Đo đạc bản đồ và viễn thám

Hiện nay trên thế giới, NSDI (Hạ tầng không gian dữ liệu quốc gia) đã trở thành một nguồn lực thông tin rất lớn đối với hầu hết các quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong việc tăng nhanh tiến độ xây dựng xã hội thông tin và phát triển nền kinh tế trí thức, xây dựng chính phủ điện tử, đổi mới hệ thống hành chính theo hướng phục vụ người dân hiệu quả, minh bạch và dân chủ. Việc phát triển NSDI đã trở thành nhu cầu cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hoàn thiện hệ thống quản lý trong một xã hội thông tin.

Nhận thức rõ vai trò và những lợi ích do NSDI mang lại, nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành luật, chiến lược phát triển, kế hoạch phát triển NSDI; thành lập cơ quan quốc gia quản lý hạ tầng dữ liệu không gian nhằm phát triển đồng bộ và quản lý thống nhất hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia.

 

Ở nước ta, Nhà nước đã có chủ trương coi thông tin như một hạ tầng quốc gia quan trọng, quan tâm và đầu tư kinh phí đáng kể trong việc thu thập dữ liệu không gian, rất quan tâm tới việc phát triển công nghệ ICT, tin học hóa hệ thống quản lý, xây dựng chính phủ điện tử, đã đầu tư nhiều để nâng cấp hạ tầng mạng truyền thông quốc gia. Nhà nước cần có chính sách, chiến lược phát triển NSDI. Chính sách, chiến lược NSDI phải được luật hóa việc phát triển NSDI theo một hạ tầng thông tin thống nhất, đồng bộ gồm các thành phần: chính sách-pháp luật, thể chế-tổ chức, dữ liệu, tiêu chuẩn, công nghệ và nguồn lực.

 

Cùng với đó, Nhà nước đã đầu tư khá nhiều kinh phí cho việc xây dựng dữ liệu không gian địa lý cơ bản và chuyên ngành. Các dữ liệu này không được cập nhật thường xuyên nên luôn luôn bị lạc hậu so với thực tế đang tồn tại dưới dạng tập hợp dữ liệu hoặc cơ sở dữ liệu phân tán ở các bộ, ngành và địa phương; chưa được kết nối trong một hạ tầng thông tin không gian thống nhất; chưa có cổng thông tin điện tử để công khai và cung cấp thông tin, dữ liệu và dịch vụ về thông tin, dữ liệu không gian địa lý; tình trạng độc quyền, cát cứ thông tin đang xảy ra trong các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lưu trữ và quản lý thông tin, dữ liệu dẫn đến sự chồng chéo, lãng phí trong xây dựng và sử dụng dữ liệu. Những vấn đề này cần được khắc phục, giải quyết bằng các quy định của luật pháp.

 

Cộng đồng cung cấp và sử dụng thông tin không gian ở nước ta hiện nay chỉ bao gồm các cơ quan nhà nước. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hạ tầng dữ liệu không gian địa lý tiếp cận khá tốt với trình độ công nghệ trên thế giới nhưng chưa có điều kiện kinh doanh dịch vụ về thông tin, dữ liệu không gian địa lý. Người dân chưa được tiếp cận nhiều đến thông tin, dữ liệu không gian địa lý. Vì vậy, cần có quy định của pháp luật về xã hội hóa việc xây dựng, cung cấp và sử dụng thông tin, dữ liệu không gian địa lý.

 

Đặc biệt, Việt Nam là thành viên của Tổ chức của Liên Hợp Quốc về quản lý thông tin không gian toàn cầu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (UN-GGIM-AP), đang tham gia chương trình xây dựng hạ tầng thông tin không gian khu vực, chương trình thành lập bản đồ toàn cầu, nhóm địa danh của Liên Hợp Quốc. Cần có quy định pháp luật về hợp tác, trao đổi quốc tế về hạ tầng dữ liệu không gian địa lý.

CTTĐT

Toàn cảnh hội nghị

Tổng Cục môi trường (Bộ TN&MT) vừa tổ chức Hội thảo báo cáo nhiệm vụ thực hiện chương trình giám sát lớp phủ thực vật rừng, nước mặt khu vực thủy điện Lai Châu bằng công nghệ viễn thám và GIS.

Ứng dụng phương pháp viễn thám và GIS vào theo dõi hiện trạng lớp phủ thực vật rừng, nước mặt khu vực thủy điện Lai Châu nhằm bổ sung, cập nhật thông tin phục vụ công tác khảo sát, đánh giá thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với các dự án, công trình thủy điện.

Đổi với thủy điện Lai Châu là công trình trọng điểm quốc gia được khởi công xây dựng vào năm 2011 tại huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai châu. Công tình được xây dựng ở bậc thang trên cùng của dòng chính sông Đà, sau đến thủy điện Sơn La và Hòa Bình. Nhà máy thủy điện Lai Châu gồm 3 tổ máy, công suất 1.200MW, cung cấp trên 4.670 triệu kWh/năm.

Được đánh giá là 1 trong 3 thủy điện lớn nằm trên dòng chảy chính của sông Đà, thủy điện Lai Châu có tác động mạnh đến chế độ dòng chảy, phù sa, hệ sinh thái dưới nước, ven bờ mực nước và đặc điểm lý – hóa – sinh của nước sông. Hệ quả làm thay đổi mực nước ngầm tại một số khu vực dân cư thuộc đồng bằng Bắc Bộ và vùng duyên hải.

Việc sử dụng phương pháp ảnh viễn thám và GIS, ngoài thực hiện giám sát hiện trạng, biến động lớp phủ thực vật rừng, nước mặt khu vực thủy điện Lai Châu, còn thực hiện phân tích các thành phần môi trường, phát hiện và ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến lớp phủ rừng và nước mặt khu vực ảnh hưởng của thủy điện Lai Châu.

Tại hội thảo, đại diện đơn vị thực hiện nhiệm vụ giám sát đã cung cấp các tư liệu ảnh viễn thám, tư liệu bản đồ chuyên đề, sản phẩn thực hiện qua các năm. Hình ảnh giám sát sự thay đổi về diện tích mặt nước, diện tích rừng, diện tích hồ chứa qua các năm tại khu vực thủy điện Lai Châu và vùng phụ cận.

Các đại biểu tham gia hội nghị đã đóng góp nhiều ý kiến hoàn thiện cho báo cáo nhiệm vụ.

Hoàng Châu

Theo chương trình làm việc kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa XIV, ngày 10/11/2017 Quốc hội sẽ tiến hành thảo luận đối với dự thảo Luật Đo đạc và Bản đồ. Dự án Luật Đo đạc và Bản đồ do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì soạn thảo. Để cung cấp thêm thông tin về dự thảo Luật, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài nguyên và Môi trường xin giới thiệu tóm tắt những nội dung của dự thảo.

Sự cần thiết ban hành Luật đo đạc và bản đồ

Hoạt động đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản, đặc biệt quan trọng, làm nền tảng để triển khai các nghiên cứu khoa học về trái đất, cung cấp các dữ liệu cơ bản phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh; phục vụ quy hoạch, quản lý lãnh thổ, giám sát tài nguyên, môi trường; phòng chống thiên tai và cứu hộ cứu nạn; góp phần bảo vệ và khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia, góp phần nâng cao dân trí. Các sản phẩm đo đạc, bản đồ và dữ liệu thông tin địa lý được sử dụng rộng rãi trong hoạt động hàng ngày của đời sống xã hội.

Công tác đo đạc và bản đồ ở Việt Nam có truyền thống lịch sử lâu đời. Từ thời Hồng Đức, vua Lê Thánh Tông đã cho thành lập bản đồ cả nước phục vụ quản lý lãnh thổ. Ngay sau khi thành lập nước tháng 9 năm 1945, cơ quan bản đồ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập để thực hiện các nhiệm vụ địa hình quân sự phục vụ tác chiến, bảo đảm thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Ngày 14 tháng 12 năm 1959, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Nghị định số 444/TTg thành lập Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ. Hơn 70 năm qua, ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam ngày càng phát triển, có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã hoàn thành nhiều công trình đo đạc và bản đồ cơ bản quan trọng phục vụ phát triển đất nước như hệ tọa độ quốc gia, hệ độ cao quốc gia, hệ trọng lực quốc gia, các mạng lưới đo đạc quốc gia, hệ thống cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia, hệ thống bản đồ địa hình quốc gia, hệ thống bản đồ địa chính phục vụ quản lý đất đai. Từ những năm 90 cùng với sự đổi mới của đất nước, công tác đo đạc và bản đồ đã bắt đầu thực hiện quá trình đổi mới mạnh mẽ công nghệ thu nhận và xử lý dữ liệu với việc ứng dụng công nghệ định vị toàn cầu (GPS), công nghệ bản đồ số, công nghệ thu nhận và xử lý ảnh viễn thám để thành lập hệ thống bản đồ địa hình quốc gia phủ trùm cả nước, giám sát tài nguyên, môi trường, từng bước đáp ứng nhiệm vụ quản lý của các bộ, ngành, địa phương và nhu cầu của xã hội.

Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn, công tác quản lý nhà nước và tổ chức triển khai hoạt động đo đạc và bản đồ trong thời gian vừa qua còn một số tồn tại:

Thứ nhất, thiếu sự thống nhất, đồng bộ trong quản lý và triển khai hoạt động đo đạc và bản đồ

Văn bản có tính pháp lý cao nhất quy định về hoạt động đo đạc và bản đồ là Nghị định số 45 năm 2015 của Chính phủ (thay thế cho Nghị định số 12 năm 2002 trước đây). Nội dung nghị định chưa bao quát hết các hoạt động đo đạc và bản đồ cần quản lý, không đủ tính pháp lý để điều chỉnh các hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành được quy định rải rác tại các luật đã ban hành. Vì vậy, chưa đáp ứng yêu cầu thống nhất, đồng bộ trong quản lý và triển khai hoạt động đo đạc và bản đồ trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển khoa học công nghệ.

Thứ hai, hoạt động đo đạc và bản đồ còn chồng chéo, lãng phí

Cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, đơn vị trong xây dựng, quản lý và triển khai các hoạt động đo đạc và bản đồ chưa chặt chẽ, chưa thống nhất dẫn đến trên cùng một khu vực còn xảy ra hiện tượng đo đạc chồng chéo, lãng phí thời gian, kinh phí.

Thứ ba, việc phân cấp giữa Trung ương và địa phương chưa phù hợp

Theo quy định hiện hành, hầu hết các nhiệm vụ đo đạc và bản đồ cơ bản thuộc trách nhiệm tổ chức triển khai của cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ tại Trung ương. Do đó, xảy ra tình trạng khi cần các dữ liệu đo đạc và bản đồ phục vụ cho quản lý, quy hoạch, phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, đặc biệt là tại các đô thị có sự phát triển nhanh chóng thì Trung ương không đáp ứng kịp thời. Trong khi đó, phần lớn các địa phương hoàn toàn có đủ năng lực quản lý cũng như nguồn lực để đầu tư, tổ chức triển khai. Chính sách quản lý tập trung, bao cấp như hiện nay đã không phát huy được tiềm năng, nguồn lực, tính chủ động của địa phương trong triển khai các nhiệm vụ đo đạc và bản đồ phục vụ các nhiệm vụ của địa phương.

Thứ tư, chính sách phát triển, quản lý công trình hạ tầng đo đạc chưa đồng bộ

Các công trình hạ tầng đo đạc là tài sản quốc gia, gắn liền với hệ thống tọa độ, độ cao, trọng lực quốc gia. Công trình hạ tầng đo đạc có một vai trò hết sức quan trọng, là nền tảng để triển khai thực hiện các hoạt động đo đạc và bản đồ thống nhất trên toàn quốc. Tuy nhiên, chính sách phát triển, quản lý công trình hạ tầng đo đạc hiện nay chưa rõ về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; hạ tầng đo đạc chưa thống nhất, đồng bộ, kết nối do vậy chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển hiện nay.

Thứ năm, việc quản lý, cung cấp thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ còn bất cập

Các sản phẩm, thông tin, dữ liệu đo đạc và bản đồ hiện nay được lưu giữ phân tán ở nhiều nơi, chưa có hệ thống quy chuẩn thống nhất, chưa được tích hợp liên thông để chia sẻ, dùng chung; việc khai thác, tiếp cận dữ liệu của các tổ chức, người dân đối với một số loại dữ liệu còn khó khăn. Quy định mức độ mật đối với một số loại sản phẩm, dữ liệu đo đạc và bản đồ chưa hợp lý, làm hạn chế việc sử dụng.

Thứ sáu, cơ chế chính sách về hoạt động đo đạc bản đồ chưa đổi mới, chưa theo kịp với thành tựu của khoa học công nghệ hiện nay, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay với tốc độ đột phá của cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi yêu cầu cao đối với thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ về độ chính xác, độ tin cậy và tính kịp thời. Bản đồ điện tử phát triển rất mạnh mẽ, được truyền bá, đăng tải trên internet hoặc xuất bản bán ra thị trường nhưng nhà nước chưa xây dựng được chính sách quản lý hữu hiệu đối với dạng sản phẩm này, đặc biệt đối với các ấn phẩm mang tính nhạy cảm, liên quan đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Việc thương mại hóa thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ vẫn diễn ra trên thực tế và ngày càng phát triển, trong khi Nhà nước chưa có chính sách để quản lý hữu hiệu.

Thứ bảy là chưa có cơ chế rõ ràng để thúc đẩy chính sách xã hội hóa hoạt động đo đạc và bản đồ

Nhà nước đã có chính sách xã hội hóa các hoạt động đo đạc và bản đồ nhưng chưa có cơ chế rõ ràng để thúc đẩy phát triển. Các quy định về bảo mật trong bối cảnh khoa học và công nghệ hiện nay cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới hạn chế trong việc xã hội hóa. Việc quản lý năng lực của cá nhân hành nghề đo đạc và bản đồ chưa được triển khai, mặc dù đây là yêu cầu và điều kiện cần thiết đối với hoạt động đo đạc và bản đồ trong hội nhập khu vực và quốc tế và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về Thoả thuận khung ASEAN thừa nhận lẫn nhau về trình độ đo đạc năm 2007.

Những hạn chế trên đây do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là chưa có sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật về đo đạc và bản đồ. Hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản làm cơ sở, nền tảng để triển khai các hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành, chỉ được quy định tại Nghị định số 45 năm 2015 của Chính phủ, trong khi đó, một số hoạt động đo đạc bản đồ chuyên ngành đã được quy định rải rác trong các văn bản Luật như: luật đất đai, luật xây dựng, luật xuất bản…

Trong bối cảnh tình hình an ninh, quốc phòng khu vực cũng như trên thế giới hiện nay có nhiều phức tạp, đặc biệt trong giai đoạn của cách mạng công nghiệp 4.0, việc xây dựng một đạo luật để quản lý thống nhất, có hiệu quả hoạt động đo đạc và bản đồ là yêu cầu cấp bách và thực tiễn khách quan.

 

Quá trình và nguyên tắc xây dựng Luật

Dự án Luật đo đạc và bản đồ đã được Chính phủ tổ chức triển khai thực hiện theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, đã tổng kết việc thực hiện Nghị định số 12 năm 2002 và Nghị định số 45 năm 2015 về hoạt động đo đạc và bản đồ; đã nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của hơn 30 luật đo đạc và bản đồ của các nước trên thế giới, đặc biệt là của các nước tiên tiến như: Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc, Ba Lan, Pháp, Ý…; đã tổ chức khảo sát tại các Bộ, ngành và các tỉnh có nhiều hoạt động đo đạc và bản đồ như các Bộ: Quốc phòng, Giao thông vận tải, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các tỉnh, TP: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ngãi, Bình Dương, … Trong quá trình xây dựng Luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức nhiều hội thảo lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý; các ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã được nghiên cứu, giải trình, tiếp thu đầy đủ.

Trên quan điểm chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế, không tạo ra sự chồng chéo, mâu thuẫn với các luật đã ban hành và tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, dự thảo Luật được xây dựng trên các nguyên tắc xuyên suốt, cụ thể:

Thứ nhất, Nhà nước thống nhất quản lý các hoạt động đo đạc và bản đồ, quy định hành lang pháp lý, chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật đo đạc và bản đồ, xây dựng cơ sở dữ liệu đo đạc và bản đồ quốc gia đồng bộ, hiện đại nhằm đảm bảo cung cấp thông tin địa lý đầy đủ, chính xác, kịp thời, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh; quản lý, giám sát tài nguyên, môi trường; phòng chống thiên tai và cứu hộ, cứu nạn; nâng cao dân trí; làm nền tảng để phát triển Hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia.

Thứ hai, đo đạc và bản đồ cơ bản là hoạt động điều tra cơ bản làm nền tảng sử dụng chung, phục vụ phúc lợi công cộng phải được Nhà nước quản lý, đầu tư và tổ chức triển khai thực hiện. Đầu tư cho đo đạc và bản đồ cơ bản là đầu tư cho phát triển và bảo vệ đất nước, cần phải đi trước một bước. Thông tin, dữ liệu đo đạc và bản đồ cơ bản là nền tảng để phát triển các sản phẩm đo đạc và bản đồ chuyên ngành.

Thứ ba, đẩy mạnh huy động nguồn lực xã hội phát triển dịch vụ đo đạc và bản đồ. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư cho sản xuất và phát triển các ứng dụng thông tin địa lý phục vụ nâng cao dân trí, tiến bộ xã hội; sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ vào hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu của đời sống.

Thứ tư, tăng cường hội nhập quốc tế về đo đạc và bản đồ.

 

Nội dung của dự thảo Luật đo đạc và bản đồ

Dự thảo Luật đo đạc và bản đồ gồm 63 điều thể hiện trong 9 chương. Trên cơ sở những quan điểm, nguyên tắc nêu trên, dự thảo Luật đã tập trung thể chế hóa các chính sách sau đây:

Thứ nhất, xây dựng, phát triển hạ tầng đo đạc, cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý quốc gia tiên tiến, đồng bộ, hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh; quản lý, giám sát tài nguyên, môi trường, phòng chống thiên tai và cứu hộ, cứu nạn; tạo nền tảng cơ bản để triển khai cách mạng công nghiệp 4.0. Nội dung này được quy định tại Điều 10, 11 Chương II. Hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản, các Điều 14, 15, 16, 19, 20 Chương III. Hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành và các điều 32, 33 Chương V. Công trình hạ tầng đo đạc của dự thảo Luật.

Thứ hai, ưu tiên nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ đo đạc và bản đồ theo hướng tiên tiến, hiện đại, thống nhất và đồng bộ. Tập trung vào các công nghệ hiện đại như công nghệ định vị vệ tinh, đo vẽ ảnh số, viễn thám, công nghệ GIS, được quy định tại Điều 12, 13 Chương II. Hoạt động đo đạc bản đồ cơ bản, Điều 32 Chương V. Công trình hạ tầng đo đạc và Điều 37 Chương VI. Thông tin dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ; hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia của dự thảo Luật.

Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động đo đạc và bản đồ, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng, phát triển khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và đầu tư trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ; tiếp cận, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao dân trí. Nội dung này được quy định tại Điều 27, 28 Chương III. Hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành, Điều 33 Chương V. Công trình hạ tầng đo đạc, các Điều 38, 41, 44, 47 Chương VI. Thông tin dữ liêu, sản phẩm đo đạc và bản đồ; hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia và Điều 49, 52, 53 Chương VII. Điều kiện hoạt động đo đạc và bản đồ của dự thảo Luật.

Thứ tư, xây dựng và phát triển hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia. Đây là nội dung hoàn toàn mới phục vụ cho Chính phủ điện tử, quản lý xã hội thông minh, ứng phó biến đổi khí hậu, hội nhập quốc tế và đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0, vạn vật kết nối, hạn chế sự chồng chéo, trùng lắp trong tổ chức triển khai, thúc đẩy chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu. Nội dung này được quy định riêng thành một mục tại Chương VI gồm 6 điều (từ điều 40 đến điều 45 dự thảo Luật).

Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng quy định rõ một số nội dung như:

Đẩy mạnh phân cấp cho các địa phương, quy định cụ thể hơn về nội dung, trách nhiệm triển khai, trách nhiệm quản lý nhà nước các hoạt động đo đạc và bản đồ, bảo đảm không chồng chéo, trùng lặp giữa các cơ quan và không mâu thuẫn với các luật đã ban hành; đồng thời bảo đảm khả năng tích hợp, chia sẻ, sử dụng chung cho nhiều mục đích và đối tượng khác nhau; bảo đảm quản lý thống nhất, đồng bộ các hoạt động đo đạc và bản đồ (Chương II, III,V, VI, VIII dự thảo Luật).

Quy định về điều kiện hoạt động đo đạc và bản đồ để bảo đảm thực hiện Thỏa thuận khung thừa nhận lẫn nhau về trình độ đo đạc giữa các nước ASEAN năm 2007 và góp phần tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm và thúc đẩy xã hội hóa (Chương VII dự thảo Luật).

Nhiều nội dung quy định trong dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành về đo đạc và bản đồ đã áp dụng ổn định trong thời gian qua để đảm bảo tính liên tục, kế thừa.  Đó là các Điều 9, 19, 20, 21, 22, 29,31, 37, 48, 49, 50, 55 Chương II, III, IV, VI, VII, VIII.

Ngoài ra, dự thảo Luật còn có một số điều quy định chung về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các hành vi bị cấm, giải thích từ ngữ… được quy định tại các Điều từ 1 đến 8 Chương I. Những quy định chung.

Trong quá trình xây dựng Luật đo đạc và bản đồ, đã rà soát các quy định trong các luật chuyên ngành để bảo đảm không chồng chéo, mâu thuẫn. Dự thảo Luật được thiết kế như là cầu nối để liên kết các hoạt động đo đạc và bản đồ quy định rải rác trong các luật chuyên ngành thành một thể thống nhất, đồng bộ, đảm bảo khả năng tích hợp vào hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia nhằm thống nhất quản lý, sử dụng chung cho nhiều mục đích, tránh cục bộ, chồng chéo, lãng phí.

Dự thảo Luật cơ bản đã giải quyết được các tồn tại, bất cập trong quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ hiện nay, đồng thời cụ thể hóa chủ trương của Đảng về tổ chức bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, tránh chồng chéo chức năng nhiệm vụ, không quy định và làm phát sinh tổ chức, bộ máy mới.

 

CTTĐT

Hoạt động về lĩnh vực đo đạc và bản đồ nhằm việc xây dựng, quản lý, vận hành công trình hạ tầng đo đạc; thành lập các sản phẩm đo đạc và bản đồ đáp ứng nhu cầu sử dụng chung cho các ngành, địa phương và cộng đồng. Theo đó là sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, hiện nay xuất hiện nhiều sản phẩm đo đạc và bản đồ phục vụ xã hội như bản đồ dẫn đường điện tử, bản đồ mạng được phát triển dựa trên nền thông tin địa lý, được truyền bá, đăng tải trên intemet hoặc xuất bản bán ra thị trường nhưng Nhà nước chưa xây dựng được chính sách quản lý hữu hiệu đối với các dạng sản phẩm này, do đó chất lượng, tính chính xác, tính trung thực không được kiểm định đầy đủ.

Mặt khác Nhà nước đã có chính sách xã hội hóa hoạt động đo đạc và bản đồ nhưng chưa có cơ chế rõ ràng để thúc đẩy phát triển, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân hoạt động đo đạc và bản đồ còn nhỏ, năng lực chuyên môn thấp, mức độ đầu tư còn hạn chế. Việc quản lý năng lực cá nhân hành nghề đo đạc và bản đồ chưa được triển khai, đây là yêu cầu và điều kiện cần thiết trong hoạt động đo đạc và bản đồ và để các doanh nghiệp tham gia hội nhập vào khu vực và quốc tế. Do đó việc Nhà nước thống nhất quản lý các hoạt động đo đạc và bản đồ, quy định hành lang pháp lý, chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật đo đạc và bản đồ, xây dựng cơ sở dữ liệu đo đạc và bản đồ quốc gia đồng bộ, hiện đại nhằm đảm bảo cung cấp thông tin địa lý đầy đủ, chính xác, kịp thời phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh, giám sát tài nguyên môi trường; phòng chống thiên tai, cứu hộ, nâng cao dân trí làm nền tảng phát triển hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia, đòi hỏi chính sách pháp luật về đo đạc và bản đồ sớm được hoàn chỉnh, có hiệu lực để định hướng cho lĩnh vực đo đạc và bản đồ, thống nhất trên cả nước, phù hợp với khu vực và quốc tế là rất cần thiết.

CTTĐT

9 tháng đầu năm, trong lĩnh vực viễn thám, Bộ TN&MT đã tập trung xây dựng dự thảo Nghị định, các Thông tư quy định về hoạt động viễn thám. Cụ thể đã gửi lấy ý kiến chuyên gia đối với dự thảo Nghị định về quản lý hoạt động viễn thám; ban hành 03 thông tư: quy định quy trình đo khống chế ảnh viễn thám; quy định kỹ thuật xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia; quy định quy trình thành lập bản đồ chuyên đề bằng ảnh viễn thám tỷ lệ 1/5.000, 1/10.000, 1/500.000, 1/1.000.000.

Bên cạnh đó, Cục cũng tăng cường công tác điều tra, đánh giá, giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường bằng công nghệ viễn thám và địa tin học. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án Giám sát một số vùng biển, đảo trọng điểm xa bờ bằng công nghệ viễn thám phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng; các đề án, dự án quản lý, giám sát biến động TNMT biển và hải đảo bằng công nghệ viễn thám. Xây dựng cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia; hiệu chỉnh bản đồ địa hình quốc gia tỷ lệ 1/50.000 bằng ảnh viễn thám khu vực Biên giới Việt – Trung, Tây Bắc và khu vực Nghệ An – Thanh Hóa. Ứng dụng công nghệ viễn thám, GIS trong giám sát xói lở bờ biển tại một số khu vực trọng điểm miền Trung, giám sát việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất khu vực đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.

3 tháng cuối năm 2017, Bộ sẽ tập trung tổ chức giám sát thường xuyên diễn biến về TN&MT biển, đảo, BĐKH, hoạt động khai thác tài nguyên nước ngoài biên giới bằng công nghệ viễn thám. Hoàn thiện quy trình giám sát, giám sát nhanh bằng viễn thám; thực hiện việc giám sát các biến động khu vực biên giới quốc gia, các đảo xa bờ, các khu vực ô nhiễm, biến động nguồn nước.

CTTĐT

Chiều ngày 01/9, hòa chung không khí phấn khởi, tự hào kỷ niệm 72 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mùng 2/9, Cục Viễn thám quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã phối hợp với BCA, Cục Bản đồ (Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng) tổ chức buổi gặp mặt, giao lưu thể thao.

Tuyên bố khai mạc giải giao lưu thể thao, ông Nguyễn Đức Phú, Phó Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia cho biết, buổi giao lưu nhằm tạo điều kiện cho các đồng chí lãnh đạo, sỹ quan, quân nhân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của ba đơn vị có điều kiện, giao lưu học hỏi lẫn nhau để từ đó tạo sự gắn kết trong công việc, trong các hoạt động phong trào và đặc biệt là tạo sự đoàn kết để tăng cường sức mạnh góp phần bảo vệ, xây dựng tổ quốc ngày càng giàu, mạnh.

 

Ông Nguyễn Đức Phú, Phó Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia Tuyên bố khai mạc

 

Ông Nguyễn Đức Phú chúc các vận động viên thi đấu hết mình, trên tinh thần thể thao trung thực, cao thượng; chúc các trọng tài làm việc công minh, đảm bảo các trận thi đấu đúng thời gian và đạt kết quả cao nhất.

Sau lễ khai mạc, các vận động viên của ba đơn vị tham gia thi đấu trong 03 môn thi bóng bàn, cầu lông, tennis. Các vận động viên đã vào cuộc với tinh thần tập trung cao độ cả về trí lực và thể lực với phương châm “Thi đấu hết mình vì màu cờ sắc áo của đơn vị”; đã thể hiện tinh thần thể thao thượng võ, cống hiến cho khán giả những màn biểu diễn đẹp mắt và đầy kịch tính.

 

Dưới đây là một số hình ảnh ghi lại tại buổi giao lưu:

 

CTTĐT

   
 

“Các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ về đo đạc và bản đồ phải được ứng dụng, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước và hoạt động điều tra cơ bản của ngành tài nguyên và môi trường, kết hợp hài hòa giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, trực tiếp phục vụ mở mới và triển khai các nhiệm vụ, dự án cụ thể về đo đạc, bản đồ, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước …” – Đó là ý kiến chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thị Phương Hoa tại cuộc họp Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ xác định Danh mục mở mới năm 2018 thuộc lĩnh vực đo đạc và bản đồ diễn ra sáng ngày 01/9.

Tham dự cuộc họp có đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ là thành viên của Hội đồng; các chuyên gia trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ.

 

Theo báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ, trong những năm qua, hoạt động khoa học và công nghệ trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ đã được tích cực triển khai với nhiều đổi mới tích cực. Việc sử dụng các công nghệ tích hợp đo đạc, bản đồ để giám sát tài nguyên và môi trường, giám sát một số các hiện tượng tai biến thiên nhiên hoặc hỗ trợ cho các lĩnh vực khác trong công tác quản lý tài nguyên đã góp phần cung cấp các số liệu điều tra cơ bản cho các ngành tài nguyên và môi trường đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

 

Để tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công nghệ về lĩnh vực đo đạc và bản đồ trong thời gian tới, danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ đề xuất triển khai năm 2018 thuộc lĩnh vực đo đạc và bản đồ bám sát nội dung của Khung Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Bộ đối với lĩnh vực đo đạc và bản đồ (TNMT.07/16-20), tập trung vào các nhóm nhiệm vụ trọng tâm như:

Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật trong công tác quản lý và tổ chức triển khai các hoạt động đo đạc và bản đồ phục vụ phát triển bền vững kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng; Áp dụng các phương pháp, công nghệ tiên tiến vào các hoạt động đo đạc và bản đồ, bảo đảm xây dựng cơ sở thông tin trắc địa bản đồ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và an ninh, quốc phòng; ….

Tại cuộc họp, Hội đồng đã được nghe các chuyên gia, thành viên Hội đồng phát biểu ý kiến, trong đó có ý kiến của đại diện cơ quan, đơn vị sử dụng sản phẩm của các nhiệm vụ. Các ý kiến đóng góp đều nhất trí rằng danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ đề xuất triển khai năm 2018 thuộc lĩnh vực đo đạc và bản đồ đã thể hiện rõ sự cần thiết để triển khai các nhiệm vụ, các mục tiêu, sản phẩm chính, địa chỉ sử dụng, ý nghĩa sử dụng rõ ràng. Đây chính là những cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng góp phần phục vụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước và hoạt động điều tra cơ bản của ngành tài nguyên và môi trường về lĩnh vực đo đạc và bản đồ trong thời gian tới.

 

Phát biểu kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa – Chủ tịch Hội đồng cảm ơn những ý kiến đóng góp tâm huyết, trí tuệ của các chuyên gia, nhà khoa học và các thành viên Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ xác định Danh mục mở mới năm 2018 thuộc lĩnh vực đo đạc và bản đồ.

 

Trên cơ sở các ý kiến góp ý của các thành viên Hội đồng, Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa cho rằng, các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ về đo đạc và bản đồ phải được ứng dụng, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước và hoạt động điều tra cơ bản của ngành tài nguyên và môi trường, kết hợp hài hòa giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, trực tiếp phục vụ mở mới và triển khai các nhiệm vụ, dự án cụ thể về đo đạc, bản đồ, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đặc biệt là việc sử dụng các công nghệ tích hợp đo đạc, bản đồ để giám sát tài nguyên và môi trường, giám sát một số các hiện tượng tai biến thiên nhiên hoặc hỗ trợ cho các lĩnh vực khác trong công tác quản lý tài nguyên, cung cấp các số liệu điều tra cơ bản cho các ngành. Cùng với đó, việc giao thực hiện đề tài phải bảo đảm đầu tư có trọng tâm, phát triển có trọng điểm trong công tác nghiên cứu khoa học nhằm phát huy lợi thế của nguồn nhân lực có trình độ cao và hướng tới xây dựng, phát triển toàn diện đội ngũ nghiên cứu.

 

Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa đề nghị các đơn vị thực hiện cần tiếp thu ý kiến của thành viên Hội đồng để rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đề tài đảm bảo tính khoa học, phục vụ công tác quản lý nhà nước, tránh trùng lắp với các dự án, đề tài đã và đang triển khai trước đó trong đó, cần làm rõ tính cấp thiết, mục tiêu, sản phẩm chính của đề tài và đặc biệt phải chú trọng đến khả năng ứng dụng của sản phẩm… gửi Vụ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp trình Chủ tịch Hội đồng trình Bộ trưởng xem xét, quyết định.

 

CTTĐT

Việc đăng cai tổ chức Hội nghị khoa học của Hiệp đoàn Trắc địa thế giới “FIF Working Week 2019” tại Việt Nam của Hội Khoa học kỹ thuật Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam đã được Văn phòng Trung ương Đảng, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đồng ý về chủ trương, Bộ Tài nguyên và Môi trường ủng hộ hoạt động có ý nghĩa này, hướng tới chào mừng kỷ niệm 60 năm thành lập Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam (1959-2019) và Ngày truyền thống ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam; 30 năm thành lập Hội Khoa học kỹ thuật Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam.

Cùng với việc tổ chức Hội nghị FIG Working Week 2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đang tích chuẩn bị cho Hội nghị khoa học công nghệ toàn quốc ngành đo đạc và bản đồ năm 2018. Bộ giao Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị chuẩn bị; xây dựng nội dung và chương trình Hội nghị. Những nội dung đưa ra tại Hội nghị sẽ là những vấn đề mới, những thách thức mà ngành đo đạc bản đồ Việt Nam đang gặp phải, từ đó lựa chọn những nội dung cần thảo luận, trao đổi với các chuyên gia quốc tế tại Hội nghị FIG Working Week 2019.

CTTĐT

Tại tỉnh An Giang, Ban Tuyên giáo Trung ương vừa tổ chức hội nghị tập huấn tuyên truyền kết quả phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Campuchia.

Tại đây, các đại biểu đã nghe, trao đổi và thảo luận về công tác phân giới, cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam – Campuchia trong tình hình mới; những thuận lợi, khó khăn và phương hướng phát triển thương mại của hai nước; đầu tư phát triển kinh tế cửa khẩu gắn với triển khai phân giới, cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam- Campuchia; một số giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và an ninh trên các tuyến biên giới Tây Nam.

Đường biên giới đất liền Việt Nam- Campuchia dài khoảng 1.137km từ ngã ba biên giới (Lào- Việt Nam- Campuchia) thuộc tỉnh Kom Tum đi qua các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đắc Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang đến mép biển Hà Tiên (Kiên Giang) tiếp giáp với 10 tỉnh của Campuchia.

Tính đến tháng 8/2017, hai bên đã phân giới được khoảng 950km, xây dựng 316/371 cột mốc chính, thống nhất vị trí dự kiến của hơn 1.500 cột mốc phụ và 210 cọc dầu bổ sung trên bản đồ, hoàn thành 84% khối lượng công việc.

Hội nghị nhằm tuyên truyền, trao đổi các kết quả đạt được của công tác phân giới, cắm mốc; cung cấp những kiến thức cập nhật về công tác phân giới, cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam- Campuchia trước tình hình mới.

PV

Ông Phạm Duy Ninh, Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin (Bộ Giao thông Vận tải) cho biết, hiện nhu cầu ứng dụng bản đồ số trong ngành giao thông vận tải (GTVT) rất lớn. Tuy nhiên do chưa có bản đồ số thống nhất toàn ngành nên các đơn vị của Bộ GTVT sử dụng bản đồ, ứng dụng phần mềm từ các nguồn khác nhau, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thông tin.

Theo ông Duy, Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam (Bộ TN&MT) đã xây dựng bản đồ nền phủ trùm toàn quốc tỷ lệ 1:50.000, đã chuyển giao cho đơn vị, nhưng các lớp giao thông của bản đồ chủ yếu được cập nhật trong giai đoạn 2009-2011. Do vậy, việc sớm xây dựng bản đồ số ngành GTVT phù hợp với xu hướng phát triển của công nghệ bản đồ để sử dụng chung cho toàn ngành, cũng như chia sẻ với các Bộ, ngành khác và đáp ứng nhu cầu khai thác dữ liệu bản đồ kỹ thuật số ngày càng cao là rất cần thiết.

Về vấn đề này, mới đây, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông đã chỉ đạo Trung tâm Công nghệ thông tin khẩn trương trình Đề cương xây dựng bản đồ giao thông số nền tảng của toàn ngành GTVT trong tháng 8/2017. “Chủ trương của Bộ GTVT là xây dựng hệ thống bản đồ giao thông số nền tảng, hạ tầng đồng bộ, trên nguyên tắc tận dụng hạ tầng, cơ sở dữ liệu đã có, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Bản đồ giao thông số dùng để phục vụ quản lý nhà nước về GTVT và cung cấp ứng dụng, tiện ích cho người dân theo hướng xã hội hóa đầu tư”, Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông yêu cầu.

L.Nhi

Bài viết mới nhất