Địa chất và khoáng sản

(TN&MT) – Mới đây, Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 2569/BXD-VLXD gửi UBND tỉnh Đắk Nông về việc tham gia ý kiến về dự thảo Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.

Theo đó, căn cứ pháp lý liên quan đến khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Bộ Xây dựng đề nghị bổ sung những nội dung đánh giá dự báo công nghệ khai thác, chế biến để đảm bảo hiệu quả về mặt kinh tế, kỹ thuật và môi trường làm cơ sở thực hiện quy hoạch.

Bổ sung quan điểm: Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 phải đảm bảo gắn kết chặt chẽ và phù hợp với các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh, quy hoạch vật liệu xây dựng, quy hoạch và kế hoạch phát triển và bảo vệ rừng, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển du lịch và các ngành kinh tế khác, không làm ảnh hưởng tới an ninh, quốc phòng, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, phát triển du lịch và bảo vệ môi trường.

Đồng thời, bổ sung một số mục tiêu cụ thể: Dự kiến giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng bình quân, đóng góp cho nguồn thu ngân sách, tạo việc làm, hiệu quả kinh tế – xã hội.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Đối với một số chủng loại khoáng sản cần lưu ý như: Đá xây dựng cần rà soát, sắp xếp lại những cơ sở khai thác hiện có. Quy hoạch cần đưa ra các tiêu chí kỹ thuật để doanh nghiệp thực hiện đầu tư. Khuyến khích các cơ sở khai thác, chế biến đá xây dựng tận dụng nguồn đá mạt để sản xuất gạch không nung, cát nghiền thay thế cát tự nhiên, đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường.

Thực hiện công văn số 6667/VPCP-CN ngày 27/6/2017 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Trịnh Định Dũng, trong đó yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Nâng cao công tác thẩm định, phê duyệt trữ lượng khoáng sản thuộc thẩm quyền; không cấp mới, không gia hạn khai thác đối các khu vực khoáng sản đá làm vật liệu xây dựng thông thường theo các tuyến quốc lộ để bảo vệ cảnh quan môi trường.

Đất sét gạch ngói: Để thực hiện chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020, quy hoạch cần chỉ rõ các vùng nguyên liệu sản xuất gạch, ngói gắn với lộ trình hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung, xóa bỏ lò gạch thủ công, thủ công cải tiến, lòng vòng.

Cát xây dựng: Định hướng cần tổ chức xắp xếp lại các khu vực khai thác cát có quy mô nhỏ lẻ, manh mún để đảm bảo môi trường; khuyến khích phát triển cát nghiền thay thế cát tự nhiên.

Đối với khoáng sản kim loại: Định hướng việc quy hoạch sắp xếp các hoạt động khai thác, chế biến tập trung nhằm nâng cao độ thu hồi khoáng sản, đảm bảo loại bỏ những cơ sở chế biến lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường.

Trên địa bàn có nhà máy chế biến quặng bôxit đây là ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, đóng góp giá trị kinh tế lớn của tỉnh. Tuy nhiên, cần chú trọng công tác bảo vệ môi trường đối với lĩnh vực này. Đề nghị trong quy hoạch cần ưu tiên tập trung xử lý bùn đỏ trong quá trình tuyển quặng bôxit để làm nguyên liệu sản xuất gạch, vừa xử lý môi trưởng và tiết kiệm tài nguyên.

Đề nghị quy định rõ sự phối hợp các Sở, ban ngành của địa phương trong việc thẩm định đối với các dự án khai thác, chế biến đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường, hiệu quả kinh tế.

PV

(TN&MT) –  Đây là quan điểm của UBND tỉnh Bình Thuận trong công văn gửi Thủ tướng Chính phủ về  điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan giai đoạn đến năm 2020, có xét đến năm 2030 ( gọi tắt là Quy hoạch titan).

Trên cơ sở những bất cập trong việc thực hiện Quy hoạch ti tan trên địa bàn tỉnh Bình Thuận trong thời gian qua, như:  các dự án được chấp thuận đầu tư du lịch, trồng rừng, khu công nghiệp có diện tích chồng lấn với Quy hoạch titan chưa thể tiếp tục triển khai thực hiện dự án. Đến nay, việc cấp phép khai thác và khai thác xong bàn giao đất cho Chủ dự án chưa biết cụ thể thời gian đến khi nào nên gây bức xúc cho nhà đầu tư cũng như khó khăn trong công tác quản lý nhà nước ở địa phương.

Đồng thời, các dự án thăm dò, khai thác titan theo Quy hoạch phần lớn nằm dọc ven biển, có địa hình cao so với các dự án, khu dân cư xung quanh, chồng lấn dự án, quy hoạch du lịch, an toàn khu vực mỏ không cao khi đi vào hoạt động, dễ xảy ra các sự cố về môi trường.

Nhiều dự án du lịch, trồng rừng, khu công nghiệp  trên địa bàn tỉnh Bình Thuận chồng lấn với Quy hoạch ti tan
Nhiều dự án du lịch, trồng rừng, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận chồng lấn với Quy hoạch ti tan

Vì vậy,  UBND tỉnh Bình Thuận đã kiến nghị Chính phủ điều chỉnh, bổ sung  Quy hoạch ti tan với việc giảm tổng diện tích đưa vào kỳ quy hoạch thăm dò, khai thác titan đến năm 2020 từ  24 khu vực với tổng diện tích 20.843 ha xuống còn 13 khu vực, với tổng diện tíchh 7.730 ha.

Cụ thể, từ  08 vị trí chưa cấp phép thăm dò khoáng sản với diện tích 7.344 ha, tài nguyên dự báo khoảng 46,1 triệu tấn thành 01 vị trí chưa cấp phép thăm dò khai thác với diện tích 1.000 ha khu vực Lương Sơn III; Khu vực này không chồng lấn dự án.

Đối với 10 mỏ đã cấp giấy phép thăm dò với diện tích 9.641 ha, trữ lượng khoảng 80,1 triệu tấn, trong đó đến nay có 05 giấy phép đã được Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia phê duyệt trữ lượng khoáng sản 3,7 triệu tấn thành  06 mỏ đã cấp giấy phép thăm dò với diện tích 4.593 ha, trữ lượng khoảng 38,6 triệu tấn.

Trong 06 khu vực này có chồng lấn 05 dự án với diện tích 278 ha (gồm 04 dự án điện gió 214 ha (chấp thuận khảo sát) và 01 dự án trồng rừng 64 ha đều của Công ty Cổ phần Vật liệu Xây dựng Khoáng sản Bình Thuận vừa trồng rừng vừa thăm dò titan).

Đối với 08 mỏ đã cấp giấy phép khai thác với diện tích 2.542 ha, tổng trữ lượng 7,1 triệu tấn, trong đó: 01 giấy phép đã hết hạn, 03 giấy phép chưa đầu tư xây dựng cơ bản mỏ, 04 giấy phép có triển khai nhưng hiện đang tạm dừng khai thác để hoàn tất các thủ tục theo quy định thành 06 mỏ đã cấp giấy phép khai thác với diện tích 2.137 ha, tổng trữ lượng khoảng 5,4 triệu tấn.

Trong 06 khu vực này có chồng lấn 08 dự án với diện tích 542 ha (gồm: 6 du lịch, biệt thự, sân golf 355 ha, 02 trồng rừng 187 ha). Riêng khu vực mỏ Mũi Đá 1 – 224 ha, trữ lượng khoảng 1,5 triệu tấn của Công ty TNHH Khai thác và chế biến Khoáng sản Cát Tường đã cấp giấy phép khai thác cần xem xét các vấn đề liên quan để quyết định khai thác hoặc đưa vào dự trữ để triển khai các dự án khác.

Quan điểm của UBND tỉnh Bình Thuận là khai thác ti tan phải gắn với chế biến sâu
Quan điểm của UBND tỉnh Bình Thuận là khai thác ti tan phải gắn với chế biến sâu

Theo UBND tỉnh Bình Thuận, việc điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch ti tan theo hướng này nhằm đảm bảo  việc triển khai các dự án thăm dò, khai thác titan trong thời gian tới phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của nhân dân địa phương; giảm sự chồng lấn giữa Quy hoạch, dự án titan với các dự án kinh tế – xã hội tỉnh Bình Thuận qua đó tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy phát triển các dự án nói chung và dự án năng lượng sạch (điện gió, điện mặt trời) nói riêng của tỉnh; giảm tác động, ảnh hưởng xấu đến môi trường, cảnh quan, nguồn nước, đời sống của người dân… do khai thác mỏ titan.

Các khu vực Quy hoạch titan chưa cấp phép thăm dò hoặc đã được cấp giấy phép thăm dò, khai thác hiện nay sau khi đưa vào dự trữ khoáng sản có thể đầu tư các dự án không ảnh hưởng đến trữ lượng titan bên dưới, dự trữ được nguồn khoáng sản titan để sau này khi khoa học kỹ thuật tiến bộ hơn, công nghệ khai thác, chế biến titan hiện đại hơn cũng như các biện pháp bảo vệ môi trường tốt hơn … sẽ triển khai việc khai thác, chế biến mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao hơn so với hiện nay.

Tuy nhiên, UBND tỉnh Bình Thuận cũng cho rằng, nếu theo hướng điều chỉnh, bổ sung này, các khu vực đã được cấp giấy phép thăm dò, khai thác titan trước đây trong quá trình lập hồ sơ đã được Chính phủ, Bộ, ngành Trung ương và UBND tỉnh Bình Thuận có văn bản đồng ý triển khai dự án, nhà đầu tư đã bỏ ra nhiều thời gian, công sức, chi phí để lập các thủ tục, hồ sơ để được cấp phép thăm dò, khai thác. Nay nếu không tiếp tục cho phép tiếp tục triển khai thăm dò, khai thác, cắt trừ diện tích thăm dò, khai thác, đưa ra khỏi Quy hoạch titan hoặc đưa vào dự trữ khoáng sản thì có thể xảy ra khiếu nại, khiếu kiện nếu doanh nghiệp không chấp thuận; trường hợp doanh nghiệp chấp thuận thì Nhà nước cũng phải bỏ ra một khoản kinh phí rất lớn để hoàn trả lại cho doanh nghiệp.

Cũng tại văn bản này, UBND tỉnh Bình Thuận đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành rà soát tổng quy mô trữ lượng, công suất khai thác của các mỏ đã cấp phép thăm dò, khai thác và hiện trạng đầu tư nhà máy chế biến sâu để quy hoạch phân kỳ cấp phép thăm dò, khai thác hợp lý, đảm bảo nguyên tắc khai thác gắn với chế biến sâu. Trường hợp chưa đầu tư được nhà máy chế biến sâu titan thì kiến nghị cơ quan liên quan tạm dừng cấp phép thăm dò, khai thác.

Linh Nga

(TN&MT) –  Ngày 3-11, ông  Lê Tuấn Quốc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã chủ trì cuộc họp nghe Sở TN-MT báo cáo mỏ đá xây dựng Suối Ngọt tại xã Tân Phước, huyện Tân Thành.

Tại cuộc họp, Sở TN-MT báo cáo về vị trí, ranh giới khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại mỏ đá xây dựng Suối Ngọt. Theo đó, vị trí, ranh giới khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại mỏ đá xây dựng Suối Ngọt được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 499 ngày 7-3-2017 được khoanh định trên cơ sở ranh giới, diện tích các khu vực đã được cấp giấy phép khai thác trước đây không liền khối, liền khoảnh mà bị phân nhỏ theo dạng da beo, gây khó khăn trong công tác quản lý, cấp phép, triển khai thực hiện giấy phép khai thác và cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác.

Do vậy, Sở TN-MT đề xuất điều chỉnh vị trí, ranh giới khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại mỏ đá xây dựng Suối Ngọt và đề xuất chủ trương giải quyết việc đầu tư khai thác trên phần diện tích không đấu giá còn lại của mỏ đá xây dựng Suối Ngọt cho công ty TNHH Khai thác và sản xuất đá Hương Phương, công ty TNHH Hoàng Hiệp và Công ty cổ phần Thành Chí. Cụ thể, khu vực đề nghị điều chỉnh không đấu giá có diện tích 48,27 hecta gồm diện tích đã được UBND tỉnh cấp phép khai thác đá xây dựng cho công ty TNHH Việt Châu là 4,67 hecta, diện tích còn lại chưa cấp phép là 43,60 hecta không đấu giá và giải quyết việc đầu tư khai thác cho công ty TNHH Khai thác và sản xuất đá Hương Phong, Công ty TNHH Hoàng Hiệp và Công ty CP Thành Chí.

Phát biểu tại cuộc họp, đồng chí Lê Tuấn Quốcđồng ý với đề xuất của Sở TN-MT đồng thời đề nghị sở xin ý kiến Bộ TN-MT về việc điều chỉnh lại vị trí ranh giới khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại mỏ đá xây dựng Suối Ngọt.

Một khu vực khai thác đá trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Một khu vực khai thác đá trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Cùng ngày, Phó Chủ tịch  Lê Tuấn Quốc đã chủ trì cuộc họp về kết quả hoạt động của Đoàn kiểm tra liên ngành về khoáng sản trên đất liền.

Theo báo cáo của Đoàn kiểm tra liên ngành về khoáng sản trên đất liền của tỉnh BR-VT (gọi tắt là Đoàn 2060), từ khi thành lập (ngày 4-9-2015) đến nay, Đoàn 2060 đã tiến hành 43 đợt kiểm tra trên hầu hết địa bàn các huyện, thành phố, trừ huyện Côn Đảo, phát hiện 44 khu vực khai thác khoáng sản trái phép với diện tích khoảng 27,76 hecta, khối lượng khoáng sản đã khai thác khoảng 755.000 m3, chủ yếu là cát xây dựng, vật liệu san lấp. Hoạt động của đoàn 2060 đã góp phần giảm bớt tình trạng khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh. Việc xử lý các khu vực khai thác trái phép được đoàn 2060 thực hiện kiên quyết, có những khu vực được Đoàn kiểm tra nhiều lần để nắm tình hình, cùng phối hợp với địa phương để xử lý, do đó hoạt động khai thác khoáng sản trái phép từng bước được đẩy lùi và có chuyển biến tích cực.

Từ đầu năm 2017 đến nay, các ngành chức năng và địa phương đã triển khai trên 540 buổi kiểm tra, phát hiện và xử lý 63 trường hợp, xử phạt vi phạm hành chính với số tiền hơn 2,6 tỷ đồng, cùng tịch thu nhiều tang vật, phương tiện, thiết bị phục vụ hoạt động khai thác. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác vẫn còn một số tồn tại như hoạt động khai thác khoáng sản không phép, trái phép vẫn còn diễn ra ở một số nơi; Các trường hợp khai thác khoáng sản không phép, trái phép không được phát hiện kịp thời từ cấp cơ sở; Việc xác minh, xử lý và thông báo kết quả xử lý vi phạm đối với các vụ việc do Đoàn 2060 phát hiện và đề nghị UBND các huyện tiếp tục xử lý theo thẩm quyền còn chậm…

Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, đồng chí Lê Tuấn Quốc giao Sở TN-MT chủ trì, tham mưu UBND tỉnhthực hiện kiện toàn thành viên trong Đoàn 2060 để tiến hành kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép trên phần đất liền tỉnh BR-VT, trong đó có việc xác định các mục tiêu, nhiệm vụ của Đoàn nhằm phù hợp với các yêu cầu phát sinh; Đồng thời tham mưu đề xuất kinh phí cho việc mua sắm các trang thiết bị, phương tiện và kinh phí phục vụ cho Đoàn cũng như chế độ, chính sách hỗ trợ thêm cho thành viên Đoàn.

Yến Nhi

(TN&MT) – Trong báo cáo của UBND tỉnh Bình Thuận gửi Thủ tướng Chính phủ về đề xuất điều chỉnh Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan giai đoạn đến năm 2020, có xét đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1546/QĐ-TTg ngày 03/9/2013 (sau đây gọi tắt là Quy hoạch titan), địa phương này đã chỉ ra nhiều vấn đề bất cập  khi triển khai thực hiện Quy hoạch này.

Theo Quy hoạch titan thì trữ lượng, tài nguyên quặng titan trên địa bàn tỉnh Bình Thuận  là 599.009.000 tấn, chiếm 92% tổng trữ lượng, tài nguyên của cả nước là 656.873.000 tấn, gồm: trữ lượng là 5.913.000 tấn, tài nguyên cấp 333 là 361.204.000 tấn và tài nguyên cấp 334a là 231.892.000 tấn.Trong đó, tổng diện tích đưa vào kỳ quy hoạch thăm dò, khai thác titan đến năm 2020 là 24 khu vực với tổng diện tích 20.843 ha.

Qua triển khai quy hoạch, đến nay số liệu có sự điều chỉnh như sau: Tổng diện tích đưa vào kỳ quy hoạch thăm dò, khai thác titan đến năm 2020 là 26 khu vực (do tiểu khu Lương Sơn tách thành 03 khu vực), tổng diện tích 19.527 ha, với trữ lượng, tài nguyên 133,3 triệu tấn (do có thay đổi sau khi rà soát diện tích cấp phép, phê duyệt trữ lượng), trong đó: 08 khu vực chưa cấp phép thăm dò khoáng sản với diện tích 7.344 ha, tài nguyên dự báo khoảng 46,1 triệu tấn; 10 khu vực đã cấp giấy phép thăm dò với diện tích 9.641 ha, trữ lượng khoảng 80,1 triệu tấn; 08 khu vực đã cấp giấy phép khai thác với diện tích 2.542 ha, tổng trữ lượng 7,1 triệu tấn.

các dự án được chấp thuận đầu tư du lịch, trồng rừng, khu công nghiệp có diện tích chồng lấn với Quy hoạch titan chưa thể tiếp tục triển khai thực hiện dự án
Nhiều  dự án được chấp thuận đầu tư du lịch, trồng rừng, khu công nghiệp có diện tích chồng lấn với Quy hoạch titan chưa thể tiếp tục triển khai thực hiện dự án

Theo UBND tỉnh Bình Thuận, có rất nhiều bất cập trong quá trình thực hiện Quy hoạch ti tan  tại địa phương. Trong đó, các dự án được chấp thuận đầu tư du lịch, trồng rừng, khu công nghiệp có diện tích chồng lấn với Quy hoạch titan chưa thể tiếp tục triển khai thực hiện dự án. Đến nay, việc cấp phép khai thác và khai thác xong bàn giao đất cho Chủ dự án chưa biết cụ thể thời gian đến khi nào nên gây bức xúc cho nhà đầu tư cũng như khó khăn trong công tác quản lý nhà nước ở địa phương.  Đồng thời, các dự án thăm dò, khai thác titan theo Quy hoạch phần lớn nằm dọc ven biển, có địa hình cao so với các dự án, khu dân cư xung quanh, chồng lấn dự án, quy hoạch du lịch, an toàn khu vực mỏ không cao khi đi vào hoạt động, dễ xảy ra các sự cố về môi trường.

Cũng theo UBND tỉnh Bình Thuận, Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến titan phê duyệt cụ thể danh mục dự án gây khó khăn trong việc tham mưu đề nghị cấp phép cho các dự án chế biến quặng titan có năng lực đầu tư, năng lực tài chính.

Ngoài ra,  tại một số khu vực Quy hoạch titan chưa có đủ nguồn nước để phục vụ cho hoạt động khai thác, chế biến titan; càng nhiều khu vực được quy hoạch, cấp giấy phép khai thác titan thì nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và canh tác của người dân càng ít đi.

UBND tỉnh Bình Thuận cũng cho rằng các Bộ, ngành Trung ương chưa tập trung triển khai đồng bộ để tổ chức thực hiện Quy hoạch titan, như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chưa quan tâm chỉ đạo quy hoạch đầu tư xây dựng hồ, đập chứa nước để cấp nước cho khai thác, chế biến titan, kết hợp với việc cung cấp nước phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Bộ Giao thông vận tải chưa quan tâm chủ trì rà soát, bổ sung quy hoạch hệ thống vận tải và cảng biển phục vụ yêu cầu giao thông vận tải cho phát triển công nghiệp khai thác, chế biến titan.

Theo Chỉ thị số 13-CT/TW, ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng thì không chuyển diện tích rừng tự nhiên hiện có sang mục đích sử dụng khác (trừ các dự án phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, hoặc các dự án đặc biệt, cấp thiết do Chính phủ quyết định);… nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường đối với rừng sản xuất. Trong khi đó, Quy hoạch titan có nhiều diện tích nằm trên đất rừng tự nhiên và rừng sản xuất.

Tháng 6/2016, trong quá trình khai thác ti tan Công ty TNHH Thương mại Tân Quang Cường
Tháng 6/2016, trong quá trình khai thác ti tan Công ty TNHH Thương mại Tân Quang Cường đã làm vỡ  đê bao khai thác ti tan khiến hàng ngàn m3 cát chảy ra ngoài đường giao thông và nhà dân

Trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Bình Thuận cũng nêu lên các vấn đề bất cập chính của Quy hoạch titan mà các nhà khoa học, chuyên gia đã nêu ra qua buổi tại buổi Tọa đàm với chủ đề “Đánh giá tiềm năng và bước đầu đề xuất khai thác và sử dụng khoáng sản titan – zircon trên địa bàn tỉnh Bình Thuận theo hướng bền vững” tổ chức tại tỉnh Bình Thuận vào ngày 08/7/2017

Theo đó,  Quy hoạch titan đặt ra mục tiêu chế biến sâu đến mức tạo ra titan kim loại và hợp kim titan là điều không khả thi. Ngoài ra, Quy hoạch titan này không được xây dựng trên nền tảng kết quả thăm dò, đánh giá trữ lượng quặng, mà chỉ dựa vào kết quả điều tra địa chất, đánh giá tài nguyên ở cấp 333 và 334a, là cấp có độ tin cậy thấp nhất trong hệ thống đánh giá cấp tài nguyên.

Các chuyên gia đánh giá việc Quy hoạch titan công bố số liệu “tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo” tỉnh Bình Thuận là 599 triệu tấn là mập mờ và dễ gây “hiểu nhầm” về sự giàu có khoáng sản titan không chỉ đối với các cơ quan ra quyết định mà đối với cả doanh nghiệp; con số gần 600 triệu tấn trữ lượng quặng sa khoáng vật nặng tại Bình Thuận theo Quy hoạch đã phê duyệt chỉ là con số phỏng đoán, chưa có cơ sở khoa học chính xác về địa chất.

Dựa trên số liệu điều tra địa chất, một số cơ quan quản lý nhà nước đã tính ra giá trị thương phẩm quặng tinh sau khi chế biến sâu tinh quặng titan sẽ là 138,872 tỷ USD, tương đương với 1/3 GDP. Đây là số liệu không đủ độ tin cậy bởi kết quả điều tra địa chất mới chỉ dừng ở mức tài nguyên khoáng sản cấp 333 và 334a; theo đó, số liệu về hiệu quả kinh tế không chính xác, có thể 5 dẫn đến những kỳ vọng “không có thật” về khả năng đóng góp từ khai thác quặng titan vào nguồn thu ngân sách hay nền kinh tế Việt Nam.

Thực tế cho thấy, khai thác, chế biến sa khoáng titan vùng ven biển các tỉnh miền Trung từ trước đến nay đã và đang gây ra nhiều tác động bất lợi cản trở sự phát triển của các ngành kinh tế khác, đến cuộc sống người dân và môi trường ven biển; làm thay đổi địa hình cồn cát, phá hủy hệ sinh thái đặc trưng vùng cồn cát và hệ thống rừng phòng hộ ven biển. Ngoài ra, còn có các rủi ro môi trường tiềm ẩn khác như: nguy cơ phân tán các chất phóng xạ; nguy cơ mực nước ngầm trong cồn cát bị ô nhiễm, thảm thực vật rừng phòng hộ bị tàn phá, sa mạc hóa…

Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Bình Thuận đã đề xuất Thủ tướng Chính phủ đánh giá, điều chỉnh lại nhiều nội dung của Quy hoạch Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan giai đoạn đến năm 2020, có xét đến năm 2030.

Linh Nga

(TN&MT) – Ông Lò Văn Biên, Chủ tịch UBND xã Tà Lèng, T.P Điện Biên Phủ khẳng định có biết doanh nghiệp đang khai thác cát trên địa bàn và chưa được cấp phép nhưng vẫn để doanh nghiệp làm, một phần để tận thu nguyên liệu xây dựng công trình đập ngăn cát, sỏi chống bồi lấp tuyến kênh mương PA I trên suối Nậm Pạ, mặt khác để “giúp dân” ngăn cát không trôi vào đồng ruộng canh tác.

Hiện trường bãi cát
Hiện trường bãi cát

Hơn 2 năm nay, tại khu vực suối Nậm Pạ, bản Kê Nênh, xã Tà Lèng, TP. Điện Biên Phủ đã diễn ra tình trạng khai thác cát trái phép, gây ảnh hưởng đến dòng chảy, lòng suối và khu rừng phòng hộ do người dân đang quản lý.

Có mặt tại điểm khai thác cát trên suối Nậm Pạ, chúng tôi thấy một bãi tập kết cát rộng mênh mông, ngổn ngang máy móc, đường ống hút cát. Tại đây có một chiếc máy hút cát cùng thiết bị sàng lọc cát ngay bên bờ suối đã dừng hoạt động. Theo những người dân bản Kê Nênh cho biết: trước đây đơn vị khai thác cát với số lượng khá lớn, cho máy hút cát làm việc ngày đêm, mỗi ngày có hàng chục xe tải vào chuyên chở cát đi tiêu thụ. Bây giờ gần như là không còn cát để khai thác.

Anh Dương Văn Dê, bản Kê Nênh, cho biết: Máy móc và các loại xe trở cát vào làm việc suốt ngày đêm. Người dân bức xúc nhất là việc doanh nghiệp sử dụng máy xúc, ủi san gạt khe suối, mở đường đã làm ảnh hưởng đến mép rừng phòng hộ do người dân được giao quản lý, bảo vệ.

Cũng chính vì việc khác thác, tận thu quá mức mà hiện giờ lòng suối Nậm Pạ đã nới rộng và sâu hoắm. Hai bên bờ có nguy cơ sạt lở rất cao. Trước thực trạng đó, người dân đã có đơn kiến nghị gửi UBND xã Tà Lèng, Kiểm lâm địa bàn nhưng đã hơn một năm trôi qua mà không nhận được phản hồi từ phía chính quyền xã, hoặc kiểm lâm.

Trao đổi với ông Lò Văn Biên, Chủ tịch UBND xã Tà Lèng thì được biết: Đơn vị đang khai thác cát tại suối Nậm Pạ là Doanh nghiệp tư nhân Đức Linh. Đơn vị này đã khai thác từ đầu năm 2015 và chưa được cấp giấp phép khai thác cát.

Khu lán tạm sinh hoạt xuất hiện gần bãi khai thác cát
Khu lán tạm sinh hoạt xuất hiện gần bãi khai thác cát

– Vậy lý do vì sao doanh nghiệp vẫn được khai thác cát?

Chủ tịch UBND xã Tà Lèng, cho rằng: Do suối Nậm Pạ cung cấp nước tưới tiêu chủ yếu cho hơn 50ha ruộng lúa của người dân xã Tà Lèng, nhiều năm nay, lượng cát, sỏi theo dòng suối chảy về đã ảnh hưởng trực tiếp tới ruộng lúa của hàng trăm hộ dân. Do đó, cùng với việc xây dựng công trình đập ngăn cát, sỏi chống bồi lấp tuyến kênh mương PA I trên suối Nậm Pạ, thì UBND xã Tà Lèng đã đồng ý cho Doanh nghiệp tư nhân Đức Linh tận thu cát và không thu bất kỳ khoản phí nào; vừa để thuận lợi xây dựng công trình vừa hạn chế được cát tràn về gây ảnh hưởng tuyến kênh và hoạt động sản xuất của bà con.

Doanh nghiệp tiến hành xúc ủi làm đường
Doanh nghiệp tiến hành xúc ủi làm đường

Còn việc khai thác cát gây ảnh hưởng tới lòng suối Nậm Pạ và rừng phòng hộ của người dân trong bản Kê Nênh, Chủ tịch UBND xã Tà Lèng nói là đã nắm được và  hiện vẫn chưa có kế hoạch giải quyết, xử lý.

Đại diện Phòng Khoáng sản, Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Điện Biên, ông Nguyễn Thành Trung, cho biết: Theo quy định, trong một số trường hợp cụ thể có thể cho phép tận dụng khai thác vật liệu tại chỗ phục vụ xây dựng các công trình Nhà nước. Tuy nhiên, phía đơn vị thi công phải có kiến nghị hoặc tờ trình lên UBND tỉnh và cơ quan quản lý là Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét. Với trường hợp Doanh nghiệp tư nhân Đức Linh thì phía Phòng Khoáng sản không hề nhận được báo cáo gì về việc xin tận thu khai thác cát làm công trình. Nên có thể khẳng định, việc khai thác cát của đơn vị này tại suối Nậm Pạ là hoàn toàn trái quy định của pháp luật.

Hoàng Châu – Hà Thuận

Bên cạnh việc cho rằng nên dừng triển khai dự án mỏ sắt Thạch Khê thì cũng nhiều ý kiến khẳng định, đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án khai thác mỏ Thạch Khê là phương án góp phần phát triển kinh tế, tăng thu ngân sách cho tỉnh Hà Tĩnh cũng như đảm bảo an sinh xã hội trong vùng.

Liên quan tới số phận mỏ sắt lớn nhất Đông Nam Á, mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), trong công văn gửi lên Thủ tướng Chính phủ hồi tháng 7 vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã kiến nghị dừng triển khai dự án do lo ngại về khả năng tài chính của chủ đầu tư và tác động tới môi trường như cạn kiệt nguồn nước ngầm; xâm nhập mặn; sa mạc hóa; sạt lở bờ; ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và dân sinh…

Tuy nhiên, ngay sau đó, Bộ Công Thương phản bác lại cho rằng, cần phải tính đến những hậu quả hệ lụy liên quan đến những thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng mà nhà đầu tư đã bỏ ra 10 năm nay, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp theo chủ trương kiến tạo của Chính phủ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đầu tư của tỉnh Hà Tĩnh, cũng như của Việt Nam.

Việc triển khai hay không triển khai tiếp dự án mỏ sắt Thạch Khê đang có ý kiến trái chiều từ các bộ, ngành
Việc triển khai hay không triển khai tiếp dự án mỏ sắt Thạch Khê đang có ý kiến trái chiều từ các bộ, ngành

Bên cạnh đó, phải tính đến hiệu quả kinh tế của dự án, phát triển công nghiệp và kinh tế Việt Nam, đóng góp vào GDP, giảm nhập siêu, ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô, cũng như các vấn đề liên quan như an sinh xã hội, an ninh trật tự xã hội và nhiều hệ lụy khác.

Thiệt đơn, thiệt kép

Dự án đầu tư khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê do Công ty CP Sắt Thạch Khê (TIC) làm chủ đầu tư được khởi công từ 2009, với sự tham gia của các cổ đông như Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh, Tổng công ty Thép Việt Nam (VnSteel), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Tổng công ty Sông Đà…

Để thực hiện dự án này, tính đến cuối năm 2016 sau khi cơ cấu lại các cổ đông góp vốn, số tiền đã được rót vào dự án lên tới gần 1.600 tỷ đồng. Khoản tiền chủ yếu được chủ đầu tư thực hiện các hạng mục như thiết kế kỹ thuật, địa chất, trắc địa môi trường và rà bom mìn; mua sắm máy móc thiết bị kỹ thuật; nộp ngân sách nhà nước…

Nếu dự án dừng triển khai, khoản đầu tư này sẽ khó có cơ hội hoàn vốn.

Trong văn bản gửi lên Thủ tướng Chính phủ hôm 13/7/2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng nêu ra hàng loạt hệ luỵ do việc dừng dự án từ năm 2011 đến nay. Trong đó chỉ ra rằng, về phía chủ đầu tư, nếu dừng dự án, tổng chi phí đã bỏ ra sẽ chậm có cơ hội hoàn vốn, đồng thời lãng phí cơ sở vật chất, thiết bị đã đầu tư.

Đáng lưu ý, văn bản này cũng cho biết, địa phương và vùng phát triển dự án mỏ sắt Thạch Khê không thể thu hút đầu tư dự án khác trên diện tích đã quy hoạch do dự án và cơ sở hạ tầng đầu tư tại vùng dự án hiện nay đã xuống cấp nghiêm trọng, một số dự án khu tái định cư đầu tư dở dang, gây lãng phí.

Đối với người dân, các hộ dân đã được di chuyển đến khu tái định cư và các hộ dân chưa giải quyết tái định cư đều bị ảnh hưởng, nguy cơ trở thành điểm nóng về an ninh trật tự, mất niềm tin người dân nếu như địa phương không sớm công bố rõ về quan điểm và hướng triển khai dự án. Theo báo cáo của UBND tỉnh Hà Tĩnh, số hộ bị ảnh hưởng là 2.919 hộ, không được cấp đất mới, không được tách hộ, 3 – 4 thế hệ cùng ở trong một nhà.

Không thể nói dừng là dừng

Nhiều báo cáo phân tích từ phía chủ đầu tư chỉ ra rằng, trong điều kiện đảm bảo triển khai khả thi, dự án sẽ góp phần cung cấp nguyên liệu ổn định lâu dài cho cơ sở luyện kim trong nước theo Quy hoạch ngành đã được phê duyệt, giảm nhập khẩu quặng sắt, phôi thép từ nước ngoài, đóng góp vào tăng trưởng GDP, thu ngân sách nhà nước. Đồng thời, thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển, giải quyết việc làm trực tiếp khoảng 3.500 lao động.

Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê đã tạo việc làm cho hàng ngàn lao động cho tỉnh Hà Tĩnh
Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê đã tạo việc làm cho hàng ngàn lao động cho tỉnh Hà Tĩnh

Trên thực tế, dự án tạm dừng triển khai 2 năm sau đó (2011), sau đó, từ tổng mức đầu tư ban đầu 14.500 tỷ đồng, chủ đầu tư đã điều chỉnh giảm về còn 13.000 tỷ đồng, trong đó giai đoạn một là 6.700 tỷ. Đến tháng 3/2017, dự án tiếp tục giảm quy mô vốn đầu tư về mức 12.200 tỷ đồng. Qua 2 lần điều chỉnh, tổng vốn đầu tư dự án này giảm khoảng 2.300 tỷ đồng.

Theo phân tích của TIC, ngay cả với tổng mức đầu tư là 14.517 tỷ đồng, dự án cũng có thời gian hoàn vốn chỉ khoảng 9,5 năm. Hiệu quả kinh tế của dự án đã tính với giá bán quặng sắt bình quân là 50 USD/tấn và phân tích độ nhạy với biến động giảm giá bán quặng sắt là 6% và tăng tổng mức đầu tư lên 30% thì dự án vẫn có hiệu quả. Với giá nhiên liệu thấp hơn tại thời điểm phê duyệt dự án, giá quặng sắt khoảng 70-80 USD/tấn > 50 USD/tấn, do vậy hiện tại dự án có hiệu quả cao hơn.

Thậm chí, hiệu quả kinh tế sau khi điều chỉnh vốn đầu tư được cập nhật tháng 3/2017 cao hơn so với phê duyệt từ năm 2014. Theo đó, tổng mức đầu tư giảm còn 12.192 tỷ đồng/14.517 tỷ đồng, thời gian hoàn vốn giảm xuống chỉ còn 7,5 năm.

Không chỉ mang lại lợi ích cho riêng chủ đầu tư, dự án này còn đảm bảo hiệu quả xã hội thể hiện ở con số hàng năm nộp ngân sách trung bình giai đoạn I là 2.000 tỷ đồng/năm (công suất 5 triệu tấn/năm). Trong giai đoạn II, thu ngân sách có thể đạt 4.000 tỷ đồng/năm với công suất dự án 10 triệu tấn/năm, tổng các khoản thuế phí của dự án đạt trên 89.700 tỷ đồng; ngoài ra, còn các khoản thuế, phí khác như: thuế thu nhập, tiền thuê đất,… Góp phần tăng GDP từ 0,3 – 1%.

Dự án cũng góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhân dân khu vực lân cận dự án thông qua kinh doanh dịch vụ, thương mại, phụ trợ…; giải quyết việc làm cho 3.490 lao động trực tiếp của dự án, chủ yếu là lao động tại địa phương.

Sau đề xuất dừng dự án, trao đổi với báo chí, GS. TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) phân tích: “Khi nhóm tư vấn của Tỉnh uỷ Hà Tĩnh lập ra, trong đó có tôi, làm việc với tỉnh, tôi đã trao đổi việc dừng hay làm tiếp cần có những nghiên cứu kỹ khoa học về 4 mặt bao gồm hiệu quả kinh tế, lợi ích doanh nghiệp, vấn đề môi trường và lợi ích cộng đồng dân cư. Tại cuộc họp, tôi đã đề nghị Hà Tĩnh chưa nên có quyết định vội vàng là dừng hay làm mà nên dành thời gian khảo sát”.

Dù thể hiện quan điểm cần phân tích thêm trước khi nói dừng hay làm dự án nhưng GS Nguyễn Mại cũng nhấn mạnh: “Không nên lấy lý do không có vốn để khai thác vì nếu có hiệu quả vay ở đâu chẳng được. Vấn đề đặt ra là khai thác có lợi về mặt kinh tế, xã hội, môi trường hay không”.

Vị chuyên gia cũng cho rằng: “Vì đây là dự án làm rồi nên phải tính lợi ích của doanh nghiệp, họ bỏ ra mấy nghìn tỷ, trong đó có một phần của doanh nghiệp nhà nước là TKV, một phần của doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp tư nhân”.

Theo Dân Trí

(TN&MT) – Sau thời gian các công ty, doanh nghiệp dùng máy móc, dốc hết sức để khai thác vàng tại những địa điểm được cấp phép trên địa bàn tỉnh Kon Tum thì hiện trạng đất đai ở những nơi này đã hoàn toàn biến đổi. Hậu quả gây ra làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng môi trường và cả đời sống sản xuất của người dân xung quanh khu vực khai thác.

Những công trường khai thác vàng tại các huyện Ngọc Hồi, Đăk Glei (Kon Tum) sau nhiều năm hoạt động hết công suất để khai thác vàng, hậu quả để lại thấy rõ và hệ lụy của nó còn kéo dài nhiều năm sau nữa. Thậm chí, rất nhiều điểm không thể khôi phục lại hiện trạng như ban đầu. Đó là những dòng sông, dòng suối bị cày xới nham nhở, là những vùng đất màu mỡ bị hoang hóa, sa mạc hóa nặng nề, không thể gieo trồng hay sản xuất. Và đời sống người dân vì thế mà đã nghèo nay lại nghèo hơn.

Sau khai thác vàng, dòng sông tạo thành hố sâu gây sạt lở
Sau khai thác vàng, dòng sông tạo thành hố sâu gây sạt lở

Sông Pô Kô, đoạn chảy qua xã Đắk Ang (huyện Ngọc Hồi) bị biến dạng do khai thác vàng sa khoáng. Lòng sông bị đào sâu để khai thác vàng khiến hai bên bờ bị sạt lở nghiêm trọng, cuốn trôi nhiều diện tích đất sản xuất của người dân. Những bãi bồi màu mỡ phù sa hai bên bờ trước kia, nay biến thành bãi đất gò, cứng, đất đá lởm khởm, bị bỏ hoang.

Chị Y Dôn (thôn Long Dôn, xã Đăk Ang) cho biết, khu vực bãi bồi này rộng khoảng 20.000 m2. “Trước đây, người dân trồng mì, trồng lúa trên khu vực này nhưng sau khi có công ty đến đây khai thác vàng, đất bị đào bới tung lên, chỉ còn trơ lại sỏi, đá. Năm 2015, sau khi khai thác xong, công ty trả lại đất cho bà con, nhưng đất bây giờ đã bạc màu, bà con không thể trồng được cây gì trên đó nữa. Từ đó, đất ở đây bị bỏ hoang, người dân lại quay lên rừng để trồng mì kiếm sống”, chị Y Dôn nói.

Dòng suối lởm khởm sỏi đá sau khai thác vàng
Dòng suối lởm khởm sỏi đá sau khai thác vàng

Cùng với huyện Ngọc Hồi, Đăk Glei cũng là điểm nóng về khai thác vàng tại Kon Tum. Ngoài các công ty được cấp phép khai thác vàng, thì tình trạng khai thác vàng trái phép diễn ra công khai trong một thời gian dài. Hiện trạng trên nhiều con sông, suối của huyện đã không còn nguyên vẹn. Đói nghèo lại đeo bám người dân xung quanh khu vực khai thác vì không cố đất sản xuất.

Gia đình bà Y Tun (ở tại thôn Đăk Đoát, xã Đăk Pét, huyện Đăk Glei) là một trường hợp như vậy. Trước đây, gia đình bà có khoảng 1.500 m2 ruộng lúa nằm dọc bờ suối Đăk Mỹ. Nhờ đất tốt nên trồng lúa 2 vụ, năm nào cũng được mùa, không phải lo cái ăn. Đến khi công ty khai thác vàng vào mua với giá cao (50 nghìn đồng/m2) và hứa sẽ hoàn trả lại đất sau khi khai thác nên gia đình bà đã đồng ý bán.

Dòng suối lởm khởm sỏi đá sau khai thác vàng
Dòng suối lởm khởm sỏi đá sau khai thác vàng

“Công ty khai thác xong, có san lấp lại mặt bằng nhưng lớp đất màu mỡ bên trên bị trôi đi hết, chỉ còn lại sỏi, đá ngổn ngang. Mấy năm nay, ruộng đó bỏ hoang nên gia đình lâm vào cảnh khốn khó. Nếu được lựa chọn lại, tôi nhất định không bán đất cho đơn vị khai thác vàng”, bà Y Tun nói.

Theo ông A Mrát – Trưởng thôn Đăk Đoát (xã Đăk Pét), việc triển khai dự án khai thác vàng sa khoáng trên địa bàn đã ảnh hưởng đến đời sống người dân trong vùng. Sau khi các công ty đến khai thác vàng, người dân trong thôn cũng ùa theo để đi làm vàng, bỏ bê ruộng nương, khiến chính quyền phải đi vận động và truy quét các đối tượng khai thác trái phép.

Ruộng trồng lúa biến thành bãi đất hoang sau khi khai thác vàng
Ruộng trồng lúa biến thành bãi đất hoang sau khi khai thác vàng

“Đất thì bán hết cho công ty khai thác vàng. Sau khi khai thác xong, tiền bán đất thì đã tiêu hết, đất sản xuất công ty trả lại thì bạc màu, không thể canh tác phải bỏ hoang. Trước đây, chỉ cần ra sông là có tôm, có cá để ăn, bây giờ thì hết rồi. Nhiều hộ gia đình trong thôn rơi vào cảnh thiếu ăn”, ông A Mrát cho hay.

Như vậy, hậu quả để lại sau những dự án khai thác vàng là lâu dài và vô cùng nghiêm trọng. Cho nên, việc khai thác khoáng sản nói chung và khai thác vàng nói riêng cần phải được chính quyền địa phương và cơ quan chức năng quản lý chặt chẽ ngay từ khâu cấp phép, để hạn chế những tác động của nó đến môi trường và đời sống của  người dân.

Bài & ảnh: Quế Mai

(TN&MT) – Ngày 16/10/2017, UBND tỉnh Thanh Hóa vừa ban hành công văn số 12481/UBND – CN về việc xử lý các mỏ đá làm vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn tỉnh có giấy phép khai thác khoáng sản và thuê đất hết hạn.

Trên cơ sở Công văn số 156/BC-STNMT của Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa báo cáo kết quả kiểm tra, rà soát các doanh nghiệp có giấy phép khai thác mỏ hết hạn, chưa làm thủ tục đóng cửa mỏ.

Theo đó, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Đức Quyền chỉ đạo: Giao Sở Tài nguyên và Môi trường hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đóng cửa mỏ khoáng sản, trình UBND tỉnh phê duyệt theo quy định đối với 17 mỏ đá đã đảm bảo an toàn gồm: Công ty Phú Nhơn Hải và Cty XNK Rau quả Thanh Hóa ở mỏ đá xã Anh Sơn, huyện Tĩnh Gia. Công ty Yên Bình mỏ đá xã Xuân Khang, huyện Như Thanh. Cty CP Khí Công nghiệp Việt Nam mỏ đá xã Xuân Bình, huyện Như Xuân. DN Quang Vinh mỏ đá xã Triệu Thành, huyện Triệu Sơn…

Đối với 8 mỏ đá đang còn các moong, vách khai thác nham nhở, có nguy cơ gây mất an toàn là: Mỏ đá của Cty Công nghiệp Quảng Lợi ở xã Trường Lâm, huyện Tĩnh Gia. Cty CP Bắc Nam mỏ đá xã Xuân Bình, huyện Như Xuân. Cty XD CT TL Đông Tân mỏ đá xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc. Cty Định An mỏ đá xã Na Mèo, huyện Quan Sơn… giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường thông báo, hướng dẫn cho các chủ mỏ đá trên khẩn trương thực hiện thủ tục đóng cửa mỏ, cải tạo phục hồi môi trường theo quy định; thời gian thực hiện xong trước ngày 30/1/2018.

Sau thời hạn trên, nếu chủ mỏ nào không hoàn thành, giao Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lựa chọn đơn vị có năng lực để thực hiện việc cải tạo, phục hồi môi trường, đưa các khu mỏ về trạng thái an toàn.

Tin & ảnh: Thu Thủy

(TN&MT) – Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng khẩn trương điều tra, xác minh phản ánh tình trạng khai thác cát trái phép trên sông Hồng và sông Luộc, đoạn qua tỉnh Hưng Yên.

Trước đó, bản tin nội bộ của Thông tấn xã Việt Nam ngày 25/9/2017 phản ánh về tình trạng các đối tượng ngang nhiên khai thác cát trái phép trên sông Hồng và sông Luộc, đoạn qua tỉnh Hưng Yên.

Về việc này, Phó Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng khẩn trương điều tra, xác minh làm rõ nội dung bài báo phản ánh, nếu đúng phải kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật; báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/10/2017.

PV

(TN&MT) – Ngày 10/5/2017, Liên đoàn Vật lý Địa chất (Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam)  đã long trọng tổ chức Lễ Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Liên đoàn và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì – Phần thưởng cao quý của Nhà nước trao tặng CBCNV Liên đoàn.

Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì để ghi nhận thành tích xuất sắc và những cống hiến của Liên đoàn
Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì để ghi nhận thành tích xuất sắc và những cống hiến của Liên đoàn

Ở Việt Nam, việc ứng dụng địa vật lý trong điều tra cơ bản địa chất, đánh giá, thăm dò khoáng sản bắt đầu từ năm 1955 và có những đóng góp xứng đáng trong điều tra cơ bản địa chất; tìm kiếm, đánh giá và thăm dò khoáng sản. Ngành địa – vật lý đã không ngừng phát triển và trở thành một thành phần không thể thiếu trong điều tra địa chất, tìm kiếm, phát hiện và đánh giá trữ lượng khoáng sản.

Nhấn mạnh những đóng góp to lớn của ngành Vật – Lý địa chất vào sự hình thành giá trị của hoạt động quản lý và khai thác khoáng sản, trong bài phát biểu của mình, Thứ trưởng Bộ TN&MT Võ Tuấn Nhân khẳng định,  hoạt động điều tra địa chất cơ bản, các tài liệu địa – vật lý đã có đóng góp rất lớn trong nghiên cứu cấu trúc địa chất, kiến tạo và sinh khoáng của Việt Nam. Trên cơ sở tài liệu địa vật lý kết hợp với các tài liệu địa chất đã phát hiện được nhiều mỏ khoáng sản có trữ lượng công nghiệp lớn trong cả nước.

Trong điều tra địa chất thủy văn, công tác địa vật lý đã được sử dụng có hiệu quả từ bước đo vẽ lập bản đồ đến điều tra, thăm dò nước dưới đất; đặc biệt là các vùng miền núi khó khăn và hải đảo.

Ở lĩnh vực địa chất công trình, phương pháp địa vật lý đã được áp dụng có hiệu quả cao trong nghiên cứu cấu trúc địa chất nông, đặc điểm cơ lý đá của các công trình xây dựng, nền móng giao thông, nền móng nhà máy thủy điện, cảng biển…

Trong điều tra địa chất môi trường, công tác địa vật lý đã tiến hành cho nhiều thành phố, thị xã, các khu công nghiệp; lập các bản đồ phông bức xạ tự nhiên, khoanh định các diện tích có trường phóng xạ cao có nguy cơ gây nguy hiểm cho con người…

Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân cũng đánh giá, bên cạnh việc hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chuyên môn, Liên đoàn Vật lý Địa chất còn thể hiện rất tốt bản lĩnh chính trị, năng lực quản lý; kịp thời đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, viên chức và người lao động trong Liên đoàn; Đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, kiểm tra, giám sát trong các hoạt động của Liên đoàn.

Từ những kết quả đổi mới, hoạt động của Liên đoàn đã đi vào nề nếp, đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên ngày được nâng cao. Các tổ chức Đảng, đoàn thể trong Liên đoàn luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị; liên tục được công nhận là các tổ chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và trong sạch – vững mạnh.

Qua 50 năm phấn đấu, đến nay Liên đoàn Vật lý Địa chất đã có đội ngũ cán bộ kỹ thuật địa – vật lý có trình độ cao, đảm đương các nhiệm vụ khảo sát địa – vật lý đa dạng, có nhiều đóng góp cho công tác điều tra cơ bản địa chất và tìm kiếm, đánh giá khoáng sản.

Cũng tại Lễ Kỷ niệm, Tổng cục Trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Đỗ Cảnh Dương đề nghị Đảng ủy, Lãnh đạo và các cán bộ viên chức, người lao động của Liên đoàn nối tiếp truyền thống tốt đẹp trong 50 năm qua, đồng lòng, nhất trí để hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị mà Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã giao phó, cụ thể là: Tập trung thực hiện có hiệu quả hơn nữa các Đề án điều tra cơ bản địa chất của Chính phủ như: Điều tra đánh giá tổng thể tài nguyên than phần đất liền, bể sông Hồng; Bay đo từ – trọng lực tỷ lệ 1:250.000 Biển và Hải đảo Việt Nam; nhanh chóng đào tạo để có lớp cán bộ triển khai có hiệu quả các thiết bị và phương pháp địa vật lý hiện đại trong điều tra, đánh giá khoáng sản…

Nhân dịp này, Thừa ủy quyền Chủ tịch nước, Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì để ghi nhận thành tích xuất sắc và những cống hiến của Liên đoàn.

Phạm Thu Hà

Bài viết mới nhất