Đo đạc bản đồ và viễn thám

Trong năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tập trung xây dựng dự thảo Nghị định, các Thông tư quy định về hoạt động viễn thám; Ứng dụng công nghệ viễn thám và địa tin học trong công tác điều tra, đánh giá, giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường nhất là ở một số vùng biển, đảo trọng điểm. Xây dựng cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia; hiệu chỉnh bản đồ địa hình quốc gia tỷ lệ 1/50.000 bằng ảnh viễn thám khu vực Biên giới Việt – Trung, Tây Bắc và khu vực Nghệ An – Thanh Hóa.

Đồng thời tiến hành ứng dụng công nghệ viễn thám, GIS trong giám sát xói lở bờ biển tại một số khu vực trọng điểm miền Trung, giám sát việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất khu vực đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Kiểm kê quốc gia khí nhà kính năm 2016 trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) phục vụ xây dựng các báo cáo quốc gia và đóng góp của Việt Nam cho công ước khí hậu.

CTTĐT

Trong năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Quốc hội thảo luận cho ý kiến đối với Dự án Luật đo đạc và bản đồ tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV; tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội để hoàn thiện trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 5; ban hành theo thẩm quyền 09 Thông tư về đo đạc và bản đồ.

Bên cạnh đó, Bộ cũng đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án: hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính; quan trắc đo lặp thủy chuẩn hạng II và theo dõi tốc độ lún khu vực TP.Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long năm 2016; thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/2.000, 1/5.000 gắn với mô hình số độ cao TP.Hà Nội; xây dựng hệ thống thông tin địa danh Việt Nam và quốc tế phục vụ công tác thành lập bản đồ; xây dựng cơ sở dữ liệu nền thông tin địa hình cơ bản phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế – xã hội và giám sát tài nguyên và môi trường nước CHDCND Lào; khôi phục và hoàn thiện hệ thống độ cao quốc gia Campuchia giai đoạn 2,… Đẩy mạnh công tác phân giới cắm mốc Việt Nam – Campuchia; tham gia đàm phán với các nước liên quan các vấn đề Biển Đông và thực hiện quản lý lãnh thổ trên biển, đảo.

CTTĐT

Sáng ngày 12/09, tại Hà Nội, đã diễn ra Đại hội Hội Cựu chiến binh Cục Viễn thám quốc gia nhiệm kỳ 2017 – 2022.

Tham dự đại hội có đồng chí Trần Tuấn Ngọc, Bí thư Đảng ủy, Phó Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia, đồng chí Nguyễn Đức Phú – Phó Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia phụ trách công tác hội đồng thời cũng là hội viên hội Cựu chiến binh Cục cùng 11 thành viên trong Hội Cựu chiến binh của Cục.

 

Báo cáo tổng kết hoạt động của Hội nhiệm kì 2012-2017 và phương hướng hoạt động nhiệm kì 2017-2022 do đồng chí Nguyễn Đình Sơn, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Cục Viễn thám quốc gia trình bày đã nêu rõ những thuận lợi và khó khăn của Hội nhiệm kì vừa qua trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Hội. Đồng thời báo cáo cũng nêu rõ những kết quả mà Hội đã đạt được trong nhiệm kì 2012-2017.

 

Toàn cảnh Đại hội Cựu chiến binh Cục Viễn thám quốc gia nhiệm kỳ 2017-2022

Nhiệm kì 2012-2017, mặc dù còn nhiều khó khăn, song Ban chấp hành và các Hội viên đã quán triệt được nhiệm vụ cao cả của người cựu chiến binh, phát huy truyền thống và những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” nên trong 5 năm qua Hội Cựu chiến binh của Cục đã đạt được những thành quả rất đáng ghi nhận.

 

Đối với các thành viên trong Hội, toàn thể hội viên luôn có được sự đoàn kết chặt chẽ, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, có tinh thần tương thân, tương ái, tình đồng chí, đồng đội cao, luôn có ý thức phấn đấu vươn lên về mọi mặt; thực hiện tốt phong trào thi đua “Cựu chiến binh gương mẫu” đã khơi dậy tình đoàn kết giúp nhau nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tăng cường các hoạt động tình nghĩa; phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị được giao đóng góp quan trọng vào lĩnh vực viễn thám nói riêng và ngành tài nguyên và môi trường nói chung. Đồng thời, các hoạt động của Hội luôn phát huy vai trò dân chủ tập thể để vận dụng linh hoạt các hình thức hoạt động của Hội cho phù hợp với từng nội dung, ý nghĩa trong từng thời gian, thời điểm cụ thể.

 

Đồng chí Nguyễn Đức Phú – Phó Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia, Phụ trách hội Cựu chiến binh Cục  phát biểu tại Đại hội

Tham dự và phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Đức Phú – Phó Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia, Phụ trách hội Cựu chiến binh đánh giá cao những đóng góp cả tinh thần và trí tuệ của Hội Cựu Chiến binh Cục trong việc xây dựng và phát triển của Cục Viễn thám quốc gia ngày càng vững mạnh.

Để đẩy mạnh hơn các hoạt động hiệu quả của Hội trong thời gian tới, đồng chí Nguyễn Đức Phú  yêu cầu các hội viên Hội Cựu chiến binh Cục cần làm tốt 10 nhiệm vụ đó là:

1. Gương mẫu thực hiện nhiệm vụ trong cương vị công tác của mình, tích cực tham gia quản lý và nghiên cứu khoa học, nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý, trong lao động nghiệp vụ, tích cực ủng hộ sự nghiệp đổi mới trong quản lý của Cục

2. Phát huy bản chất anh “Bộ Đội Cụ Hồ”, nên cao tinh thần đồng đội, tinh thần tập thể; phấn đấu là hạt nhân đoàn kết trong đơn vị cùng đơi vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

3. Trên cương vị công tác phấn đấu quản lý, phục vụ tốt, tích cực tham gia phong trào cùng với các tổ chức chính trị Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, vào các hoạt động giáo dục truyền thống và tuyên truyền học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Cục.

4. Thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng ủy, quy chế, quy định của Cục, góp phần xây dựng Cục ngày một vưng mạnh, toàn diện.

5. Sẵn sàng tham gia vào các hoạt động bảo vệ trật tự trị an, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, tham gia vào các hoạt động xã hội và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các hội viên.

6. Tham gia sinh hoạt Hội và tự nguyện thực hiện trách nhiệm phấn đấu trở thành hội viên gương mẫu và thực hiện tốt điều lệ Hội Cựu chiến binh.

7. Tổ chức các hoạt động thăm hỏi, giúp đỡ Hội viên khó khăn, tổ chức gặp mặt các hội viên, đi tham quan di tích cách mạng và chiến trường xưa vào các ngày lễ kỷ niệm quân đội 22/12 và thống nhất đất nước 30/04 (Kết hợp với Công đoàn).

8. Thường xuyên xây dựng và phát triển Hội, đoàn kết, nhất trí xây dựng Hội ngày một vững mạnh toàn diện.

9. Hội Cựu chiến binh hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Lãnh đạo Cục và chỉ đạo của Hội Cựu chiến binh Bộ TN&MT, chủ động tổ chức các hoạt động phong trào hiệu quả và thiết thực.

10. Trong từng Năm, Quý, Tháng, Ban chấp hành Hội đề ra kế hoạch cụ thể gắn với nhiệm vụ chung của Cục và vận động các hội viên thực hiện tốt nhiệm vụ của Hội.

 

Tham dự và chỉ đạo tại hội nghị, đồng chí Trần Tuấn Ngọc, Bí thư Đảng ủy, Phó cục trưởng Cục Viễn thám Quốc gia chia sẻ: Lãnh đạo Cục luôn đồng hành và ủng hộ những hoạt động của Hội Cựu chiến binh Cục,  Lãnh đạo Cục luôn tin tưởng Hội cũng như các cực chiến binh trong hội đoàn kết, phát huy truyền thồng “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ nhân dân.

 

Đồng chí Trần Tuấn Ngọc, Bí thư Đảng ủy, Phó cục trưởng Cục Viễn thám Quốc gia phát biểu tại Đại Hội

Đồng chí Trần Tuấn Ngọc cũng mong rằng, trong thời gian tới, Hội Cựu chiến binh Cục Viễn thám quốc gia tiếp tụcphấn đấu xây dựng thành Hội Cựu chiến binh cơ sở đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu trong nhiệm kỳ (2017-2022) góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Gương mẫu chấp hành đúng mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các văn bản pháp luật của Nhà nước, Bộ ban hành. Bên cạnh đó phải luôn xây dựng Hội ngày vững mạnh về tổ chức, nâng cao chất lượng hội viên Cựu chiến binh của Cục.

Cũng trong buổi tổng kết, Hội cựu chiến binh Cục viễn tham quốc gia đã tiến hành bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch nhiệm kỳ mới (2017-2022). Kết quả, đồng chí Nguyễn Đình Sơn được bầu làm Chủ tịch Hội cựu chiến binh Cục viễn thám Quốc gia với kết quả 100% số phiếu, đồng chí Vũ Văn Phong được bầu làm Phó chủ tịch.

CVTQG

Địa danh đã chuẩn hoá được đưa vào sử dụng rộng rãi và thống nhất trên tất cả các ấn phẩm, các phương tiện thông tin đại chúng và đặc biệt được đưa vào giảng dạy tại các trường phổ thông sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về mặt chính trị – xã hội, kinh tế cũng như hội nhập quốc tế. Việc chuẩn hóa địa danh để tránh sự tranh chấp về lãnh thổ, bảo vệ thương hiệu của doanh nghiệp; tạo thuận lợi trong việc tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn…

Tránh sự tranh chấp về lãnh thổ

Trước hết sẽ tránh được những tranh cãi quốc tế về chính trị. Có thể dẫn ra những ví dụ điển hình về việc tranh chấp địa danh dưới đây. Hiện tại ngành bưu điện của Balan từ chối thư gửi theo những địa danh cũ (thời phát xít Đức chiếm đóng Ba Lan). Hy Lạp từ chối chấp nhận Macedonia là địa danh thuộc Liên bang Nam Tư cũ mà coi địa danh đó là chỉ một địa điểm tại Bắc Hy Lạp. Đối với nước ta, việc chuẩn hoá địa danh biển, đảo, địa danh vùng biên giới là đặc biệt quan trọng. Những địa danh này sau khi trình nộp cho UNGEGN để phổ biến rộng rãi trên thế giới sẽ là căn cứ pháp lý vững chắc tránh những tranh cãi trong tương lai về chủ quyền lãnh thổ.

Góp phần vào sự hội nhập quốc tế

Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đánh dấu một bước đáng kể trong quá trình hội nhập của Việt Nam với thế giới. Sự giao lưu của Việt Nam với thế giới sẽ trở nên nhộn nhịp, sôi động hơn và mỗi con người chúng ta sẽ có nhiều cơ hội để giao tiếp, làm việc với bạn bè khắp thế giới.

Trong quá trình giao tiếp, làm việc không thể không nhắc đến địa danh nào đó và nếu chúng ta sử dụng địa danh không chuẩn sẽ gây ra những hiểu lầm hoặc không hiểu. Các bạn Quốc tế hiện đang công tác, học tập tại Việt Nam tuy có thể đánh vần được chữ Việt nhưng không thể tìm trên bản đồ của chúng ta những địa danh mà họ quan tâm cho dù đó là tên của Quốc gia, thủ đô hay thành phố lớn. Học sinh, cán bộ của chúng ta khi ra nước ngoài công tác, học tập gặp rất nhiều khó khăn khi nói và viết về địa danh của các nước bạn, ngay cả đối với các nước láng giềng. Vì vậy, chúng ta cần phải chuẩn hoá địa danh Việt Nam, trình cho UNGEGN để họ phổ biến cho cả thế giới có thể đọc đúng địa danh Việt Nam, đồng thời chúng ta cũng cần chuẩn hoá việc phiên chuyển địa danh Quốc tế, sử dụng các địa danh đã Latinh hoá của các nước đã trình nộp cho UNGEGN để người Việt Nam có thể đọc đúng các địa danh Quốc tế.

Góp phần vào việc bảo vệ thương hiệu hàng hóa

Có một loại thương hiệu hàng hóa gắn liền với Địa danh vì vậy việc đăng ký chỉ dẫn địa lý trong đó Địa danh, tọa độ của đối tượng mang địa danh là những yếu tố không thể thiếu. Địa danh đã được chuẩn hóa sẽ góp phần rất đáng kể cho việc đăng ký chỉ dẫn địa lý. Những thương hiệu hàng hóa nổi tiếng của Việt Nam đã được Thế giới công nhận với chỉ dẫn địa lý cụ thể như: nước mắm Phú Quốc, café Buôn Ma Thuột, kẹo dừa Bến Tre v.v…

Góp phần vào việc cứu hộ, cứu nạn

Đã có những thảm họa nhân đạo trong việc cứu hộ, cứu nạn liên quan đến nhầm lẫn địa danh nên tổ chức cứu hộ, cứu nạn Thế giới rất quan tâm đến việc chuẩn hóa địa danh. Nhóm chuyên gia Liên Hiệp Quốc yêu cầu các nước chuẩn hóa địa danh và lập danh mục địa danh đã được chuẩn hóa để phổ biến trên toàn Thế giới. Danh mục Địa danh đã được chuẩn hóa bao gồm tên gọi đúng của địa danh kèm theo tọa độ địa lý và sự phụ thuộc của địa danh theo đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh).

Tránh những phiền toái trong cuộc sống

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta đều phải xem tivi, đọc báo, nghe đài. Cùng nói về một địa danh nhưng các đài phát thanh và truyền hình Trung ương và địa phương lại nói khác nhau, các báo viết khác nhau khiến cho người dân không biết phải đọc, phải viết thế nào cho đúng. Ví dụ: Li băng/Libano, Bờ Biển Ngà/Côt di Voa, Ma-xcơ-va/Matcơva/Maxcơva… Học sinh lại phải đọc và viết địa danh theo sách giáo khoa và bản đồ giáo khoa không giống với các phương tiện thông tin đại chúng, không giống với các bản đồ địa hình, bản đồ chuyên đề do Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như các Bộ, ngành khác xuất bản làm cho các em hết sức lúng túng và nghi ngờ về người lớn. Người lớn muốn nói kiểu gì cũng đúng và đều phải nghe.

Thúc đẩy sự hoàn thiện của ngôn ngữ Việt

Trong quá trình chuẩn hóa địa danh sẽ cho thấy những hạn chế của chính tả tiếng Việt cũng như hệ thống chữ Quốc ngữ của chúng ta. Do bộ chữ cái hiện tại và chính tả tiếng Việt mà việc phiên chuyển địa danh quốc tế cũng như địa danh các dân tộc Việt Nam sang tiếng Việt gặp rất nhiều khó khăn. Quá trình chuẩn hóa sẽ đòi hỏi và thúc đẩy những cải cách tiếng Việt. Ví dụ nếu chính tả cho phép dùng chữ K với các nguyên âm a, o, u, cho phép dùng chữ “f” thay cho chữ “ph”, cho phép dùng chữ z, j trong những trường hợp cần thiết thì sẽ làm cho việc phiên âm kết hợp với chuyển tự các địa danh có tự dạng Latinh và Latinh hoá dễ dàng hơn và mặt chữ sau khi phiên chuyển gần với nguyên ngữ và đẹp hơn, dễ tra cứu hơn.

Trong quá trình chuẩn hoá cũng luôn phải lưu tâm đến phương ngữ (cách phát âm khác nhau giữa các địa phương khác nhau đối với cùng một âm, các tiếng địa phương) điều này làm cho địa danh được làm chính xác hơn, có ý nghĩa hơn. Chẳng hạn nếu chuẩn thì Dung Quất phải được gọi và viết là Vụng Quýt, Văn Phong phải được viết là Vân Phong, hay khi nào thì viết s hay x, tr hay ch, ă hay â,…

CTTĐT

Đo đạc và bản đồ là một nhiệm vụ quan trọng và không thể thiếu trong công tác xác định, quản lý và bảo vệ biên giới, lãnh thổ quốc gia. Thực tiễn và luật pháp quốc tế cho thấy quá trình đàm phán hoạch định biên giới quốc gia thông thường gồm 04 giai đoạn: (i) Thỏa thuận nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới; (ii) Hoạch định đường biên giới; (iii) Phân giới, cắm mốc; và (iv) Bảo vệ, quản lý biên giới, mốc giới, trong đó có ít nhất 03 giai đoạn hoạch định, phân giới cắm mốc và quản lý, bảo vệ biên giới buộc phải gắn bó chặt chẽ với công tác đo đạc, bản đồ. Thậm chí, trong một số trường hợp, ngay cả giai đoạn thỏa thuận nguyên tắc cũng phải sử dụng bản đồ.

Trong những năm qua, việc ứng dụng khoa học đo đạc và bản đồ phục vụ công tác biên giới, lãnh thổ đã đạt được những kết quả quan trọng. Cụ thể:

Đối với biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc

Trong quá trình giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, ta đã nghiên cứu, sử dụng các loại bản đồ sau: Các bản đồ tỷ lệ 1/100.000 do Pháp xuất bản trước năm 1945; các bản đồ, sơ đồ thể hiện kết quả hoạch định, phân giới, cắm mốc (nhiều tỷ lệ) giữa Pháp và Nhà Thanh (Trung Quốc) theo các công ước 1887 – 1895; các bản đồ tỷ lệ 1/100.000 do Liên xô (cũ) cung cấp cho Việt Nam, xuất bản sau năm 1945 và sau này là bộ bản đồ tỷ lệ 1/50.000 do Việt Nam và Trung Quốc cùng bay chụp, xuất bản trong giai đoạn giải quyết biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc. Trong đó, bộ bản đồ tỷ lệ 1/50.000 do Việt Nam và Trung Quốc cùng xuất bản phục vụ phân giới, cắm mốc và đính kèm Nghị định thư phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc là bộ bản đồ được thành lập theo công nghệ hiện đại, tiên tiến từ ảnh hàng không.

Đối với biên giới Việt Nam – Lào

Khi giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam – Lào, hai bên đã sử dụng các bản đồ tỷ lệ 1:100.000 do Pháp xuất bản năm 1945 hoặc gần năm 1945 nhất. Từ năm 2003, hai bên đã phối hợp xây dựng bộ bản đồ biên giới quốc gia Việt Nam – Lào tỷ lệ 1/50.000. Bộ bản đồ này đã được hai bên sử dụng hiệu quả trong quá trình thực hiện Dự án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam – Lào giai đoạn 2008 – 2015, đồng thời, đính kèm Nghị định thư đường biên giới, mốc quốc giới ký ngày 16/3/2016 và vừa được Quốc hội hai nước thông qua.

 Đối với biên giới đất liền Việt Nam – Campuchia

Trong quá trình giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam – Campuchia, ngay từ giai đoạn đàm phán thỏa thuận nguyên tắc, hai bên đã nhất trí sử dụng bộ bản đồ Bonne, tỷ lệ 1/100.000 do Sở Địa dư Đông dương thành lập trước năm 1954 hoặc gần năm 1954 nhất (gồm 26 mảnh) làm cơ sở. Trong quá trình đàm phán, ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới và phân giới, cắm mốc hai bên đã đồng ý sử dụng hai bộ bản đồ Bonne, tỷ lệ 1/100.000 và UTM tỷ lệ 1/50.000 (đính kèm Hiệp ước hoạch định 1985). Hiện tại, Ủy ban liên hợp phân giới, cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam – Campuchia đang phối hợp với Công ty Blominfo A/S của Đan Mạch triển khai thành lập bộ bản đồ địa hình biên giới trên đất liền Việt Nam – Campuchia phục vụ công tác phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền giữa hai nước (sau khi được cập nhật đường biên giới, vị trí mốc giới, bộ bản đồ này sẽ được đính kèm Nghị định thư phân giới, cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam – Campuchia).

 

Đối với biên giới trên biển

Trong đàm phán phân định biển, công tác đo đạc, bản đồ cũng đã có nhiều đóng góp quan trọng, ví dụ như: Căn cứ Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), đến nay Việt Nam đã tiến hành đàm phán, ký kết 03 Hiệp định phân định ranh giới các vùng biển với Thái Lan (ký ngày 09/8/1997); Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25/12/2000); Hiệp định phân định thềm lục địa với Indonesia (ký ngày 26/6/2003); Báo cáo chung Việt Nam – Malaysia xác định ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý (tháng 5/2009), trong quá trình này, nhiều bản đồ, hải đồ đã được sử dụng. Trước đó, Việt Nam cũng đã đàm phán và ký Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia (ký ngày 07/7/1982), Thỏa thuận thăm dò khai thác dầu khí trong khu vực thềm lục địa chồng lấn với Malaysia (ký ngày 05/6/1992).

Các hoạt động quản lý Nhà nước về biển trong việc phân định, xác định ranh giới biển nêu trên cho thấy công tác đo đạc và thành lập bản đồ luôn gắn kết với các hoạt động của công tác bảo vệ chủ quyền biên giới.

Trong quản lý biên giới, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ

Sau khi có một đường biên giới rõ ràng, được mô tả bằng lời văn, thể hiện trên bản đồ đính kèm Nghị định thư phân giới, cắm mốc và đánh dấu bằng hệ thống mốc giới trên thực địa (trong trường hợp chưa hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc thì ít nhất hai bên cũng có thỏa thuận về việc quản lý theo đường biên giới mà hai bên đang quản lý thực tế), mỗi bên sẽ căn cứ vào đường biên giới này để tiến hành các hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình. Ở giai đoạn này, công tác đo đạc, bản đồ cũng thể hiện được vai trò và tầm quan trọng của mình, nhất là trong trường hợp xác định vị trí, phạm vi để giải quyết các vụ việc xảy ra trên biên giới hay vị trí quy hoạch xây dựng các công trình trong khu vực biên giới. Ví dụ như trong quá trình thực hiện Dự án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới nêu trên, ngoài việc đo đạc chính xác tọa độ, độ cao các cột mốc quốc giới bằng máy GPS hai tần hiện đại, công tác đo đạc, bản đồ cũng có đóng góp đáng kể khi đo vẽ bản đồ tỷ lệ lớn tại các khu vực cửa khẩu chính và quốc tế để phục vụ cho công tác quản lý biên giới và quy hoạch xây dựng công trình đảm bảo hoạt động của các cửa khẩu này.

 

Do tính chất đặc thù của công tác đàm phán, giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ cả trên đất liền và trên biển, việc sử dụng bản đồ/hải đồ nào phải do các bên liên quan thỏa thuận. Chính vì vậy, các loại bản đồ Việt Nam xuất bản thường chỉ được dùng làm tài liệu tham khảo. Trong thực tế, ta và các nước liên quan chủ yếu dùng bản đồ, hải đồ của nước thứ ba hoặc thống nhất cùng xây dựng bản đồ, hải đồ mới để giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ.

CTTĐT

“Tập trung xây dựng dự thảo Nghị định, các Thông tư quy định về hoạt động viễn thám. Tăng cường công tác điều tra, đánh giá, giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường bằng công nghệ viễn thám và địa tin học”…là những nhiệm vụ được đẩy mạnh trong lĩnh vực viễn thám từ đầu năm đến nay.

Bên cạnh đó, Bộ còn đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án Giám sát một số vùng biển, đảo trọng điểm xa bờ bằng công nghệ viễn thám phục vụ phát triển KT-XH và bảo đảm an ninh quốc phòng; các đề án, dự án quản lý, giám sát biến động TNMT biển và hải đảo bằng công nghệ viễn thám. Xây dựng cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia; hiệu chỉnh bản đồ địa hình quốc gia tỷ lệ 1/50.000 bằng ảnh viễn thám khu vực Biên giới Việt – Trung, Tây Bắc và khu vực Nghệ An – Thanh Hóa. Ứng dụng công nghệ viễn thám, GIS trong giám sát xói lở bờ biển tại một số khu vực trọng điểm miền Trung, giám sát việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất khu vực đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Kiểm kê quốc gia khí nhà kính năm 2016 trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) phục vụ xây dựng các báo cáo quốc gia và đóng góp của Việt Nam cho công ước khí hậu.

Từ nay đến cuối năm, Bộ sẽ tiếp tục tổ chức giám sát thường xuyên diễn biến về TN&MT biển, đảo, BĐKH, hoạt động khai thác tài nguyên nước ngoài biên giới bằng công nghệ viễn thám. Hoàn thiện quy trình giám sát, giám sát nhanh bằng viễn thám; thực hiện việc giám sát các biến động khu vực biên giới quốc gia, các đảo xa bờ, các khu vực ô nhiễm, biến động nguồn nước.

CTTĐT

Đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Bộ Tài nguyên và Môi trường chú trọng trong năm 2017.

Bộ Tài nguyên và  Báo cáo, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội đối với dự thảo Luật đo đạc và bản đồ tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV. Khẩn trương hoàn thiện các Nghị định hướng dẫn thi hành. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án về đo đạc bản đồ,… Đẩy mạnh công tác phân giới cắm mốc Việt Nam – Campuchia; tham gia đàm phán với các nước liên quan các vấn đề Biển Đông và thực hiện quản lý lãnh thổ trên biển, đảo.

Trong thời gian tới, Bộ tiếp tục tập trung chỉnh sửa, hoàn thiện dự án Luật Đo đạc và bản đồ sau kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV. Hoàn thành dự án Xây dựng cơ sở dữ liệu nền thông tin địa hình cơ bản phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế – xã hội và giám sát TNMT nước CHDCND Lào. Tiếp tục hoàn thiện và hiện đại hóa mạng lưới tọa độ, độ cao, độ sâu, trọng lực quốc gia; dự án cơ sở dữ liệu biên giới Việt Nam – Trung Quốc trực tuyến.

CTTĐT

Đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản nhằm bảo đảm thông tin, số liệu đo đạc mặt đất, cơ sở dữ liệu và bản đồ địa hình cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn. Hoạt động đo đạc và bản đồ phục vụ quốc phòng, an ninh hay nói ngắn gọn là hoạt động đo đạc và bản đồ quốc phòng là việc xác định và cung cấp thông tin các đối tượng địa hình, địa vật trên bề mặt Trái Đất cho các hoạt động quân sự, quốc phòng.

Sản phẩm đo đạc và bản đồ hay các yếu tố địa hình, địa vật giữ vai trò vô cùng quan trọng, không thể thiếu được đối với các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở các cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng về quân sự của địa hình như sau: “…Trong quân sự đành rằng phải có binh mạnh tướng giỏi, nhưng không nghiên cứu địa hình một cách tường tận, không thể xuất trận thành công được. Trên mặt trận, biết lợi dụng địa hình, đánh trận không hao tổn công sức mà được thắng lợi dễ dàng…”. Nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu nhất của hoạt động đo đạc và bản đồ quốc phòng chính là cung cấp các thông tin địa hình đầy đủ, chính xác, kịp thời cho hoạt động đào tạo, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội.

 

Trong Quân đội, bản đồ là tài liệu chính để nghiên cứu, đánh giá địa hình. Bản đồ địa hình dùng để viết vẽ văn kiện tác chiến, bố trí lực lượng, định vị trên chiến trường… Hàng năm Quân đội cấp phát cho các cơ quan, đơn vị trong toàn quân sử dụng hơn 2 triệu tờ bản đồ, hải đồ các loại từ tỷ lệ 1/10.000, 1/25.000, 1/50.000, 1/100.000, 1/200.000, 1/250.000, 1/300.000, 1/ 500.000, 1/1.000.000 đến tỷ lệ 1/2.500.0000 v.v…, chưa kể các bản đồ chuyên đề, ảnh hàng không và cơ sở, dữ liệu thông tin địa lý khác. Trong đó bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000 chiếm khoảng 45% số lượng sử dụng hàng năm.

 

Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, theo sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 9 năm 1945, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam – Cơ quan tham mưu cơ mật của đoàn thể, cơ quan đầu não của Quân đội được thành lập. Chỉ sau thời gian rất ngắn, ngày 25 tháng 9 năm 1945, Phòng Đồ bản – Tiền thân của Cục Bản đồ/Bộ Tổng Tham mưu ngày nay chính thức được ra đời. Từ một cơ sở rất nhỏ với số cán bộ, nhân viên kỹ thuật ít ỏi cùng cơ sở vật chất nghèo nàn, dụng cụ thô sơ giành được từ các cơ sở sản xuất bản đồ của Pháp ở Đông Dương, Phòng Đồ bản đã tạo ra bước chuyển phương thức sản xuất từ vẽ, phơi từng mảnh bản đồ dần dần tiến lên sản xuất bản đồ in kẽm theo phương pháp Nhật Chiếu, phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ tác chiến của các trung đoàn, đại đoàn chủ lực và phục vụ công tác chỉ đạo của các cơ quan Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp. Thời kỳ này, đơn vị đã lập được nhiều chiến công rất đáng tự hào: Chỉ trong ba ngày đêm đã hoàn thành vẽ sao chép tờ bản đồ Điện Biên Phủ tỷ lệ 1/25.000 mới lấy được của địch và in ra với số lượng lớn, kịp thời phục vụ các hoạt động tác chiến của bộ đội ta, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 07 tháng 5 năm 1954.

 

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, Phòng Bản đồ/Bộ Tổng Tham mưu liên tục được củng cố, phát triển cả về tổ chức, lực lượng, cũng như về chuyên môn kỹ thuật chuyên ngành. Nhờ đó, đơn vị đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị cả trong thời bình và thời chiến, đặc biệt là nhiệm vụ sản xuất bản đồ phục vụ kịp thời cho chiến trường chiến đấu, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bước vào thời kỳ đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 17 tháng 5 năm 1976, Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định số 112/QĐ-QP phát triển Phòng Bản đồ thành Cục Bản đồ trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Với vai trò là Cơ quan Bản đồ cấp chiến lược, từ năm 2000 đến nay, Cục Bản đồ/Bộ Tổng Tham mưu đã tích cực chủ động tham mưu đề xuất với Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết định thành lập lại các cơ quan Bản đồ cấp chiến dịch, làm cơ sở để phối hợp với các đơn vị cấp chiến dịch tổ chức thành lập các cơ quan Bản đồ cấp chiến thuật, tạo được vị thế mới, đồng thời đánh dấu sự trưởng thành ngày càng lớn mạnh của Cục Bản đồ và ngành Địa hình quân sự.

 

Theo đó, ngành Địa hình quân sự (ĐHQS) được tổ chức theo 3 cấp, gồm: (i) Cơ quan Bản đồ cấp chiến lược là Cục Bản đồ/Bộ Tổng Tham mưu có chức năng tham mưu với Tổng Tham mưu trưởng hoạch định chủ trương, chiến lược, cơ chế, chính sách, kế hoạch, nội dung, biện pháp công tác ĐHQS phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội; giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý nhà nước đối với các hoạt động đo đạc và bản đồ theo thẩm quyền. Nhiệm vụ chính của Cơ quan Bản đồ cấp chiến lược: Chủ trì quản lý, tổ chức thực hiện các hoạt động đo đạc và bản đồ trong Quân đội; tổ chức sản xuất, quản lý, lưu trữ, bảo quản, bảo mật, cấp phát tư liệu địa hình, thông tin địa lý; tham gia quản lý nhà nước hoạt động đo đạc và bản đồ (Cấp phép, giám sát hoạt động bay chụp ảnh hàng không, các hoạt động đo đạc và bản đồ trong khu vực biên giới, biển đảo; tổ chức xóa mục tiêu quân sự trên không ảnh trước khi đưa vào sử dụng cho mục đích dân sự; hoạch định, phân định biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển).

 

(ii) Cơ quan Bản đồ cấp chiến dịch là các Phòng, Ban Bản đồ được xây dựng tại các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, tổng cục, các bộ Tư lệnh, học viện, nhà trường. Cơ quan Bản đồ cấp chiến dịch thuộc quyền quản lý của người chỉ huy đơn vị trực tiếp, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ ĐHQS của Cục Bản đồ. Nhiệm vụ chính của cơ quan Bản đồ cấp chiến dịch là thường xuyên cập nhật sự thay đổi các yếu tố địa hình, thông tin địa lý trên địa bàn hoạt động của đơn vị và cung cấp đầy đủ, kịp thời cho Cục Bản đồ để chỉnh lý, hiện chỉnh cơ sở dữ liệu địa hình; thành lập các loại bản đồ chuyên dụng, chuyên ngành, chuyên đề, hệ thông tin địa lý quân sự phục vụ yêu cầu đặc thù của mỗi đơn vị, đồng thời thực hiện công tác đào tạo, huấn luyện ĐHQS tại đơn vị.

 

Riêng Đoàn Đo đạc, Biên vẽ hải đồ và Nghiên cứu biển là đơn vị thuộc Quân chủng Hải quân, chịu sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tham mưu Quân chủng và sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ ĐHQS của Cục Bản đồ. Nhiệm vụ chính của Đoàn là thực hiện các hoạt động khảo sát, đo đạc, biên vẽ hải đồ, nghiên cứu biển, thăm dò tài nguyên biển phục vụ mục đích quốc phòng, kinh tế; đo đạc và thu thập thông tin địa lý quân sự trên biển, ven biển; quản lý, sản xuất hải đồ.

 

(iii) Cơ quan Bản đồ cấp chiến thuật được tổ chức thành các Bộ phận Bản đồ tại các đơn vị cấp chiến thuật như: Bộ chỉ huy quân sự, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các sư đoàn Bộ binh và Phòng không – Không quân, lữ đoàn; học viện, nhà trường trực thuộc quân khu, quân chủng, bộ Tư lệnh; bộ Tư lệnh các binh chủng, vùng Hải quân, vùng Cảnh sát biển… Nhiệm vụ chính của cơ quan Bản đồ cấp chiến thuật là tổ chức cập nhật sự thay đổi các yếu tố địa hình, thông tin địa lý trên địa bàn quản lý của đơn vị và cung cấp đầy đủ, kịp thời cho cơ quan Bản đồ cấp trên để chỉnh lý, hiện chỉnh cơ sở dữ liệu địa hình; dự trù, tiếp nhận, lưu trữ, bảo quản, bảo mật, cấp phát tư liệu địa hình.

 

Hiện nay, ngành ĐHQS đang quản lý, khai thác sử dụng một khối lượng lớn trang thiết bị gồm nhiều chủng loại khí tài khác nhau. Hầu hết, các trang thiết bị mới được đầu tư và hiện đại, được ứng dụng, tích hợp những thành tựu tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ, có độ chính xác cao, mức độ tự động hóa lớn. Với đội ngũ chuyên môn kỹ thuật đông đảo, có trình độ cao được đào tạo cơ bản, chính quy ở trong và ngoài Quân đội, hệ thống máy móc, trang thiết bị tiên tiến, ngành ĐHQS đã tổ chức thực hiện tốt các hoạt động đo đạc và bản đồ phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

 

Từ khi thành lập đến nay, ngoài nhiệm vụ quốc phòng thường xuyên, ngành Địa hình quân sự đã phối hợp hoặc độc lập thực hiện một số dự án lớn, điển hình là: Dự án “Hệ quy chiếu – Hệ tọa độ quân sự” kịp thời phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đặc biệt trên hướng biển đảo; Dự án “Thành lập bản đồ địa hình trực ảnh tỷ lệ 1/50.000 phủ trùm lãnh thổ đất liền toàn quốc” đã tạo ra Bộ bản đồ địa hình gồm 576 mảnh làm cơ sở quan trọng để đổi mới hệ thống bản đồ địa hình sử dụng trong Quân đội; Dự án “Đổi mới hệ thống bản đồ địa hình tỷ lệ 1/100.000 – 1/1.000.000 sử dụng trong Quân đội” đã thống nhất về cơ sở toán học, nội dung, ký hiệu biểu thị toàn hệ thống bản đồ địa hình từ tỷ lệ 1/100.000 đến 1/1.000.000 sử dụng trong Quân đội. Đồng thời đã triển khai một loạt các dự án quan trọng khác: “Xây dựng cơ sở dữ liệu nền địa lý quân sự các tỷ lệ từ 1/50.000 đến 1/1.000.000”; “Khảo sát, đo đạc thành lập hải đồ tỷ lệ 1/100.000 khu vực quần đảo Trường Sa”; “Xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ quản lý, quy hoạch, sử dụng đất quốc phòng”; “Xây dựng Bộ bản đồ không gian 3 chiều biên giới trên đất liền Việt Nam – Cămpuchia, Việt Nam – Lào”; “Thành lập và hoàn chỉnh hệ thống bản đồ trực ảnh địa hình tỷ lệ 1/25.000 phủ trùm toàn quốc”; các dự án trên biển: “Đo đạc, thành lập bản đồ tỷ lệ 1/100.000 ven biển Việt Nam”; “Đo đạc cửa Vịnh Bắc bộ”; “Đo đạc ranh giới ngoài tỷ lệ 1/2.500.000”; “Đo đạc thành lập bản đồ không gian ba chiều, bản đồ thủy âm phục vụ cho tàu ngầm”; “Đo đạc thành lập hệ thống hải đồ, bản đồ biển các tỷ lệ”… Các dự án nêu trên đã tạo ra một hệ thống thông tin, tư liệu đo đạc và bản đồ hoàn chỉnh, kịp thời bảo đảm cho các hoạt động quân sự, quốc phòng của Quân đội và tham mưu hiệu quả cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên bộ, trên biển và hải đảo.

CTTĐT

Hạ tầng dữ liệu không gian (SDI) phát triển ở một quốc gia dưới dạng hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia (NSDI) là công cụ trợ giúp trực tiếp vào xây dựng chính phủ điện tử và cải cách hành chính, phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. NSDI ở mỗi quốc gia là cơ sở để xây dựng SDI toàn cầu – công cụ thông tin trợ giúp tích cực cho con người quyết định chính xác về những bước phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Trái đất.

Ở nước ta việc xây dựng dữ liệu không gian và phát triển hạ tầng dữ liệu không gian được đặt ra khá sớm. Năm 1996, Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã bắt đầu lập Dự án khả thi xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên đất (bao gồm CSDL địa lý và CSDL đất đai). Dự án được Chính phủ phê duyệt năm 1998, bắt đầu triển khai năm 1999, là một trong 7 CSDL quốc gia được phê duyệt vào thời điểm đó. Công tác xây dựng dữ liệu đo đạc bản đồ cơ bản và dữ liệu địa chính được đẩy mạnh, từ năm 2006, bắt đầu xây dựng chuẩn nội dung dữ liệu, v.v… Tổng kinh phí đầu tư hàng năm cho thu thập dữ liệu không gian khung là khoảng 74 triệu USD, cho hệ thống mạng khoảng 1 triệu USD và cho thiết bị và công nghệ khoảng 2 triệu USD.

 

Tuy nhiên việc phát triển NSDI ở Việt Nam vẫn còn đơn lẻ, thiếu tính nhất quán. Cụ thể, Việt Nam đã có một số chính sách phát triển hạ tầng dữ liệu không gian, nhưng các chính sách này mang tính đơn lẻ, chưa đồng bộ, thống nhất theo hướng một hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia thống nhất. Trong các thành phần của NSDI, mới chỉ tập trung phát triển thành phần dữ liệu là chính, thành phần chuẩn chỉ mới bắt đầu, thành phần công nghệ chưa thật đồng bộ, các thành phần khác còn rất hạn chế.

 

Về hoạt động phát triển thành phần dữ liệu được giao cho nhiều bộ, ngành. Đo đạc – bản đồ cơ bản, một phần đo đạc biển, viễn thám; đo đạc – bản đồ chuyên ngành đất đai, địa chất – khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện; đo đạc – bản đồ các chuyên ngành khác do các bộ ngành khác thực hiện. Năm 2013, Chính phủ đã giao nhiệm vụ “Xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác hạ tầng dữ liệu không gian địa lý” cho Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhưng vẫn chưa có một cơ quan của Chính phủ điều phối giữa các bộ, ngành về NSDI.

 

Cùng với đó, việc xây dựng dữ liệu không gian khung và dữ liệu địa chính đã được đầu tư khá lớn và đã khá đầy đủ và đa dạng, nhưng việc sử dụng các dữ liệu này còn hạn chế, chưa phát huy được hết năng lực thông tin, chưa phục vụ được nhu cầu hiện đại hóa quy hoạch thông qua phân tích không gian. Các dữ liệu không gian này chưa được cập nhật thường xuyên. Các dữ liệu không gian đang tồn tại dưới dạng tập hợp dữ liệu hoặc cơ sở dữ liệu đơn lẻ, chưa được kết nối trong một hạ tầng thông tin không gian thống nhất. Cho đến nay, chưa có một địa phương nào công khai thông tin đất đai trên mạng. Sự cát cứ thông tin đang xẩy ra trong các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lưu trữ và quản lý thông tin, do đó, doanh nghiệp và người dân khó tiếp cận thông tin.

 

Về chuẩn, mới ban hành được một số chuẩn như: chuẩn thông tin địa lý cơ sở; chuẩn dữ liệu nền địa lý 1:2.000, 1:5:000; chuẩn dữ liệu địa chính; chuẩn địa danh thể hiện trên bản đồ. Nhiều chuẩn dữ liệu khác và chuẩn dịch vụ thông tin chưa được ban hành.

 

Bên cạnh đó, công nghệ thu thập và xử lý dữ liệu không gian được áp dụng từ hơn 20 năm nay đã mang lại hiệu quả rất lớn, tuy nhiên trong vài năm gần đây đầu tư cho đổi mới công nghệ có chiều hướng giảm. Các giải pháp về kiến trúc hệ thống, về mạng viễn thông, về thiết bị thông tin, về an toàn và bảo mật chưa được phát triển một cách đồng bộ theo hướng phát triển NSDI thống nhất. Công nghệ ICT và công nghệ GIS đang có tốc độ phát triển khá nhanh trên thế giới. Việt Nam có thể lựa chọn các giải pháp mới về công nghệ cho phát triển NSDI.

 

Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh công nghệ ICT ở Việt Nam tiếp cận khá tốt với trình độ công nghệ trên thế giới nhưng hầu như chưa kinh doanh dịch vụ về thông tin không gian do e ngại và chưa có cơ chế mở, việc cung cấp thông tin không gian chỉ do các cơ quan nhà nước thực hiện. Trình độ dân trí về thông tin không gian không cao do không được tiếp cận nên doanh nghiệp, người dân không có nhu cầu bức xúc về sử dụng thông tin không gian. Công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao nhận thức cộng đồng về NSDI chưa được quan tâm đúng mức, do đó, không đủ nguồn nhân lực cho phát triển NSDI, nhất là ở khu vực địa phương. Đặc biệt là Hợp tác quốc tế về NSDI còn yếu.

 

Nhằm thúc đẩy phát triển hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia cần ban hành các chính sách bắt buộc sử dụng thông tin không gian trong phân tích chính sách, quy hoạch, đầu tư phát triển, quản lý đối với các ngành kinh tế, hướng tới mục tiêu “chính quyền tiếp nhận không gian”; luật hóa các nội dung về phát triển, quản lý hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia và bổ sung nội dung áp dụng NSDI vào một số luật hiện hành như Luật Đất đai, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử, v.v., hướng tới mục tiêu “xã hội tiếp nhận không gian”; tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho NSDI trong thời gian trước mắt cùng với các chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và đối tác nước ngoài tham gia đầu tư.

 

Trong thời gian tới cần có chính sách, thể chế đồng bộ về phát triển NSDI cụ thể:

(1) Cần phê duyệt Chiến lược phát triển hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia Việt Nam. Trong Báo cáo ”Nghiên cứu chiến lược phát triển hạ tầng thông tin quốc gia cho Việt Nam” năm 2012, Nhóm nghiên cứu chung của Ngân hàng Thế giới và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng Chiến lược phát triển NSDI Việt Nam. Đây là một tài liệu có thể làm cơ sở để bổ sung, hoàn thiện thành văn bản chính thức trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.

 

(2) Cần xây dựng và ban hành Luật về  hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia Việt Nam.

(3) Cần thành lập Uỷ ban quốc gia về hạ tầng dữ liệu không gian nhằm  thống nhất công tác quản lý, điều phối và thúc đẩy sự phát triển, chia sẻ, khai thác, sử dụng và phổ biến dữ liệu không gian quốc gia.

(4) Cần thành lập một hiệp hội về phát triển NSDI Việt Nam. Hiệp hội này là tổ chức đại diện cho cộng đồng VNSDI, có vai trò tích cực trong quá trình phát triển VNSDI và phát triển cộng đồng sử dụng VNSDI. Hiệp hội này cũng là thành viên của Hiệp hội GSDI quốc tế với tư cách là đại diện của Việt Nam.

(5) Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chuẩn dữ liệu, chuẩn dịch vụ thông tin, đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ phát triển và quản lý NSDI.

(6) Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu cho NSDI.

(7) Cần có chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho NSDI và nâng cao nhận thức cộng đồng về NSDI.

(8) Cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế về NSDI, tham gia thực chất và có hiệu quả vào Sáng kiến của Liên Hợp Quốc về quản lý thông tin không gian địa lý toàn cầu (UN-GGIM), các tổ chức quốc tế như Ủy ban của LHQ về quản lý thông tin không gian địa lý khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (UN-GGIM-AP), Liên đoàn Đo đạc quốc tế (FIG) nhằm giúp giải quyết tốt phát triển NSDI của Việt Nam và đóng góp thông tin không gian để giải quyết những vấn đề khu vực và toàn cầu theo những mục tiêu mà Liên Hợp Quốc đã đề ra.

CTTĐT

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đô thị lớn, có vai trò đặc biệt và ảnh hưởng trực tiếp đến vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Những năm qua nền kinh tế của thành phố đã phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, thu hút mạnh mẽ đầu tư trong nước và nước ngoài. Trong xu thế tiến lên của đất nước, hoạt động đo đạc bản đồ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các kết quả, sản phẩm phục vụ công tác quản lý của các ngành, địa phương và xã hội, phục vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường, cứu hộ cứu nạn và nhiều mục tiêu cộng đồng khác.

Triển khai xã hội hóa trong công tác đo đạc bản đồ sớm nhất trong cả nước

Là một trong những địa phương triển khai xã hội hóa trong công tác đo đạc bản đồ sớm nhất trong cả nước, từ năm 1996 đến nay, căn cứ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước trung ương, Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đã thẩm định năng lực, trình Bộ cấp phép hàng trăm lượt/doanh nghiệp và đến nay có hơn 260 doanh nghiệp đang hoạt động đo đạc bản đồ, đáp ứng nhu cầu đa dạng về đo đạc và bản đồ trên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và cùng với đà tăng trưởng của Thành phố, đà phát triển của thị trường bất động sản, số lượng này ngày càng gia tăng, chưa kể đến các đề nghị xin tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài.

Bắt đầu bằng việc thực hiện các bản trích đo địa chính phục vụ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật cũng như yêu cầu của xã hội, đến nay các việc xã hội hóa đã mở rộng sang các lĩnh vực như định vị, dẫn đường, theo dõi quản lý (tracking) các phương tiện giao thông, xây dựng, phát triển các hệ thống thông tin địa lý (GIS) … và các lợi ích mang đến từ việc xã hội hóa hoạt động đo đạc bản đồ  là không thể kể xiết. Nếu từ 1995 trở về trước, khi mỗi địa phương chỉ có 1 đội đo đạc trực thuộc cơ quan quản lý đất đai địa phương (Ban Quản lý ruộng đất), để có được một bản vẽ trích thửa phục vụ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xin phép xây dựng, người dân phải chờ ít nhất là 20 ngày sau mới có đơn vị xuống đo vẽ và cả tháng sau mới nhận được sản phẩm thì ngày nay, với lực lượng các doanh nghiệp đo đạc bản đồ đông đảo đang hoạt động trên địa bàn Thành phố, yêu cầu trên có thể thực hiện trong vài ngày. Các đơn vị này cũng đã có nhiều đóng góp trong việc hoàn thành bộ bản đồ địa chính số cho 322 phường – xã khu vực thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 1997 đến 2005 (trước đây, 1 đơn vị đo đạc mất khoảng 3 năm để hoàn thành bản đồ địa chính cho 1 xã), và đến nay, các đơn vị đo đạc cũng đã hoàn thành hơn 2 triệu bản trích đo địa chính và tài sản gắn liền với đất phục vụ các nhu cầu cấp giấy chứng nhận, xin phép xây dựng, mua bán chuyển dịch bất động sản… của nhân dân trên địa bàn Thành phố.

Ngày nay, với công nghệ định vị vệ tinh (GPS) kết hợp mạng Internet, nhờ sự giúp sức của các doanh nghiệp đo đạc bản đồ, các chủ doanh nghiệp có thể theo dõi hoạt động của các phương tiện của mình (xe taxi, xe bus, xe tải, xe chở chất thải …) từ văn phòng; Thông qua các hệ thống GIS chuyên ngành được xây dựng kết hợp với các đầu đo (sensor), chip định vị vệ tinh (GPS) … cơ quan quản lý nhà nước có thể kiểm soát tình hình xả thải, ô nhiễm môi trường của cả một vùng lảnh thổ rộng lớn từ văn phòng với một số lượng nhân sự hạn chế, từ đó đề ra những quyết sách để bảo vệ môi trường, phát triển bền vững; Với việc sở hữu và sử dụng rộng rãi các máy bay không người lái (UAV), các doanh nghiệp đo đạc bản đồ cũng đã góp phần đắc lực trong việc cung cấp không ảnh tức thời phục vụ công tác điều tra hiện trạng tài nguyên đất đai, hiện trạng công trình xây dựng (đặc biệt là các công trình giao thông) khi ngân sách nhà nước chưa cho phép bay chụp liên tục các vùng nhỏ, rời rạc như vậy.

Có thể nói, việc xã hội hóa hoạt động đo đạc bản đồ đã đem lại nhiều lợi ích trong việc cải cách hành chính, hiện đại hóa đất nước và là một thành phần không thể thiếu khi xây dựng chính quyền điện tử. Tuy nhiên, đây là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện và các sai phạm trong việc đo đạc có thể dẫn đến hậu quả to lớn. Nhận thức được điều này, để tăng cường quản lý và định hướng các doanh nghiệp hoạt động đúng các quy định pháp luật, Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều biện pháp như: Xây dựng và công khai bộ thủ tục thẩm định cấp phép căn cứ Nghị định 45/2015/NĐ-CP ngày 06/05/2015 của Chính phủ, đồng thời công bố danh sách các đơn vị có giấy phép đo đạc bản đồ trên website của Sở để người dân, doanh nghiệp được biết; Phối hợp với Chi cục Đo đạc và Bản đồ phía Nam thuộc Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam và Hội Trắc địa Bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lĩnh vực đo đạc và bản đồ; Ban hành nhiều văn bản hướng dẫn kỹ thuật và chấn chỉnh các biểu hiện lệch lạc trong công tác đo đạc và kiểm tra sản phẩm đo đạc trên địa bàn thành phố như hướng dẫn 389/HD ngày 15/01/2010, Công văn số 4404/TNMT-QLBĐ ngày 25/6/2014 về thẩm quyền kiểm tra bản vẽ hiện trạng vị trí, công văn số 10643/TNMT-QLBĐ ngày 31/12/2015, Công văn số 2744/STNMT-BĐVT ngày 23/03/2017 về việc tăng cường công tác quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ và nhiều công văn hướng dẫn khác; Tổ chức thanh tra, kiểm tra năng lực và chất lượng sản phẩm đo đạc bản đồ của các đơn vị trên địa bàn thành phố. (Trong năm 2016, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh đã cùng với đoàn thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến hành thanh tra 60 trên tổng số 260 đơn vị hoạt động đo đạc và bản đồ trên địa bàn thành phố).

Hoạt động đo đạc bản đồ vẫn còn một số hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra của giai đoạn phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc bản đồ còn một số tồn tại, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra của giai đoạn phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay và ở một khía cạnh nào đó, chưa thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động đo đạc bản đồ. Nguyên nhân thì có rất nhiều song quan trọng nhất là chưa có một hành lang pháp lý, một hệ thống pháp luật về đo đạc bản đồ đồng bộ, thống nhất. Cho đến thời điểm này, các quy định pháp luật về đo đạc bản đồ cao nhất chỉ mới ở mức Nghị định.

Do vậy, có hiện tượng quản lý chồng chéo giữa các ngành tài nguyên môi trường, xây dựng, giao thông, nông lâm nghiệp…với đủ loại chứng chỉ, giấy phép được cấp bởi các ngành, gây khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động đo đạc bản đồ. Cũng vì lý do này, nhiều dự án, đo đạc bản đồ chưa được quản lý thống nhất; cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành, địa phương trong xây dựng, triển khai các dự án liên quan đến đo đạc và bản đồ còn hạn chế dẫn đến việc trùng lắp về sản phẩm, làm lãng phí thời gian, kinh phí thực hiện. Mặt khác, sản phẩm hoàn thành không được giao nộp về một đầu mối để tích hợp, quản lý thống nhất, do đó khó có thể chia sẻ, dùng chung thông tin, dữ liệu, không đáp ứng kịp yêu cầu của tiến độ công việc, làm giảm sức cạnh tranh.

Nhà nước cũng chưa có cơ chế rõ ràng để quản lý và phát triển hoạt động đo đạc bản đồ. Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân hoạt động ở quy mô nhỏ, năng lực chuyên môn thấp và các cá nhân chưa được quản lý đầy đủ bằng pháp luật (việc quản lý năng lực của cá nhân hành nghề đo đạc bản đồ chưa được triển khai).  Việc quản lý năng lực và tư cách hành nghề của các cá nhân trong ngành là một vấn đề cấp bách, nhất là trong tình hình hiện nay, khi các sản phẩm bản đồ điện tử, bản đồ online trên mạng phát triển mạnh mẽ, được truyền bá rộng rãi trên Internet với các nội dung nhạy cảm như biên giới quốc gia, biển đảo …chưa được kiểm soát chặt chẽ trong khi nhà nước chưa xây dựng được chính sách quản lý đối với dạng sản phẩm này.

Xây dựng và ban hành Luật Đo đạc và Bản đồ là yêu cầu cấp bách để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đo đạc bản đồ

Với quan điểm nhà nước quản lý thống nhất các hoạt động đo đạc bản đồ, quy định hành lang pháp lý, chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật đo đạc và bản đồ, với quan điểm huy động nguồn lực xã hội phát triển dịch vụ đo đạc và bản đồ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư cho sản xuất và phát triển các ứng dụng thông tin phục vụ nâng cao dân trí, tiến bộ xã hội; sử dụng thông tin, dữ liệu đo đạc bản đồ vào các hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu của nhân dân, việc xây dựng và ban hành Luật Đo đạc và Bản đồ là yêu cầu cấp bách để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đo đạc bản đồ và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ. Việc ra đời của Luật Đo đạc Bản đồ sẽ giúp đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực đo đạc bản đồ, khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường đầu tư nhân vật lực, mạnh dạn mở rộng thị phần sang nước ngoài, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN, góp phần tăng phần đóng góp cho ngân sách, giải quyết việc làm, góp phần tinh giảm biên chế sự nghiệp của Nhà nước.

CTTĐT

Bài viết mới nhất