.

Thứ năm, Cục cần tham mưu cho Bộ trong việc thúc đẩy hợp tác với các đối tác truyền thống, đối tác tiềm năng để huy động được nguồn lực tài chính, công nghệ cho các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Trước mắt, cần rà soát các Chương trình, khuôn khổ hợp tác hiện có như SP-RCC, JCM, CDM, các “Hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia – NAMA” đề xuất bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế trong nước và quốc tế. Về đàm phán triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris, Cục cần tham mưu cho Bộ để huy động sự tham gia của các đơn vị có liên quan trong và ngoài Bộ để xây dựng các phương án đàm phán khả thi, đảm bảo lợi ích của Việt Nam trong quá trình đàm phán; xây dựng đội ngũ cán bộ đàm phán đủ năng lực, có chuyên môn để từng bước tham gia vào các tiểu ban về BĐKH của Liên hợp quốc.

Thứ sáu, một số nhiệm vụ trước mắt cần tập trung: i) Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Đề án Đoàn Việt Nam tham dự COP23 tại Cộng hòa liên bang Đức năm 2017 và cho giai đoạn 2017-2020; ii) Đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị Kế hoạch thích ứng quốc gia (NAP); iii) Xây dựng quy chế quản lý NAMA và hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương trong xây dựng và thực hiện NAMA; iv) Nâng cao vai trò hơn nữa trong các kế hoạch thích ứng với BĐKH ở Đồng bằng sông Cửu Long; v) Tăng cường hướng dẫn, nâng cao năng lực quản lý nhà nước cho các Bộ, ngành và địa phương về BĐKH, phối hợp chặt chẽ với các Sở Tài nguyên và Môi trường để hướng dẫn thực hiện công tác quản lý nhà nước về BĐKH, nhằm nâng cao vai trò tham mưu của Sở Tài nguyên và Môi trường ở các địa phương; vi) Nghiên cứu tác động của các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đối với kinh tế – xã hội của đất nước; vii) Tập trung nghiên cứu, phân tích xu thế của thế giới để tham mưu cho Bộ về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, các cơ hội và thách thức; vấn đề thị trường Carbon, phân bổ chỉ tiêu giảm phát thải đối với các ngành, lĩnh vực; viii) Tham mưu cho Bộ về việc kiện toàn các Văn phòng thường trực của Ủy ban quốc gia về BĐKH, Văn phòng Ban chỉ đạo thực hiện UNFCCC và Nghị định thư Kyoto, Văn phòng Ôzôn, Nhóm công tác về JCM với Nhật…

Ông Tăng Thế Cường cũng nêu 5 giải pháp mà Bộ trưởng giao Cục Biến đổi khí hậu nhằm thực hiện tốt các giải pháp trên.

Kết luận cuộc họp, ông Tăng Thế Cường đề nghị Cục Biến đổi khí hậu phát huy hơn nữa sức làm việc sáng tạo của từng cá nhân, đơn vị. Đồng thời Cục Biến đổi khí hậu cần liên tục đẩy mạnh việc phối hợp với các đơn vị trực thuộc Bộ, có sự trao đổi định kỳ hàng tháng nhằm hoàn thành tốt hơn công tác tham mưu giúp lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo Bộ trong lĩnh vực biến đổi khí hậu mà mình phú trách.

Việt Hùng – Khánh Ly

.
.

(TN&MT) – Nhằm hạn chế xói lở, đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão 2017 cho những đoạn xung yếu ở bờ sông khu vực Cửa Lở, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, UBND tỉnh Quảng Nam đã yêu cầu các sở, ngành liên quan và UBND huyện Núi Thành, UBND các xã: Tam Hải, Tam Tiến tiến hành việc nạo vét luồng, bãi cạn và xây dựng kè chống xói lở bờ sông.

Nhằm hạn chế xói lở, đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão 2017 cho bờ sông khu vực Cửa Lở, xã Tam Hải, tỉnh Quảng Nam đã yêu cầu tiến hành  nạo vét luồng, bãi cạn và xây dựng kè chống xói lở bờ sông
Nhằm hạn chế xói lở, đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão 2017 cho bờ sông khu vực Cửa Lở, xã Tam Hải, tỉnh Quảng Nam đã yêu cầu tiến hành nạo vét luồng, bãi cạn và xây dựng kè chống xói lở bờ sông

Cụ thể, tỉnh Quảng Nam yêu cầu Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và PTNT phối hợp với Công ty TNHH Đại Dương Xanh tiếp thu các kiến nghị của chính quyền và nhân dân địa phương, khẩn trương hoàn chỉnh báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án xây dựng Kè cứng chống xói lở bờ sông khu vực Cửa Lở và làm rõ nguồn vốn thực hiện dự án, gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thẩm định, tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh quyết định và lập các hồ sơ, thủ tục tiếp theo theo đúng quy định để triển khai thực hiện đồng thời với dự án nạo vét khu vực Cửa Lở, tạo sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân trong vùng.

Đồng thời, tỉnh Quảng Nam đồng ý việc đề nghị thi công kè mềm tạm thời những đoạn xung yếu ở bờ sông phía Nam khu vực Cửa Lở để hạn chế xói lở trong mùa mưa bão năm 2017. Giao Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và PTNT tỉnh và Sở Giao thông vận tải làm việc cụ thể với UBND huyện Núi Thành, UBND xã Tam Hải và nhân dân địa phương để thống nhất phương án triển khai phù hợp với dự án nạo vét luồng, bãi cạn khu vực Cửa Lở, xã Tam Hải.

Tin & ảnh: Yến Nhi

(TN&MT) – Dự án Thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Quảng Nam đã được UBDN tỉnh Quảng Nam phê duyệt quyết định cho thực hiện với dự toán kinh phí 2 tỷ đồng.

Mục tiêu của Dự án nhằm tăng cường năng lực quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó biến đổi khí hậu...
Mục tiêu của Dự án nhằm tăng cường năng lực quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó biến đổi khí hậu…

Mục tiêu của Dự án nhằm tăng cường năng lực quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng, hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân có liên quan, phục vụ phát triển bền vững kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển, đảm bảo an ninh quốc phòng vùng ven biển.

UBND tỉnh  Quảng Nam giao Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) chủ trì, bước đầu lập danh mục các khu vực phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển; xác định chiều rộng, ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển.

Đồng thời đề nghị Sở TN&MT thực hiện Dự án Thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Quảng Nam theo đúng quy định hiện hành; quản lý, sử dụng kinh phí đúng mục đích, đúng chế độ tài chính hiện hành và quyết toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh phí cho Sở TN&MT để thực hiện Dự án nêu trên theo quy định.

Tin, ảnh: Yến Nhi

(TN&MT) – Ngày 5/10, tại Hà Nội, Nhóm công tác về biến đổi khí hậu (CCWG) đã tổ chức hội thảo quốc tế “Hướng tới COP23: Tham vọng lớn hơn cho nhiệt độ toàn cầu tăng dưới 2 độ C hoặc 1,5 độ C”. Hội thảo nhằm cập nhật lộ trình rà soát Đóng góp do Quốc gia tự Quyết định (NDC) và Kế hoạch thích ứng quốc gia (NAP), đồng thời trao đổi về các đóng góp cần thiết của các tổ chức xã hội dân sự vào quá trình triển khai Thỏa thuận Paris tại Việt Nam.

Phó Cục trưởng Cục BĐKH Phạm Văn tấn phát biểu tại hội thảo
Phó Cục trưởng Cục BĐKH Phạm Văn Tấn phát biểu tại Hội thảo

Hội thảo diễn ra trước thời điểm Hội nghị “Các bên tham gia Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu” lần thứ 23 (COP 23) năm nay sẽ được tổ chức từ ngày 6 – 18/11/2017. Theo ông Phạm Văn Tấn, Phó Cục trưởng Cục BĐKH (Bộ TN&MT), đến nay, đã có 166 nước phê duyệt Thỏa thuận Paris. Các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các cam kết trong Đóng góp do quốc gia tự thực hiện (NDC) từ 2021 trở đi. Từ nay đến 2020, các bên tập trung rà soát, so sánh mức độ cam kết của các quốc gia với nhau, chuẩn bị đánh giá nỗ lực toàn cầu tại COP 24 vào năm 2018.

Một trong những kì vọng vào năm 2018 là nâng được mức cam kết đóng góp giảm phát thải của tất cả các quốc gia trên thế giới, nhằm giữ mức tăng nhiệt độ Trái đất dưới 2 độ C hoặc 1,5 độ C. Bởi nếu hiện thực hóa tất cả các NDC, mức tăng nhiệt độ Trái đất đến cuối thế kỉ này vẫn vượt quá 2 độ C.

bà Vũ Minh Hải, Trưởng nhóm CCWG phát biểu tại hội thảo
Bà Vũ Minh Hải, Trưởng nhóm CCWG phát biểu tại Hội thảo

Ông Tấn cũng thông tin, COP 23 là hội nghị hết sức quan trọng. Trong bối cảnh thiên tai ngày càng gia tăng và gây thiệt hại nghiêm trọng, tình hình quốc tế lại có nhiều trở ngại liên quan đến nỗ lực ứng phó BĐKH, hội nghị kỳ vọng có thể duy trì, phát huy tinh thần hợp tác, nỗ lực của tất cả các quốc gia và có bước đột phá trong thảo luận. Từ đó, cụ thể hóa việc triển khai các nội dung chi tiết hơn của Thỏa thuận Paris và Công ước khung LHQ về BĐKH, những vấn đề trong quá trình đánh giá nỗ lực toàn cầu.

Việt Nam là một trong những nước đang phát triển đầu tiên phê duyệt Thỏa thuận Paris. Chính phủ cũng tổ chức nhiều hoạt động để triển khai Thỏa thuận. Trong tháng 7, tháng 8 vừa qua, Bộ TN&MT đã tổ chức Hội nghị Triển khai Thỏa thuận Paris tại 3 miền với sự tham gia của đại diện 63 tỉnh, thành. Qua đó, thống nhất và làm rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, doanh nghiệp, tổ chức cá nhân trong triển khai các cam kết của Việt Nam đã nêu trong NDC. Tại COP 23, Việt Nam sẽ chia sẻ kinh nghiệm cũng như khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai với bạn bè quốc tế.

Đại diện các tổ chức quốc tế tham dự hội thảo
Đại diện các tổ chức quốc tế tham dự hội thảo

Tại hội thảo, bà Vũ Minh Hải, Trưởng nhóm CCWG và Quản lý chương trình về Nâng cao năng lực ứng phó của Oxfam tại Việt Nam chia sẻ các Bản tuyên bố lập trường của CCWWG về các vấn đề đồng lợi ích, giảm nhẹ BĐKH, kế hoạch thích ứng quốc gia. Theo kịch bản đồng lợi ích, thiết kế các chương trình lồng ghép cả thích ứng và giảm thiểu sẽ giúp đem lại những đồng lợi ích về môi trường và tạo sinh kế bền vững cho người dân. Bản tuyên bố cũng đề xuất, quá trình rà soát và đánh giá cần có sự tham gia của mọi thành phần, thúc đẩy các sáng kiến lồng ghép thích ứng – giảm thiểu, phát triển lấy con người làm trung tâm trong Kế hoạch Thích ứng Quốc gia; Thiết lập các quỹ thực hiện và tập trung hơn vào hoạt động giám sát và đánh giá (M&E). Bên cạnh đó, ưu tiên xây dựng năng lực cho cơ quan quản lý cấp địa phương.

Trong quá trình cập nhật đánh giá, các tổ chức phi chính phủ có thể cung cấp các kết quả nghiên cứu liên quan hoặc hỗ trợ thực hiện các nghiên cứu mới, góp ý về phương pháp, nội dung và kết quả phản biện về các lợi ích/tác động KT-XH của các đóng góp… Các đại biểu tham gia hội thảo đã có buổi trao đổi, thảo luận về những vướng mắc trong quá trình triển khai Thỏa thuận Paris, lộ trình cập nhật NDC của Việt Nam, những giaiar pahsp nhằm giữ nhiệt độ toàn cầu không tăng quá 1,5 độ C…

Khánh Ly

(TN&MT) – Để tăng cường hiệu quả của công tác dự báo, cảnh báo lũ quét và sạt lở đất, cần ưu tiên thực hiện các hoạt động đo mưa, cắm mốc cảnh báo và xây dựng bản đồ nguy cơ lũ quét, sạt lở đất chi tiết hơn. Đó là nhận định của ông Hoàng Văn Thắng, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT – Phó trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTT tại hội thảo “Thảm hoạ thiên tai – lũ ống, lũ quét và các giải pháp phòng ngừa, ứng phó”, do Bộ NN&PTTN phối hợp với Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản tổ chức sáng nay (3/10), tại Hà Nội.

 Gia tăng lũ quét, sạt lở đất

Theo Tổng cục Trưởng Tổng cục Phòng chống thiên tai (Bộ NN&PTNT) Trần Quang Hoài, hiện tượng lũ quét, sạt lở đất có xu thế tăng rõ rệt những năm gần đây, đặc biệt là khu vực miền núi phía Bắc. Năm 2014 có khoảng 30 trận lũ quét sạt đất xảy ra, tăng gần gấp 3 lần so với năm 2013. Năm 2016 cũng đã xảy ra 29 trận, làm 31 người thiệt mạng.

Số người thiệt mạng do loại hình thiên tai này trong năm 2017 đến nay đã tăng lên 49 người. Riêng đợt lũ quét và sạt lở xảy ra tại 4 tỉnh Sơn La, Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu hồi đầu tháng 8/2017 đã làm 47 người thiệt mạng và mất tích; làm đổ sập và cuốn trôi 239 ngôi nhà, tổng thiệt hại lên tới 1.400 tỷ đồng.

Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Linh Ngọc phát biểu tại hội thảo
Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Linh Ngọc phát biểu tại hội thảo

Về công tác cảnh báo, dự báo, các đơn vị dự báo đã tăng cường bản tin dự báo, cảnh báo đến cấp huyện. Tính đến tháng 9/2017, có 79 trạm đo mưa chuyên dùng thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc đến Hà Tĩnh được xây dựng. Tuy nhiên, độ chính xác của bản tin dự báo, cảnh báo còn hạn chế, phạm vi cảnh báo rộng và số lượng các trạm đo chuyên dùng còn rất ít, mật độ thưa. Việc truyền tin từ xã đến người dân gặp nhiều khó khăn, nhiều nơi chưa thực hiện truyền tin xuống cộng đồng do không có hệ thống truyền tin dưới cơ sở.

Về vấn đề trượt lở, Bộ TN&MT đã triển khai đề án Chính phủ về “Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam”. Theo đó, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản (Viện ĐCKS) phối hợp với Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã thành lập bản đồ hiện trạng trượt lở đất đá trên 15 tỉnh miền núi phía Bắc.

Đề án cũng đã hoàn thành công tác lập bản đồ phân vùng cảnh báo tỷ lệ 1:50.000 cho 4 tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, Lào Cai và Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La. Năm 2017, tiếp tục  lập bản đồ cho các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng và Bắc Kạn. Tuy vậy, tồn tại hiện nay là tỷ lệ bản đồ quá nhỏ không thể hiện rõ, ngoài ra, chưa cảnh báo được vùng nguy cơ cao khi có tình huống mưa lớn, mới chỉ cảnh báo trên diện rộng.

Ông Junichiro Kurokawa, Cục trưởng Cục Quản lý sông ngòi và Phòng chống thiên tai Nhật Bản phát biểu tại hội thảo
Ông Junichiro Kurokawa, Cục trưởng Cục Quản lý sông ngòi và Phòng chống thiên tai Nhật Bản phát biểu tại hội thảo

Theo ông Trần Quang Hoài, đã có 18 tỉnh triển khai đánh giá nhanh về chỗ ở an toàn khu vực miền núi. Theo kết quả khảo sát của 12 tỉnh đã có báo cáo, khoảng hơn 36.000 hộ có chỗ ở kém an toàn với trượt lở, lũ quét; 1.686 hộ cần di dời khẩn cấp. Số lượng hộ cần di dời khẩn cấp lớn nhưng đang rất thiếu kinh phí để triển khai.

Cần chú trọng công tác cảnh báo, dự báo

Đứng từ góc độ địa phương, đại diện UBND tỉnh Sơn La cho biết: lũ quét, sạt lở xảy ra bất ngờ, bất thường, bất kỳ, xảy ra nhanh và thường vào ban đêm. Bởi vậy, rất khó dự báo, khó xác định và đúc kết kinh nghiệm để chủ động, chuẩn bị ứng phó. Mặc dù mạng lưới các trạm khí tượng htuyr văn quốc gia, các trạm đo mưa đã phục vụ tốt  trên các lưu vực sống, suối chính (sông Đà, sông Mã, Nậm La, Nậm Pàn, suối Tắc) nhưng lượng mưa lớn bất thường, cục bộ có thể xảy ra ở mọi địa điểm nên rất khó dự báo, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa, vùng cao, vùng nông thôn dân cư sinh sống ven suối, khe hẹp. Đây cũng là khó khăn chung của nhiều địa phương.

Toànc ảnh hội thảo
Toàn cảnh hội thảo

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Linh Ngọc khẳng định, với vai trò là thành viên Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai, phía Bộ TN&MT sẽ tiếp tục tăng cường công tác dự báo sớm diễn biến thiên tai, thời tiết bất thường. Đặc biệt là xây dựng các trạm quan trắc, trạm cảnh báo, tìm kiếm những mô hình cảnh báo sớm để giúp người dân.  Luật KTTV cũng đã có quy định các chủ hồ chứa bắt buộc phải xây dựng trạm quan trắc, cung cấp thêm số liệu để phục vụ công tác dự báo.

Về bản đồ cảnh báo trượt lở đất đá, các địa phương trong quá trình sử dụng có vướng mắc đều có thể phản hồi lại với Bộ TN&MT, phục vụ công tác chi tiết hóa bản đồ hơn nữa. Thứ trưởng cũng đề nghị các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức cho người dân đang sống trong vùng nguy hiểm, chủ động các biện pháp tự cứu mình khi có lũ quét, sạt lở đất bất ngờ xảy ra. Điều này rất quan trọng bởi thiên tai, đặc biệt là lũ quét và sạt lở đất đều xảy ra bất ngờ trong thời gian rất ngắn.

Đồng quan điểm, ông Junichiro Kurokawa, Cục trưởng Cục Quản lý sông ngòi và Phòng chống thiên tai Nhật Bản cho rằng, giải pháp quan trọng là từng bước nâng cao ý thức người dân. Đây là kinh nghiệm Nhật Bản rút ra trong phòng chống thiên tai nói chung, lũ quét, sạt lở đất nói riêng. Cần liên tục đầu tư các cơ sở phòng chống thiên tai. Bên cạnh đó, tích lũy thông tin về mực nước sông ngòi, các công trình đập đưa vào vận dụng vào hoạt động cảnh báo sớm.

Mô hình cảnh bão lũ quét được giới thiệu tại hội thảo
Mô hình cảnh bão lũ quét được giới thiệu tại hội thảo

Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hoàng Văn Thắng, để khắc phục lâu dài những tồn tại trong công tác phòng chống thiên tai, đòi hỏi sự vào cuộc của nhiều cấp, ngành, địa phương; cần phải có một cơ chế phối hợp giữa Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai và uỷ ban dân tộc miền núi, ban chỉ đạo Tây Bắc trong PCTT, đặc biệt là phòng, chống lũ quét, sạt lở đất. Bên cạnh đó, cần gắn liền với việc cơ cấu lại nơi ở, kết hợp sinh kế bền vững gắn với bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại một số khu vực trọng yếu.

Các giải pháp cần ưu tiên là tăng cường công tác dự báo, cảnh báo; xây dựng bản đồ nguy cơ lũ quét, sạt lở đất với tỉ lệ chi tiết, xác định được các ví trị tiềm năng xảy ra nguy cơ. Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đưa thông tin kịp thời tới vùng sâu, vùng xa (thôn bản). Các địa phương cần có chính sách định canh, chuyển đổi phát triển kinh tế vùng miền núi nhằm giảm phá rừng; di dời dân cư phòng tránh thiên tai. Ngoài ra, công tác đào tạo và tăng cường nhận thức cho chính quyền các cấp và lấy người dân làm trung tâm. Có chương trình phòng chống thiên tai tổng thể cho khu vực miền núi.

“Để thực hiện được điều này, chúng ta cần hết sức quan tâm đến sự kết hợp giữa nhà nước và khối tư nhân, đặc biệt phải xác định khoa học công nghệ là hoạt động cấp thiết, hàng đầu trong việc nhận diện và ngăn ngừa được các chuyển biến bất lợi của thiên tai”, Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng khẳng định.

Khánh Ly

(TN&MT) – Từ ngày 29/9 đến 1/10, tại TP. Huế đã diễn ra khóa học mùa hè lần thứ nhất về “Bảo vệ khí hậu, biến đổi khí hậu và những hệ quả ở miền Trung Việt Nam”.

Tham gia khóa học có 30 học viên là những nhà nghiên cứu, nhà khoa học trẻ đến từ các trường đại học, trung tâm, viện nghiên cứu về môi trường ở miền Trung.

Khóa học do Viện nghiên cứu khoa học miền Trung phối hợp với Viện Độc lập các vấn đề về môi trường Berlin, CHLB Đức tổ chức.

Khóa học mùa hè lần thứ nhất về “Bảo vệ khí hậu, biến đổi khí hậu và những hệ quả ở miền Trung Việt Nam” vừa diễn ra tại Huế
Khóa học mùa hè lần thứ nhất về “Bảo vệ khí hậu, biến đổi khí hậu và những hệ quả ở miền Trung Việt Nam” vừa diễn ra tại Huế

Các học viên đã được các chuyên gia đến từ Đức, Mỹ, Thái Lan cung cấp những kiến thức, thông tin về: Biến đổi khí hậu – các nguyên nhân, hệ quả và rủi ro đối với Đông Nam Á và thế giới; xác định đóng góp quốc gia dự tính của Việt Nam để ứng phó với biến đổi khí hậu; nước biển dâng toàn cầu và những hệ quả của nó đối với miền Trung Việt Nam; cây năng lượng ở Việt Nam và các tiềm năng về khí hậu…

Khóa học nhằm tạo ra cầu nối về hợp tác quốc tế trong nghiên cứu biến đổi khí hậu với các viện, trường đại học, các cơ quan và cá nhân để thúc đẩy tiến trình thích ứng với biến đổi khí hậu ở miền Trung. Đồng thời, cung cấp kiến thức mới nhất về biến đổi khí hậu cho các bạn trẻ, từ đó giúp cho thế hệ trẻ của miền Trung có chiến lược ứng phó tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Tiến sĩ Michael Zschiesche – Viện trưởng Viện Độc lập các vấn đề về môi trường (Berlin, Đức) cho biết: “Giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu là việc cần làm ngay. Mục tiêu của khóa học là kết nối các nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực môi trường để cùng tìm ra những hành động tích cực nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường, đồng thời đưa những kết quả khoa học nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn…”.

Tin, ảnh: Văn Dinh

(TN&MT) – Mưa to kéo dài suốt 5 ngày (từ 28-9 đến 2-10) khiến nhiều khu vực nuôi trồng ở các huyện Xuyên Mộc, Châu Đức, Đất Đỏ, TP. Bà Rịa… (thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) bị ngập sâu, gây thiệt hại nặng cho bà con nông dân. Hiện nay, các hộ dân khu vực này đang đứng ngồi không yên khi nước vẫn còn đang có nguy cơ dâng cao do mưa vẫn chưa ngớt, triều cường kết hợp với các đập thủy lợi đang tiến hành xả lũ.

NHIỀU VÙNG NUÔI, TRỒNG MẤT TRẮNG

Theo ước tính sơ bộ của Chi cục Thủy lợi tỉnh, tính đến 18 giờ ngày 2-10, có khoảng có 47 ha đùng nuôi tôm, cua ở ấp Ông Tô (xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc) bị nước tràn bờ; 150 vừa gieo sạ được khoảng 2 tuần và 40 ha lúa chuẩn bị thu hoạch ở 2 ấp Xóm Rẫy và Gò Cà (xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc) bị ngập trắng. Ngoài ra, còn có khoảng 106 ha trồng lúa ở phường Phước Hưng; xã Hòa Long, xã Tân Hưng (TP. Bà Rịa) cũng chìm trong biển nước.

Có mặt tại ấp Ông Tô, xã Phước Thuận lúc 10 giờ ngày 2-10, nước từ đập sông Kinh vẫn tiếp tục tràn về với lưu lượng khá lớn, cộng thêm triều cường, gây ngập nhiều đùng nuôi tôm và rất nhiều ruộng lúa. Đến 11 giờ ngày 2-10, trời vẫn tiếp tục mưa to. Con đường đất nhỏ dẫn vào đùng nuôi tôm của gia đình anh Nguyễn Đăng Ninh (ấp ông Tô, xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc) hai bên nước mênh mông, trắng lóa. Anh Ninh cho biết, anh nuôi 7 ao tôm, diện tích mỗi ao khoảng 5.000m2. Tôm đã được 50 ngày kể từ ngày thả con giống, chỉ còn 2 tuần nữa là có thể thu hoạch được. Nhưng 4 ngày nay (từ 29-9 đến 2-10) trời mưa to, sức khỏe của tôm đã yếu dần. Một số ao tôm tràn ra ngoài, đi mất. “Chúng tôi đang thực hiện các giải pháp như tạt vôi, chạy oxy chống sốc cho tôm… nhưng sức khỏe của tôm vẫn không được cải thiện. Để vớt vát, chúng tôi phải gọi thương lại đến thu mua. Tuy nhiên, thời điểm này chúng tôi không định được giá tôm, thương lái mua bao nhiêu phải chịu bấy nhiêu. Còn một ít tôm ở đùng gần chòi, tôi đã cho bủa lưới để giữ tôm lại hồ. Nhưng trời vẫn tiếp tục mưa như thế này thì tôm chết hết. Ước thiệt hại, mỗi ao tôm khoảng 500 triệu đồng. Như vậy, với tình hình này tôi có thể trắng tay với 7 ao tôm (tương đương 3,5 tỷ đồng)”, anh Ninh nói.

Ông Thái Văn Long (ấp Ông Tô, xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc) cho biết, từ 10 giờ sáng ngày 2-10, nước từ thượng nguồn đập Sông Kinh chảy về khiến toàn bộ diện tích ao của ông ngập trong nước. Do lượng nước dâng quá nhanh, ông Long không thể dùng lưới để kéo thu hoạch tôm mà chỉ có thể  với mức nước hiện tại ông chỉ có thể dùng phương pháp đặt nò để thu hoạch dùng nò để bắt tôm, hi vọng cứu phần nào thiệt hại, hiện chỉ mới “Tôm trong ao nuôi hầu hết đều đã đến giai đoạn thu hoạch, dự kiến trung bình mỗi ao tôi sẽ thu được khoảng 2 tấn, tính đến thời điểm bị ngập gia đình đã chi hơn 500 triệu đồng tiền giống, thức ăn và công chăm sóc”, ông Long chia sẻ.

Không riêng gì diện tích nuôi tôm bị ngập mà hiện nay tại khu vực xã Phước Thuận 40ha lúa đang cho thu hoạch và 200ha lúa mới gieo khoảng nửa tháng đến 1 tháng bị ngập trắng đồng. Nguy cơ, khi nước rút lúa sẽ bị hư hỏng hết do ngâm trong nước.

BẢO VỆ CÁC CÔNG TRÌNH CHỨA NƯỚC

Theo ghi nhận của phóng viên, đến 16 giờ ngày 2-10, mực nước tại các ao nuôi tôm vẫn chưa có dấu hiệu rút. Nhiều hộ dân nuôi trồng thủy sản trong khu vực này đang huy động lực lượng để đắp đê ngăn nước tràn vào đùng nuôi tôm đồng thời giăng lưới để tôm khỏi trôi ra khỏi đùng. Nhưng theo các hộ dân, khả năng nước sẽ còn dâng cao vì triều cường đang lớn.

Ông Nguyễn Hữu Thi, Trưởng phòng nuôi và con giống Chi cục Thủy sản tỉnh cho biết, qua khảo sát, khu vực quy hoạch nuôi trồng thủy sản 47ha ở xã Phước Thuận (huyện Xuyên Mộc) có nhiều ao nuôi tôm đến ngày thu hoạch (khoảng 38-40 con/kg) đã bị trôi đi nhiều, gây thiệt hại lớn cho người dân. “Hiện chúng tôi đã hướng dẫn bà con thu hoạch sớm đồng thời giăng lưới để bảo vệ lượng tôm còn sót lại trong ao”, ông Thi nói.

Trong khi đó, mưa lớn cũng khiến các hộ dân trồng rau trên địa bàn huyện Tân Thành lo lắng. Ghi nhận tại xã Tân Hòa (huyện Tân Thành), một trong những vùng trồng rau trọng điểm của tỉnh, cơn mưa kéo dài trong 2 ngày qua cũng đã làm cho 80-85% diện tích rau tại địa phương (170-175ha) bị hư hỏng, ngập úng nặng.

Ông Đỗ Xuân Thảo, Chi cục Phó Chi cục Thủy lợi tỉnh cho biết, từ ngày 28-9 đến ngày 2-10 mưa lớn diễn ra trên diện rộng khiến lượng nước ở các đập chứa rất cao. Cụ thể, lượng nước ở hồ sông Hỏa ngày 2-10 đo được là 100mm; hồ Xuyên Mộc là 60-70mm… Để bảo đảm an toàn các hồ chứa, chúng tôi cho xả lũ các hồ chứa nước. Đồng thời mở các cửa xả, đập dâng… để nước nhanh chóng tiêu thoát.

Ông Ngô Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho biết, những ngày cuối tháng 9 thời tiết khu vực BR-VT mưa nhiều khiến cao trình mực nước ở các hồ chứa nước sông Ray, sông Hỏa lên nhanh. Để bảo đảm an toàn cho các công trình thủy lợi hồ chứa nước nhất là hồ Sông Ray, từ 20-9, Trung tâm đã có thông báo xả lũ hồ chứa nước sông Ray từ 24-9 đến 14-10 trên các phương tiện thông tin. Việc xả lũ kèm theo với mưa lớn trong đêm 30-9 đến 2-10 khiến nước về nhanh và làm vùng hạ lưu tại khu vực xã Phước Thuận (huyện Xuyên Mộc) bị ngập. Trung tâm Quản lý khai thác công trình thủy lợi (Sở NN-PTNT) đang quản lý 35 công trình thủy lợi (16 hồ chứa nước, 9 đập dâng, 3 kênh tiêu úng, 1 đê ngăn lũ, 3 đê ngăn mặn, 1 kè biển bảo vệ dân cư và 2 trạm bơm).

Ông Trần Văn Cường, Giám đốc Sở NN-PTNT cho biết, nhận được thông tin phản ánh của người dân, sáng 2-10, Sở NN-PTNT đã tổ chức các đoàn đi khảo sát tình hình thực tế của các địa phương và tình hình tích nước của các công trình thủy lợi. Để từ đó, ngành nông nghiệp tỉnh tổng hợp báo cáo với UBND tỉnh để có hướng xử lý.

Ông Nguyễn Văn Tài, Phó Giám đốc phụ trách Đài Khí tượng thủy văn tỉnh cho biết, từ ngày 30-9 đến sáng 2-10, khu vực BR-VT ảnh hưởng phía nam của dải hội tụ nhiệt đới có trục ở khoảng 12-15 độ vĩ Bắc và trong trường gió Tây Nam có cường độ trung bình dẫn đến nhiều khu vực trong tỉnh có mưa, mưa rào và dông nhiều nơi có nơi mưa to đến rất to. Cụ thể, tại Trạm Phước Hòa (huyện Tân Thành) lượng nước mưa đạt 131,6mm; Trạm Bình Ba (huyện Châu Đức) lượng nước mưa đo được 161,5mm; Trạm Phước Bửu (huyện Xuyên Mộc) lượng nước mưa 141,2mm… Dự báo, trong vài ngày tới, khu vực tỉnh BR-VT vẫn còn mưa rào từ to đến rất to.

Bài, ảnh: Yến Nhi 

Bài viết mới nhất