Đo đạc bản đồ và viễn thám

Hệ thống đo trọng lực tuyệt đối và trọng lực hàng không tại phòng thí nghiệm trọng lực của Viện

Thành lập năm 1994, chính thức mang tên Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ từ tháng 9/2006, đến nay, Viện đã đạt được những thành tựu to lớn về nghiên cứu khoa học đo đạc và bản đồ, góp phần vào sự phát triển của Bộ TN&MT trong 15 năm qua.

Khẳng định sức mạnh nguồn lực khoa học và công nghệ

Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ là viện nghiên cứu cơ bản trực thuộc Bộ TN&MT. Với cơ cấu tổ chức và bộ máy hoàn chỉnh, đảm bảo đầy đủ các nguồn lực về thông tin, đào tạo tiến sỹ, xuất bản tạp chí khoa học, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, với vị thế này Viện có nhiều điều kiện để phát triển nguồn nhân lực; định hướng nghiên cứu các vấn đề khoa học – kỹ thuật cơ bản phục vụ việc thực hiện Chiến lược phát triển ngành Đo đạc và Bản đồ, các chủ trương và định hướng phát triển của Bộ TN&MT trong từng giai đoạn; tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo với các trường Đại học trong nước và các tổ chức quốc tế…

Trong nhiều năm qua Viện đã tham gia nhiều chương trình khoa học trọng điểm và đề tài cấp Nhà nước, trên 80 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn phục vụ thiết thực cho việc đưa công nghệ đo đạc, bản đồ, địa chính, viễn thám phục vụ các dự án điều tra cơ bản của Bộ TN&MT, góp các lý luận cơ bản cho việc thực hiện Chiến lược phát triển ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam.

Lãnh đạo Viện luôn xác định gắn kết chặt chẽ công tác nghiên cứu khoa học với việc triển khai các dự án đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Viện xây dựng được nhiều Quy trình công nghệ, quy định kỹ thuật, Định mức kinh tế – kỹ thuật cho các lĩnh vực Đo đạc – Bản đồ và Địa chính; Phát triển được nhiều phần mềm xử lý dữ liệu hiện đại phục vụ công tác nghiên cứu khoa học ở Viện và phục vụ thực hiện các nhiệm vụ ở các Sở TN&MT; tham gia đào tạo Thạc sỹ và Tiến sỹ với các trường Đại học trong nước.

Hiện nay, Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ có nhiều cán bộ nghiên cứu có trình độ cao được đào tạo cơ bản có thể thực hiện được các nhiệm vụ cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Viện có nguồn cán bộ trẻ dồi dào đã qua đào tạo thạc sỹ tạo cơ sở phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ trong giai đoạn tới.

Được sự quan tâm của lãnh đạo Bộ TN&MT, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu được trang bị trong những năm qua đã phần nào phục vụ được các hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu thử nghiệm của Viện; nhiều định hướng nghiên cứu cơ bản đã được tập thể các cán bộ khoa học của Viện đề xuất và triển khai thực hiện. Các thiết bị hàng đầu trên thế giới đã được tăng cường cho Viện như: Thiết bị thu tín hiệu vệ tinh GNSS R8, R9 (Mỹ), thiết bị thủy chuẩn độ chính xác cao, hệ thống đo trọng lực tuyệt đối FG5x (Mỹ), hệ thống đo trọng lực hàng không TAGS6 (Mỹ), máy đo trọng lực biển ZLS, máy dò công trình ngầm Hi-MODE4 (Italia)…

Có thể kể đến những thế mạnh của Viện như: Nghiên cứu về trường trọng lực trên lãnh thổ Việt Nam với các ứng dụng trong đo đạc bản đồ, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước; nghiên cứu ứng dụng về địa động lực lãnh thổ phục vụ dự báo tai biến tự nhiên, phục vụ cải chính số liệu đo mực nước biển dâng để cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam; nghiên cứu cơ sở khoa học xác định mặt Quasigeoid độ chính xác cao trên đất liền và vùng biển Việt Nam, xây dựng hệ tọa độ động quốc gia; nghiên cứu giải quyết bài toán tổng quát hóa tự động để thành lập bản đồ địa hình các tỷ lệ; nghiên cứu hoàn thiện các quy định kỹ thuật trong đo đạc địa chính, bản đồ vùng giá trị đất, giám sát tài nguyên đất bằng GIS; nghiên cứu ứng dụng đo ảnh và viễn thám trong thành lập bản đồ địa hình, địa chính, bản đồ chuyên đề…

Đặc biệt, Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ luôn đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công nghệ với các nước tiên tiến có trình độ phát triển cao về Trắc địa và Bản đồ. Việc hợp tác quốc tế sẽ tạo điều kiện cho việc tiếp thu nhanh chóng các thành tựu khoa học và công nghệ của các nước và đào tạo nguồn lực khoa học và công nghệ của mình. Viện đã có mối quan hệ hợp tác quốc tế rộng rãi, tham gia hoạt động với nhiều tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới như: Lào, Campuchia, Nga, Ba Lan, Tây Ban Nha, Hungari, Hà Lan, Thuỵ Điển, Úc, Mỹ, Trung Quốc,  Hàn Quốc… để không ngừng nâng cao chất lượng nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ tiến tiến, đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của ngành TN&MT nói chung và Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ nói riêng.

 

Gắn nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

Với hệ thống thiết bị, công nghệ hiện đại và những định hướng đúng đắn trong phát triển ứng dụng, nhằm cung cấp các số liệu cơ bản về khoa học Trái đất nói chung và về đo đạc bản đồ nói riêng, Viện đã chủ trì cũng như tham gia nhiều dự án quan trọng của lĩnh vực đo đạc bản đồ và của ngành TN&MT, có thể kể đến như: Chủ trì thực hiện bay đo trọng lực hàng không phủ kín toàn bộ vùng núi Việt nam (hơn 1/3 diện tích đất liền); sử dụng thiết bị dò công trình ngầm trong khảo sát hệ thống ngầm tại Công ty TNHH giang thép Hưng Nghiệp Formosa – Hà Tĩnh, Nhà máy giấy Lee&Man – Hậu Giang theo yêu cầu của Bộ; tham gia thực hiện dự án đo sụt lún bề mặt đất khu vực TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đồng bằng sông Cửu Long bằng quy trình công nghệ tích hợp hiện đại; chủ trì thực hiện các dự án về quan trắc địa động lực tại các đứt gãy chính ở Việt Nam; tham gia thực hiện dự án đo trọng lực tuyệt đối và hạng cao cho Vương quốc Campuchia…

Nhằm tăng cường nguồn lực khoa học và công nghệ của mình, Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ luôn chú trọng công tác tuyển dụng cán bộ, đặc biệt, chú trọng các cán bộ có hoài bão, năng lực nghiên cứu khoa học và tạo điều kiện để các cán bộ trẻ biết phương pháp tự học nhằm không ngừng nâng cao kiến thức, làm chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở và được học tập, bồi dưỡng ở các nước có trình độ khoa học và công nghệ về trắc địa – bản đồ tiên tiến. Công tác bồi dưỡng kiến thức ngoại ngữ cho cán bộ trẻ được đặc biệt chú trọng như là một chỉ tiêu bắt buộc của viên chức công tác tại Viện.

Đặc biệt, trong Chiến lược xây dựng và phát triển của mình, Viện khoa học Đo đạc và Bản đồ đặt mục tiêu đến năm 2020 trở thành một Viện nghiên cứu cơ bản đầu ngành có trình độ khoa học và công nghệ hiện đại đạt mức tiên tiến của khu vực, tiếp cận với trình độ tiên tiến trên thế giới trong lĩnh vực Đo đạc và Bản đồ… Cán bộ, viên chức, người lao động của Viện luôn hoàn thành được nhiệm vụ của Bộ TN&MT giao phó. Đặc biệt, Viện khoa học Đo đạc và Bản đồ luôn xác định thực hiện gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với triển khai, chuyển giao công nghệ và sản xuất thử nghiệm. Viện được đánh giá là đơn vị khoa học công nghệ đầu ngành làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học về đo đạc – bản đồ và địa chính ở Việt Nam.

Trong những năm qua, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đã góp phần định hướng phát triển khoa học – công nghệ trong các lĩnh vực Đo đạc và Bản đồ. Một số đề tài nghiên cứu khoa học của Viện có giá trị thực tiễn phục vụ cho việc thực hiện Chiến lược phát triển ngành Đo đạc và Bản đồ đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020, đáp ứng các nhiệm vụ chính trị và các định hướng phát triển của Bộ TN&MT.

Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành một Viện nghiên cứu cơ bản đầu ngành có trình độ khoa học và công nghệ hiện đại đạt mức tiên tiến của khu vực, tiếp cận với trình độ tiên tiến trên thế giới trong lĩnh vực Đo đạc và Bản đồ, Viện đã đề ra những mục tiêu cụ thể: Mở rộng và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và công nghệ để đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các luận cứ khoa học và công nghệ tiên tiến phục vụ các yêu cầu của quản lý Nhà nước về đo đạc và bản đồ, sử dụng hợp lý tài nguyên, thiên nhiên, phát triển kinh tế – xã hội bền vững, bảo đảm an ninh – quốc phòng, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường và nghiên cứu khoa học về Trái đất.

Viện tiếp tục kiện toàn, phát triển cơ cấu tổ chức của Viện để đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành trong giai đoạn mới; tập trung ưu tiên phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học có trình độ cao của Viện đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, hợp lý về cơ cấu chuyên môn, có đủ phẩm chất chính trị, trình độ và năng lực chuyên môn sâu; từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất – kỹ thuật, tăng cường đầu tư trang thiết bị, máy móc nghiên cứu khoa học hiện đại đạt trình độ tiên tiến trong khu vực để đáp ứng các yêu cầu thực hiện các định hướng, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng đã được đề ra… từng bước đáp ứng những yêu cầu mới về nguồn nhân lực trong sự phát triển chung của Bộ TN&MT.

Xuân Phương – Hải Ngọc

 

Cục Viễn thám quốc gia thực hiện công tác quản lý Nhà nước định hướng các hoạt động nhằm phục vụ đa ngành, đa lĩnh vực, đa mục tiêu, ứng dụng viễn thám phục vụ rộng rãi và thường xuyên cho nhu cầu của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp; tăng cường cơ sở hạ tầng viễn thám, mở rộng quan hệ quốc tế về viễn thám, xây dựng và hình thành chính sách quốc gia và khung pháp lý về phát triển và ứng dụng viễn thám.

Đến năm 2025, ngành viễn thám phấn đấu làm chủ công nghệ chế tạo thiết bị viễn thám trên vệ tinh, phát triển công nghệ phần cứng, phần mềm xử lý dữ liệu viễn thám, mở rộng và thương mại hóa các sản phẩm ứng dụng viễn thám.

Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về viễn thám

Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả ứng dụng và phát triển công nghệ viễn thám là yêu cầu cấp thiết. Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn về quản lý và phát triển công nghệ viễn thám, Cục đã và đang thực hiện một số nhiệm vụ: xây dựng trình Chính phủ ban hành các Thông tư, Nghị định, Quyết định về hoạt động viễn thám; quy chế về quản lý, trao đổi và cung cấp thông tin viễn thám, về sử dụng chung các cơ sở viễn thám liên ngành; các tiêu chuẩn về viễn thám, bao gồm các quy trình, quy phạm xử lý và sử dụng tư liệu viễn thám vào các lĩnh vực chuyên ngành.

Năm 2017, Cục đã trình Bộ trưởng ký ban hành các văn bản quy phạm phát luật về viễn thám: Thông tư số 08/2017/TT-BTNMT ngày 6/6/2017 của Bộ TN&MT quy định quy trình đo khống chế ảnh viễn thám; Thông tư số 09/2017/TT-BTNMT ngày 6/6/2017 của Bộ trưởng Bộ TN&MT về việc quy định kỹ thuật xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia; Thông tư số 10/2017/TT-BTNMT ngày 6/6/2017 của Bộ TN&MT quy định quy trình thành lập bản đồ chuyên đề bằng ảnh viễn thám tỷ lệ 1:5.000, 1:10.000, 1:500.000, 1:1.000.000.

Bên cạnh đó, Cục đã hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định kỹ thuật về phát triển và ứng dụng công nghệ viễn thám, nhằm đảm bảo đầu tư đồng bộ, thống nhất, an toàn an ninh công nghệ.

 

Đẩy mạnh quản lý Nhà nước về viễn thám tại địa phương

Qua rà soát và tổng hợp tình hình quản lý Nhà nước về viễn thám cho thấy, hầu hết các địa phương hiện còn đang lúng túng trong việc ứng dụng công nghệ viễn thám. Do đó, Cục cần chú trọng đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ viễn thám trong các hoạt động quản lý Nhà nước về TN&MT ở địa phương; tiếp tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực viễn thám, trong đó, cần hướng dẫn và quy định rõ trách nhiệm trong ứng dụng và công tác quản lý Nhà nước về viễn thám tại địa phương; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định kỹ thuật về phát triển và ứng dụng công nghệ viễn thám phù hợp với từng lĩnh vực TN&MT đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý Nhà nước của địa phương về viễn thám; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Bổ sung kinh phí đào tạo, bồi dưỡng để tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý, khai thác, sử dụng công nghệ viễn thám trong giám sát, quản lý TN&MT cho cán bộ chuyên môn của các Sở; hỗ trợ địa phương trong xây dựng kế hoạch, đề án, dự án về viễn thám trong địa bàn…

Cũng trong thời gian qua, Cục đã đẩy mạnh chỉ đạo các địa phương hoạt động và phát triển viễn thám theo tinh thần Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28/8/2014. Đến nay, đa số các Sở TN&MT của các tỉnh, thành phố trong cả nước đã có bộ phận phụ trách lĩnh vực viễn thám, bước đầu, được lồng ghép trong Phòng Đo đạc và Bản đồ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về viễn thám tại địa phương.

Năm 2017, công tác thanh tra, kiểm tra bắt đầu được chú trọng, Cục đã tổ chức được các đoàn công tác tiến hành kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý Nhà nước về viễn thám và tình hình ứng dụng công nghệ viễn thám một số địa phương.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế

Tăng cường nguồn nhân lực chất lượng cao về viễn thám, có am hiểu chuyên sâu về công nghệ vệ tinh viễn thám, hệ thống hạ tầng viễn thám… là điều kiện tiên quyết đối với sự phát triển của ngành viễn thám, trước hết cần tập trung trang bị cho các cán bộ quản lý, kỹ thuật những thông tin, kiến thức cơ bản và thiết thực về công nghệ viễn thám phục vụ cho hoạt động tác nghiệp thường xuyên. Việc đào tạo, bồi dưỡng cần phải đảm bảo tính khoa học giữa khối kiến thức khoa học cơ bản với khối kiến thức chuyên ngành, chú trọng đến tính ứng dụng, tính đặc thù riêng biệt của công nghệ viễn thám phù hợp với yêu cầu thực tiễn của từng ngành, từng địa phương. Đồng thời, cập nhật những kiến thức mới, đảm bảo cơ cấu hợp lý trong kiến thức chuyên ngành tương ứng với trình độ chung của các nước trong khu vực, phấn đấu đạt trình độ quốc tế. Xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; đầu tư, xây dựng, phát triển cơ sở đào tạo; tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế trong phát triển nguồn nhân lực và đổi mới cơ chế, chính sách đãi ngộ, khuyến khích học tập, nghiên cứu về lĩnh vực viễn thám.

Cùng với đó, Cục thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, công nghệ, triển khai theo các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu quốc gia, các chương trình, đề tài và nhiệm vụ khoa học cấp Bộ, các dự án điều tra cơ bản và một số nhiệm vụ đột xuất.  Các đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Nhà nước và cấp Bộ TN&MT tạo ra các quy trình công nghệ mới phục vụ phát triển lĩnh vực viễn thám trên phạm vi cả nước, đưa vào ứng dụng trong thực tiễn điều tra cơ bản, giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường, phòng tránh thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu và đảm bảo quốc phòng – an ninh…

Xác định việc hội nhập quốc tế về viễn thám tạo điều kiện cho lĩnh vực viễn thám tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè và các đối tác quốc tế trên thế giới về tri thức, công nghệ, thông tin khoa học, trang thiết bị, tài liệu và đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế sẽ giúp nâng cao trình độ khoa học, giao lưu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, tăng cường học hỏi kinh nghiệm và thông tin của các nước đi trước, tăng cường khả năng tiếp cận, tiếp thu kiến thức tiên tiến trong công nghệ viễn thám thời kỳ hiện đại, đáp ứng yêu cầu ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ về viễn thám, đưa công nghệ viễn thám của Việt Nam tương ứng với trình độ chung của các nước trong khu vực và trên quốc tế.

 

Phát triển ứng dụng công nghệ viễn thám

Theo chỉ đạo của Chính phủ và Bộ TN&MT, Cục đã chủ trì thực hiện Dự án “Quy hoạch tổng thể lĩnh vực viễn thám giai đoạn 2015 – 2025”, trong đó định hướng giai đoạn 2015 đến 2025, sẽ mở rộng ứng dụng công nghệ viễn thám trong nhiều lĩnh vực, trên phạm vi cả nước như: Quản lý thống nhất biển – hải đảo; tài nguyên nước; khí tượng – thủy văn; địa chất – khoáng sản; điều tra quản lý tài nguyên rừng; điều tra, quản lý đất đai; đo đạc – bản đồ; nông nghiệp; thủy sản; giám sát và giảm nhẹ thiên tai; giám sát và bảo vệ môi trường; nghiên cứu khoa học; quy hoạch đô thị và thiết kế các công trình kinh tế – kĩ thuật lớn; phục vụ các nhiệm vụ an ninh – quốc phòng.

Hiện nay, Cục đã đề xuất và thực hiện các nhiệm vụ, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ nhằm thúc đẩy phát triển công nghệ mới và ứng dụng công nghệ viễn thám trong nhiều lĩnh vực, trên phạm vi cả nước như: “Giám sát một số vùng biển, đảo trọng điểm xa bờ bằng công nghệ viễn thám phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng”. “Hiện chỉnh BĐĐH quốc gia tỷ lệ 1:50.000 bằng ảnh viễn thám: “Khu vực Biên giới Việt – Trung, Tây Bắc và Khu vực Nghệ An – Thanh Hóa”. “Xây dựng Cơ sở Dữ liệu viễn thám Quốc gia”. “Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển lĩnh vực viễn thám quốc gia giai đoạn 2015 – 2025”. “Sử dụng công nghệ Viễn thám và GIS xây dựng cơ sở dữ liệu thành lập bản đồ diễn biến vùng ô nhiễm, vùng nước thải từ các khu công nghiệp, đô thị nhằm đưa ra cảnh báo các vùng có nguy cơ ô nhiễm vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”. “Giám sát xói lở bờ biển tại một số khu vực trọng điểm miền Trung bằng công nghệ viễn thám. “Kiểm kê quốc gia khí nhà kính năm 2016 trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) phục vụ xây dựng các Báo cáo quốc gia và đóng góp của Việt Nam cho Công ước khí hậu”…

Đồng thời, Cục Viễn thám quốc gia đã chủ động tiến hành làm việc với các Bộ, ngành, tỉnh, thành trong cả nước nhằm đẩy mạnh phát triển ứng dụng viễn thám tại địa phương. Để thực hiện Dự án “Quy hoạch tổng thể lĩnh vực viễn thám giai đoạn 2015 – 2025”, Cục đã cử các đoàn công tác đi khảo sát tại các Bộ, ngành, địa phương nhằm hiện thực hóa việc phát triển đồng bộ viễn thám.

Có thể nói, những năm qua, Cục Viễn thám quốc gia đã khẳng định được được vai trò quan trọng, không thể thiếu trong công tác quản lý Nhà nước về TN&MT, từng bước nỗ lực vượt qua khó khăn để phát triển, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý và phát triển công nghệ viễn thám đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Cục Viễn thám quốc gia được thành lập trên cơ sở Trung tâm Viễn thám quốc gia trực thuộc Bộ TN&MT. Tiền thân từ Trung tâm Viễn thám thuộc Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước (1980 – 1993), thuộc Tổng cục Địa chính (1994 – 2002) và trực thuộc Bộ TN&MT từ năm 2003 đến nay. Tại Nghị định số 36/2017/NĐ-CP ngày 4/4/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT, viễn thám được xác định là 1 trong 9 lĩnh vực thuộc chức năng quản lý Nhà nước của Bộ TN&MT. Cục Viễn thám quốc gia là tổ chức trực thuộc Bộ TN&MT có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý Nhà nước về viễn thám; tổ chức thực hiện các dịch vụ công về viễn thám theo quy định của pháp luật.

Nguyễn Quốc Khánh – Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia

Ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đón nhận phần thưởng cao quý của Nhà nước. Ảnh: Hoàng Minh

Cùng với việc thành lập Bộ TN&MT, đầu năm 2003, Cục Đo đạc và Bản đồ được tái lập. Kể từ khi thành lập Cục vào ngày 14/12/1959, trong chặng đường 15 năm qua, lĩnh vực đo đạc và bản đồ đã có bước phát triển nhanh chóng, đóng góp to lớn vào sự phát triển của Bộ TN&MT.

Đánh dấu bước phát triển mới

Ngày 25/3/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP – Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT, Cục Đo đạc và Bản đồ được đổi tên thành Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, khẳng định vai trò quan trọng của Cục trong sự phát triển của ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam.

Ngày 4/4/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 36/2017/NĐ-CP – Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam được đổi tên thành Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam, đánh dấu một bước phát triển mới trong cuộc cách mạng thông tin địa lý và hội nhập quốc tế.

Với đội ngũ những người làm công tác quản lý và triển khai hoạt động ban đầu khi mới tái lập năm 2002, chưa đến 200 người; đến nay đã phát triển lên gần 500 người với tỷ lệ cán bộ có trình độ từ đại học trở lên chiếm 80% (trong đó, có hơn 17% cán bộ có trình độ trên đại học).

Ở mọi vị trí công tác, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, những người làm công tác đo đạc và bản đồ thầm lặng có mặt khắp mọi miền đất nước, từ núi cao, rừng sâu, biên giới đến hải đảo xa xôi, kể cả nhiều nơi chưa từng có dấu chân người; miệt mài lao động, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hy sinh để đảm bảo cung cấp, đáp ứng mọi yêu cầu về thông tin dữ liệu đo đạc và bản đồ cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.

Văn bản quy phạm pháp luật – Công cụ quản lý hữu hiệu

Với gần 90 văn bản quy phạm pháp luật được Cục chủ trì xây dựng và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ TN&MT ký ban hành; trong đó, đặc biệt là Chiến lược phát triển ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành năm 2008, dự án Luật Đo đạc và Bản đồ đã trình Quốc hội xem xét; đây là giai đoạn có số lượng văn bản quy phạm pháp luật lớn nhất được ban hành. Các văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ đã bước đầu đáp ứng được công tác quản lý Nhà nước cũng như việc thực thi pháp luật về đo đạc và bản đồ. Việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật này đã mang lại những hiệu quả nhất định trong phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và nhiều mục tiêu quan trọng khác. Trong thời gian tới, việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy phù hợp với sự phát triển của công nghệ trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ là nhiệm vụ rất quan trọng để đáp ứng yêu cầu nhu cầu của xã hội trong thời đại công nghiệp và cuộc cách mạng 4.0.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là công cụ giúp công tác quản lý Nhà nước của Cục được đầy đủ, thống nhất và hiệu quả từ Trung ương đến địa phương và giữa các Bộ, ngành, địa phương.

Triển khai thành công nhiều hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản

Hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản nhằm cung cấp các số liệu, cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia và bản đồ địa hình quốc gia phục vụ triển khai công tác đo đạc và bản đồ trên toàn quốc; xây dựng, quản lý, vận hành công trình hạ tầng đo đạc; thành lập các sản phẩm đo đạc và bản đồ đáp ứng nhu cầu sử dụng chung cho các ngành, địa phương và cộng đồng.

Trong 15 năm qua, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đã tổ chức thực hiện và hoàn thành nhiều công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ cơ bản quan trọng, cụ thể:

Hệ tọa độ quốc gia, hệ độ cao quốc gia, hệ trọng lực quốc gia và các mạng lưới đo đạc quốc gia: Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc gia VN-2.000 sử dụng thống nhất trong cả nước; Hệ thống lưới các điểm tọa độ quốc gia cấp “0”, hạng I, hạng II và hạng III (lưới tọa độ địa chính cơ sở) với tổng số 14.234 điểm phủ trùm cả nước; Hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống độ cao quốc gia hạng I, hạng II, hạng III với tổng số 6.929 điểm, trong đó, có 2.328 điểm độ cao hạng I, hạng II và 4.601 điểm độ cao hạng III; Hệ thống điểm trọng lực cơ sở, trọng lực vệ tinh, trọng lực chi tiết với tổng số 67.500 điểm; Hoàn thành và bàn giao cho các địa phương quản lý và khai thác sử dụng mạng lưới địa chính cơ sở bao gồm 13.836 điểm; Hệ thống gồm 6 Trạm định vị vệ tinh tại Cao Bằng, Hà Giang, Hải Phòng, Điện Biên, Quảng Nam, Bà Rịa – Vũng Tàu, đang triển khai thực hiện dự án xây dựng hệ thống trạm định vị vệ tinh gồm 65 Trạm trên cả nước, kết nối với mạng lưới trên thế giới.

Hệ thống cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia và bản đồ địa hình quốc gia: Hoàn thành việc chuyển đổi toàn bộ sản phẩm bản đồ địa hình ở các tỷ lệ 1:25.000, 1:50.000 từ Hệ tọa độ HN-72 sang Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc gia VN-2.000 (946 mảnh tỷ lệ 1:25.000, 185 mảnh tỷ lệ 1:50.000); Công bố hoàn thành và đưa vào sử dụng bộ bản đồ địa hình quốc gia dạng số tỷ lệ 1:50.000 phủ trùm toàn quốc, với tổng số 671 mảnh (573 mảnh trên đất liền, 98 mảnh khu vực biên giới Việt – Trung, Việt – Lào); Hệ thống cơ sở dữ liệu nền địa hình quốc gia và bản đồ địa hình quốc gia  tỷ lệ 1:10.000 phủ trùm cả nước và tỷ lệ 1:2.000, 1:5.000 phủ kín các khu vực đô thị, khu vực kinh tế trọng điểm; cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia tỷ lệ 1:10.000;  Xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa hình – thủy văn cơ bản phục vụ phòng chống lũ lụt và phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long; Hệ thống bản đồ địa hình đáy biển ở tỷ lệ 1:50.000 và 1:10.000 một số vùng biển có nhu cầu phát triển kinh tế; tỷ lệ 1:25.000 các cửa sông, vịnh và một số đảo; tỷ lệ 1:100.000 dọc ven biển, 1:200.000 khu vực Trường Sa; hải đồ tỷ lệ 1:300.000, 1:400.000, 1:500.000, 1:1.000.000 khu vực Biển Đông và vùng biển lân cận; Hệ thống không ảnh ở nhiều tỷ lệ khác nhau phủ trùm cả nước; Đo đạc, thành lập bản đồ địa hình phục vụ phân định biên giới Việt – Trung; phân định biên giới trên biển với các quốc gia liên quan và công tác phân giới cắm mốc biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuchia; đo đạc, thành lập bản đồ địa hình phục vụ phân định và giải quyết tranh chấp địa giới hành chính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp; chuẩn hóa địa danh, xây dựng và ban hành hệ thống thông tin địa danh Quốc tế và Việt Nam phục vụ công tác thành lập bản đồ; chuẩn hóa danh mục các đối tượng địa lý trên biển.

Các sản phẩm đo đạc và bản đồ đã góp phần quan trọng trong điều tra cơ bản, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; quản lý và quy hoạch lãnh thổ; giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường; dự báo thiên tai, ứng phó với biển đổi khí hậu; đảm bảo quốc phòng, an ninh; nâng cao dân trí.

Các kết quả đo đạc và bản đồ là nguồn tư liệu quan trọng trong điều tra cơ bản, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; quản lý và quy hoạch lãnh thổ; giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường; ứng phó với biến đổi khí hậu; đảm bảo quốc phòng, an ninh; nâng cao dân trí. Các kết quả đo đạc và bản đồ là dữ liệu cơ bản giúp cho ngành TN&MT triển khai các dự án quan trọng của Bộ TN&MT và các Bộ, ngành, địa phương trên cả nước, đóng góp vào việc phát triển “kinh tế xanh”.

Các hoạt động đo đạc và bản đồ biên giới đã phục vụ đắc lực cho việc phân định ranh giới quốc gia trên đất liền, trên biển với các nước láng giềng, góp phần giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc và ổn định chính trị trong khu vực.

Nguyên Bộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang thăm gian hàng trưng bày bản đồ tại Lễ kỷ niệm ngành Đo đạc & Bản đồ. Ảnh: Hoàng Minh

Công tác biên giới và địa giới góp phần khẳng định chủ quyền

Trong 15 năm qua, công tác biên giới và địa giới của Cục đã đạt được nhiều thành quả quan trọng, đóng góp to lớn vào sự ổn định chính trị giữa Việt Nam với các nước láng giềng, khẳng định chủ quyền của đất nước.

Tuyến biên giới Việt Nam – Trung Quốc: Sau 9 năm tổ chức triển khai công tác phân giới, cắm mốc trên thực địa, đã phân giới được 1.449,56 km đường biên giới từ ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Trung Quốc (đỉnh núi Khoan La San) đến giới điểm 62 của đường phân định lãnh hải trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc (trong đó, có 1.065,62 km đường biên giới trên đất liền, 383,91 km đường biên giới theo sông suối); đã cắm được 1.970 cột mốc, bao gồm 1.627 cột mốc đơn, 232 cột mốc đôi và 111 cột mốc ba. Thành lập bộ bản đồ đường biên giới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở tỷ lệ 1:50.000 với tổng số 35 mảnh

Tuyến biên giới Việt Nam – Lào: Thực hiện chỉ đạo của hai Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Lào về tổ chức thực hiện “Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam – Lào”. Sau 7 năm thực hiện, đến nay đã hoàn thành việc xác định vị trí, cắm mốc và hoàn thiện hồ sơ 1.002 cột mốc và cọc dấu biên giới trên toàn tuyến. Thành lập bộ bản đồ đường biên giới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tỷ lệ 1:50.000 với tổng số 63 mảnh.

Tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia: Thực hiện Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Campuchia ký ngày 27/12/1985 và Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới 1985, ký ngày 10/10/2005, Cục đã phối hợp với Ủy ban Biên giới Quốc gia và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng phương án phân giới, cắm mốc. Hai bên đang tiến hành phân giới, cắm mốc trên thực địa, đến nay, đã phân giới được 929/1.137 km đường biên giới trên thực địa đạt khoảng 84%; xây dựng được 312/371 cột mốc chính. Theo thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước, hai bên đang phấn đấu hoàn thành công tác xác định vị trí và xây dựng 1.737 mốc phụ, cọc dấu trong năm 2017 để tiến tới xây dựng một văn bản pháp lý về đường biên giới giữa hai nước Việt Nam và Campuchia để thống nhất quản lý biên giới lãnh thổ.

Biên giới trên biển: Cục đã phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện khảo sát đo đạc thành lập bản đồ xác định tọa độ điểm cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ, khảo sát chung khu vực vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ Việt Nam – Trung Quốc phục vụ cho phân định ranh giới thềm lục địa và hợp tác cùng phát triển khu vực cửa Vịnh Bắc Bộ, triển khai xây dựng các điểm mốc cơ sở theo đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải trên các vùng biển Việt Nam.

Địa giới hành chính: Từ năm 2012 đến nay, Cục đã phối hợp với Bộ Nội vụ và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện Dự án “Hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính các cấp” theo Quyết định số 513/QĐ-TTg ngày 2/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Dự kiến, Dự án sẽ hoàn thành vào năm 2019.

Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế

Khoa học đo đạc và bản đồ gắn liền với công tác nghiên cứu về Trái đất và có quan hệ mật thiết với khoa học và công nghệ; do đó, Cục luôn chú trọng đến công tác nghiên cứu khoa học, gắn liền giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Từ 2002 đến nay, Cục đã triển khai thực hiện 50 đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm (trong đó có 25 đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm cấp Bộ). Các nội dung nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, hiện đại nhằm năng cao độ chính xác dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu độ cao và nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu để áp dụng vào công tác thu nhận, xử lý và khai thác dữ liệu đo đạc và bản đồ chiếm phần lớn trong các nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả sản phẩm của ngành.

Hội nhập quốc tế về đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý luôn được lãnh đạo Cục quan tâm và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về phương diện song phương và đa phương. Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đã tham gia vào hoạt động của Nhóm chuyên gia Liên Hợp Quốc về địa danh (UNGEGN), Nhóm chuyên gia Liên Hợp Quốc về quản lý không gian địa lý toàn cầu (UNGGIM), Liên đoàn các nhà đo đạc thế giới (FIG)… Đồng thời, tham gia các tổ chức của khu vực ASEAN. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện Thỏa thuận khung thừa nhận lẫn nhau về trình độ đo đạc giữa các nước ASEAN.

Quan hệ hợp tác về đo đạc và bản đồ với các quốc gia cũng luôn được duy trì ngày càng mở rộng, phát triển. Sự hợp tác với các quốc gia hoặc các cơ quan đo đạc và bản đồ của Nauy, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Ba Lan, Hungary, Pháp, Trung Quốc, Malaixia, Lào, Campuchia… đã tạo điều kiện cho các bên giúp đỡ nhau trong đào tạo nhân lực, học hỏi kinh nghiệm, phối hợp thực hiện nhiệm vụ chung của quốc gia và quốc tế.

Định hướng phát triển

Để hoàn thành trách nhiệm nặng nề của Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin Việt Nam trong thời gian tới, lãnh đạo Bộ TN&MT đã chỉ đạo Cục cần tập trung giải quyết các vấn đề cụ thể sau:

Thứ nhất, do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ còn chưa đầy đủ, dẫn đến tình trạng quản lý chưa thống nhất, đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Một số nội dung của Nghị định về hoạt động đo đạc và bản đồ không còn phù hợp với công tác quản lý hiện nay, chưa phù hợp với điều kiện thực tế về công nghệ và chủ trương xã hội hóa của ngành. Còn có sự bất cập ngay trong hệ thống văn bản giữa các đơn vị trực thuộc Bộ về những nội dung liên quan đến công tác đo đạc và bản đồ, cần tổ chức và hoàn thiện dự án Luật Đo đạc và Bản đồ có chất lượng để trình Quốc hội thông qua trong thời gian sớm nhất, đồng thời, xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, đồng bộ, làm căn cứ đổi mới hoạt động đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý trong tình hình mới.

Thứ hai, phối hợp với các đơn vị có liên quan để rà soát lại Chiến lược phát triển ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2008; đánh giá đúng mức những nội dung, chương trình trong Chiến lược để chỉnh sửa, bổ sung kịp thời. Chiến lược cần xem xét đến những chương trình, nhiệm vụ do Bộ đang và sẽ thực hiện nhằm đảm bảo tính đồng bộ trong việc đầu tư triển khai các dự án của Ngành theo từng khu vực, có sự liên kết, phối hợp với các lĩnh vực trong Bộ và các Bộ, ngành, địa phương có liên quan. Đồng thời cần tính đến sự phối hợp với các quốc gia trong khu vực để thực hiện các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc. Cần chú trọng đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền của đất nước trong bối cảnh hiện nay.

Thứ ba, phải củng cố và xây dựng nguồn nhân lực đo đạc và bản đồ đủ về số lượng, mạnh về chất lượng để đảm bảo tổ chức triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ của ngành; cần có kế hoạch cụ thể trong xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ để tham mưu, định hướng, tổ chức, làm ”tổng công trình sư”các nhiệm vụ lớn của Ngành và tham gia các chương trình, dự án hợp tác quốc tế. Đồng thời, tăng cường công tác hợp tác quốc tế để tranh thủ nguồn lực, kiến thức khoa học công nghệ tiên tiến, đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ đo đạc và bản đồ của khu vực và thế giới.

Đi đôi với công tác phát triển nguồn nhân lực cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đo đạc và bản đồ nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất của công tác xây dựng và khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu đo đạc và bản đồ vào các mục đích của xã hội; đặc biệt, phục vụ tốt cho các nhiệm vụ của Bộ TN&MT.

Thứ tư, chú trọng đầu tư, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trong xây dựng hạ tầng kỹ thuật, thu nhận và xử lý thông tin và sử dụng sản phẩm của ngành đo đạc và bản đồ; hiện đại hóa công nghệ; đẩy mạnh việc xã hội hóa, tạo nguồn lực đầu tư, phát triển của xã hội và các nguồn lực hỗ trợ của nước ngoài.

Thứ năm, cần tăng cường nâng cao bản lĩnh chính trị và chuyên môn, ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ làm công tác biên giới và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ; phải giữ vững lập trường trong đấu tranh, đàm phán các vấn đề về biên giới, chủ quyền đất nước trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về lịch sử, chuyên môn và đường lối, quan điểm của Đảng. Việc tham gia vào các tổ chức khu vực và quốc tế là hết sức cần thiết nhằm tạo mối quan hệ, đóng góp vào sự phát triển chung của thế giới, tranh thủ sự ủng hộ của các quốc gia trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền của Việt Nam, kịp thời phát hiện và đấu tranh với những biểu hiện sai trái, áp đặt của các thế lực thù địch trên thế giới.

Cục cần phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương có liên quan để đảm bảo công tác kỹ thuật phục vụ công tác đàm phán, giúp đẩy nhanh tiến độ hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Campuchia; chuẩn bị các điều kiện nhân lực, kỹ thuật phục vụ triển khai công tác phân định ranh giới trên biển khu vực Vịnh Thái Lan, phân định ranh giới trên biển với các quốc gia trong khu vực, góp phần ổn định tình hình chính trị và tăng cường hợp tác phát triển trong khu vực.

Lãnh đạo Bộ đã yêu cầu Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Cục Bản đồ (Bộ Tổng tham mưu – Bộ Quốc phòng) xây dựng, sử dụng cơ sở dữ liệu, bản đồ địa hình phục vụ quốc phòng cho các mục đích dân sự, tránh đầu tư chồng chéo, tạo hành lang pháp lý về xã hội hóa công tác đo đạc và bản đồ để điều hành, quản lý tốt công tác này trong một hệ thống thống nhất. Một trong những việc cấp bách phải làm ngay là Cục phải nhanh chóng hoàn thiện, cập nhật cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý vì đây là cơ sở dữ liệu nền tảng để xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác trong tất cả các ngành, địa phương.

Đánh giá và ghi nhận các thành tích Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đã đạt được trong sự nghiệp phát triển ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam nói chung, của Bộ TN&MT  nói riêng, Đảng và Nhà nước, Bộ TN&MT đã trao tặng nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý cho các tập thể và cá nhân như: Huân chương Độc lập, Huân chương Lao động, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Nhìn lại chặng đường 15 năm qua, có thể tin tưởng rằng: với truyền thống cần cù, năng động, sáng tạo trong công việc và sự đoàn kết, nhất trí của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong suốt gần 60 năm qua, đặc biệt là từ 2002 đến nay, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam sẽ luôn phát huy những thành tích vẻ vang của mình, tiếp tục nỗ lực phấn đấu xây dựng đội ngũ những người làm công tác đo đạc và bản đồ không ngừng phát triển lớn mạnh, tiếp tục đạt được nhiều thành tích to lớn hơn nữa, góp phần xứng đáng vào sự phát triển của Bộ TN&MT và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

TS. Phan Đức Hiếu – Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam

Ứng dụng mô hình giám sát hồ chứa khi gặp sự cố. Ảnh: MH

Việc ứng dụng một mô hình giám sát hồ chứa có sự tham gia của dữ liệu viễn thám giúp ích nhiều cho khả năng dự báo và hạn chế các tác động của việc nắn dòng chảy đến vùng hạ lưu khi hồ đập gặp sự cố.

Để có được những kịch bản thích hợp cho việc ứng phó sự cố hồ đập, giảm tác hại về người và tài sản cho vùng hạ du, Cục Viễn thám Quốc gia đã hoàn thành nghiên cứu Đề tài Kết hợp công nghệ viễn thám và mô hình thủy lực xây dựng kịch bản tài nguyên nước các hồ chứa trong trường hợp gặp sự cố.

*Xây dựng 3 kịch bản tài nguyên nước

Trong sự phát triển của công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý, việc xử lý thông tin và tích hợp dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau nhằm quản lý hồ chứa là nhu cầu cấp thiết ở Việt Nam trong nhiều năm qua. Việc ứng dụng một mô hình giám sát hồ chứa có sự tham gia của dữ liệu viễn thám giúp ích nhiều cho khả năng dự báo và hạn chế các tác động của việc nắn dòng chảy đến vùng hạ lưu.

Để đáp ứng mục tiêu đề ra, Đề tài áp dụng 3 mô hình thuỷ văn – thuỷ lực là: mô hình thuỷ văn (SWAT); mô hình quản lý sử dụng nước (IQQM); mô hình thủy lực (ISSI). Ngoài ra, có nhiều các đề tài, dự án khác có liên quan đến vấn đề quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam. Các đề tài, dự án này đều xây dựng và ứng dụng các bộ mô hình thủy văn thủy lực như là một công cụ hỗ trợ trong việc nghiên cứu, đánh giá các phương án giám sát hồ chứa khác nhau, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn, có cơ sở khoa học trong việc Xây dựng quy hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Các mô hình toán có thể sử dụng như một công cụ hỗ trợ cho việc đánh giá tài nguyên nước trên lưu vực và đặc biệt tính toán các thông số nước hồ chứa, đập chắn.

Sau 2 năm tiến hành thực hiện, các nhà khoa học đã đưa vào ứng dụng thành công phương pháp tiếp cận kết hợp mô hình toán mô phỏng với mô hình toán tối ưu phi tuyến, cùng sự hỗ trợ của công cụ tiên tiến của thế giới như mô hình thủy động lực học MIKE 11 và công nghệ tối ưu GAMS, đã đề xuất quy trình vận hành hệ thống liên hồ chứa đảm bảo cấp nước cho hạ du (sinh hoạt, công nghiệp, giao thông thủy, nông nghiệp, môi trường) và phát điện. Quy trình được đề xuất sẽ giúp vận hành hệ thống liên hồ chứa đảm bảo cấp đủ nước cho hạ du lưu vực sông Hồng – Thái Bình trong mùa khô với mức đảm bảo 85%. Xây dựng được Quy trình kết hợp công nghệ viễn thám và mô hình thủy lực xây dựng kịch bản tài nguyên nước các hồ chứa và ước tính thiệt hại do vỡ đập. Xây dựng được 3 kịch bản tài nguyên nước tương ứng với các thời điểm: chưa có đập, có đập và vỡ đập; thiết lập phần mềm diễn toán lan truyền nước 2D và báo cáo ước tính sơ bộ ảnh hưởng lan truyền nước đến hạ lưu trong trường hợp sự cố của hệ thống hồ đập (như số dân cư, diện tích lúa, cây hoa màu khác).

Ngoài ra, công trình nghiên cứu còn xây dựng được khung hỗ trợ ra quyết định cho lưu vực sông Cả nhằm đóng góp một cơ sở khoa học cho việc quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông phục vụ có hiệu quả trong việc quy hoạch và quản lý tổng hợp tài nguyên nước.

*Cần tiếp tục nghiên cứu

Thông qua việc thu thập các dữ liệu từ ảnh viễn thám kết hợp thực địa, các nhà khoa học thống nhất rằng, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ ngày một nghiêm trọng nếu không có bất kỳ hành động nào hạn chế cường độ cũng như thích nghi với các tác động của biến đổi khí hậu. Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, mô phỏng ảnh hưởng tài nguyên nước lưu vực trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó là hết sức cần thiết. Đề tài  “Nghiên cứu kết hợp công nghệ viễn thám và mô hình thủy lực xây dựng kịch bản tài nguyên nước các hồ chứa trong trường hợp sự cố” đã phát huy thế mạnh của Trạm thu ảnh Việt Nam từ công đoạn thu thập số liệu, thông tin về hiện trạng đến diễn toán dòng chảy tài nguyên nước nước trong điều kiện thiếu các thông số thực tế bởi mô hình thủy văn thuỷ lực.

Qua quá trình thực hiện Đề tài, các tác giả là cán bộ thuộc Cục Viễn thám Quốc gia cũng đã xây dựng được quy trình kỹ thuật xử lý thông tin ảnh vệ tinh kết hợp hệ mô hình MIKE, một trong các sản phẩm ứng dụng giám sát tài nguyên nước lưu vực của Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI), để xác định được một số thông số quan trọng tài nguyên nước trong trường hợp sự cố đập. Kết quả của Đề tài cũng sẽ phục vụ trực tiếp cho công tác giám sát, hỗ trợ ra quyết định ứng phó trong trường hợp xuất hiện mới các hồ chứa phía thượng nguồn sông quốc tế cũng như trong công tác quy hoạch phát triển kinh tế –  xã hội trong nước.

Phan Phương


Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2017 của Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam

Thực hiện chủ trương của Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam là đơn vị tiên phong đi đầu trong việc sắp xếp, cơ cấu lại bộ máy, tổ chức các đơn vị trực thuộc Cục.

Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập, ngay từ giữa năm 2015 Bộ TN&MT đã yêu cầu tất cả các tổng cục, các cục, các đơn vị trực thuộc tiến hành rà soát, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo nguyên tắc tinh gọn đầu mối, đồng bộ, thống nhất, tránh chồng chéo nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng cung cấp các dịch vụ công về tài nguyên và môi trường.

Trên cơ sở rà soát, đánh giá một cách khách quan, khoa học thực trạng các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc các đơn vị trực thuộc Bộ và đề xuất phương án sắp xếp của từng đơn vị, Bộ đã tổng hợp và xây dựng Đề án Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2283/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2016.

Theo đề án này, từ nay đến năm 2020 Cục ĐĐBĐVN cần phải sắp xếp và tinh giảm 8 đơn vị sự nghiệp về còn 5 đơn vị, trong đó tiếp tục duy trì hoạt động của 04 đơn vị trực thuộc Cục, gồm: Trung tâm Biên giới, địa giới; Trung tâm Kiểm định chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ; Trung tâm Thông tin Dữ liệu đo đạc và bản đồ; Ban quản lý các dự án đo đạc và bản đồ. Thành lập mới Trung tâm Điều tra và Xử lý dữ liệu đo đạc và bản đồ trên cơ sở sáp nhập, tổ chức lại 04 đơn vị: Trung tâm Thiết kế – Tư vấn đo đạc và bản đồ; Trung tâm ứng dụng và Phát triển công nghệ đo đạc và bản đồ; Trung tâm Địa tin học; Trung tâm Quản lý và cung cấp dịch vụ định vị vệ tinh. Mỗi đơn vị có chức năng riêng trong cung cấp dịch vụ công, không chồng chéo trùng lắp.

Xác định việc sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc cục là nhiệm vụ trọng tâm cần phải khẩn trương thực hiện nhằm sớm ổn định công tác tổ chức cán bộ, ổn định tâm lý viên chức, người lao động, trên thực tế ngay từ giữa năm 2016, Cục đã triển khai xây dựng Đề án thành lập Trung tâm Điều tra – Xử lý dữ liệu đo đạc và bản đồ, trên cơ sở sáp nhập, tổ chức lại 04 đơn vị sự nghiệp nói trên. Đồng thời, cục cũng xây dựng Đề án kiện toàn Ban Quản lý các dự án đo đạc và bản đồ trên cơ sở bổ sung nhiệm vụ quản lý các dự án đầu tư và nhiệm vụ khảo sát, thiết kế các đề án, dự án, thiết kế kỹ thuật – dự toán các công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ. Các đề án này được xây dựng trên tinh thần khách quan, khoa học, phù hợp với yêu cầu thực tế, được sự đồng thuận cao của cán bộ, viên chức, người lao động trong các đơn vị liên quan, do vậy nhanh chóng được lãnh đạo Bộ phê duyệt cho triển khai thực hiện ngay từ đầu năm 2017. Do làm tốt công tác chuẩn bị, có sự đồng thuận nhất trí và quyết tâm cao trong lãnh đạo cục nên việc triển khai sắp xếp tổ chức và kiện toàn bộ máy của các đơn vị sự nghiệp nói trên đã được thực hiện nhanh chóng, dân chủ, đúng quy định của pháp luật, bước đầu tạo được sự phấn khởi, tin tưởng của người lao động, các đơn vị đến nay đã ổn định sản xuất và đảm bảo mọi hoạt động diễn ra bình thường, nội bộ đoàn kết.

Đối với các phòng chuyên môn trực thuộc Cục, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà về việc triển khai Nghị định số 36/2017/NĐ-CP ngày 4-4-2017 của Chính phủ về chức năng nhiệm vụ của Bộ TNMT, Cục đã nghiêm túc thực hiện giảm 02 phòng, còn 06 phòng và 01 chi cục; sắp xếp, điều chỉnh nhiệm vụ và thay đổi tên gọi của các phòng cho phù hợp với quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục.

Hiện tại, cơ cấu tổ chức của Cục có văn phòng, 05 phòng chuyên môn nghiệp vụ, 05 đơn vị sự nghiệp công lập và chi cục phía nam. Như vậy, sau sắp xếp Cục đã giảm đầu mối từ 17 đơn vị xuống còn 12 đơn vị trực thuộc.

Ông Phan Đức Hiếu – Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin Địa lý Việt Nam cho biết: Điều đáng mừng là sau khi kiện toàn, sắp xếp lại, các tổ chức mới đã nhanh chóng ổn định, đi vào hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, nội bộ đoàn kết, công tác quản lý, chỉ đạo được tăng cường, giảm số lượng cán bộ trung gian gián tiếp, năng lực chuyên môn của các đơn vị một bước được nâng cao tạo đà phát triển ổn định trong các năm tới. Việc rà soát, sắp xếp lại nhân sự, bố trí sử dụng cán bộ cơ bản phù hợp theo cơ cấu, năng lực, vị trí việc làm, góp phần phát huy tinh thần trách nhiệm, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Từ thực tiễn và kết quả đạt được cho thấy, việc sắp xếp lại tổ chức, bộ máy hành chính tại Cục là chủ trương đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tế khách quan và thể hiện tầm nhìn, từng bước cải cách tổ chức, bộ máy hoạt động của Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin Địa lý Việt Nam theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tránh chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ và các dịch vụ công, đáp ứng yêu cầu phát triển trong tương lai.

Bên cạnh những thuận lợi là có sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo bộ, sự giúp đỡ của các vụ chức năng, đặc biệt là sự hướng dẫn và giúp đỡ trực tiếp của vụ Tổ chức Cán bộ, sự nhất trí và quyết tâm cao của lãnh đạo Cục, sự đồng thuận của cán bộ, viên chức, người lao động trong các đơn vị sự nghiệp, trong quá trình triển khai sắp xếp lại các đơn vị Cục cũng đã gặp không ít khó khăn, trong đó phải kể đến là tâm lý hoang mang dao động của người lao động không biết sau sắp xếp mình sẽ đi về đâu, làm gì? Việc xử lý các tồn đọng nợ phải thu, phải trả của các đơn vị bị giải thể; việc bố trí lực lượng cán bộ hiện có sao cho phù hợp, khách quan, phát huy được năng lực sở trường của từng người, làm sao sau sắp xếp đơn vị phải đoàn kết và phát triển…

Theo Cục trưởng Phan Đức Hiếu, bài học kinh nghiệm trong việc sắp xếp, tinh giảm đầu mối là cần quyết liệt, nhanh chóng, làm đồng bộ, tạo sự đồng thuận  thống nhất từ lãnh đạo cao nhất cho đến người lao động, mọi vấn đề cần được bàn bạc thấu đáo, công khai dân chủ, phải luôn tạo niềm tin cho mọi người trong đơn vị tin tưởng vào sự cần thiết phải cái cách để phát triển tốt hơn. Đặc biệt, sau sắp xếp phải quan tâm đến đời sống thu nhập, việc làm của người lao động để họ yên tâm, ổn định tâm lý làm việc ở đơn vị mới.

Với những kết quả đã đạt được, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin Địa lý Việt Nam là đơn vị đầu tiên trong Bộ TNMT hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Cục theo đề án quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập của Bộ TNMT.

Thúy Hằng

Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp

Sáng ngày 04/7, tại Trụ sở cơ quan Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa đã chủ trì cuộc họp chuẩn bị cho Tuần làm việc của Hiệp đoàn Trắc địa thế giới (FIG Working Week) năm 2019. Cùng dự có đại diện lãnh đạo Cục Bản đồ, Bộ Tổng tham mưu và Hội Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam; các Vụ chức năng của Bộ; Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam; Cục Viễn thám quốc gia; Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ; Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường; Văn phòng Bộ.

Báo cáo tại cuộc họp, ông Trần Bạch Giang, Chủ tịch Hội Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam cho biết, Tuần làm việc của Hiệp đoàn Trắc địa thế giới (FIG Working Week) là diễn đàn quốc tế hàng đầu dành cho những người làm công tác khảo sát đo đạc trên toàn thế giới được tổ chức thường niên, luân phiên giữa các quốc gia. Năm 2019, FIG Working Week được tổ chức tại Việt Nam với chủ đề “Vì quyền dữ liệu không gian của mỗi công dân” sẽ diễn ra từ ngày 22-26/4. Dự kiến sẽ có khoảng 1.000 đại biểu tham dự, trên 300 báo cáo khoa học sẽ được trình bày đồng thời tại 10 Tiểu ban trong 3 ngày. Năm 2019 cũng là năm kỷ niệm 60 năm thành lập Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam (1959-2019), Ngày truyền thống ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam và chào mừng 30 năm ngày thành lập Hội Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam (1989-2019).

Ông Trần Bạch Giang, Chủ tịch Hội Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam báo cáo tại cuộc họp

Các hoạt động của “FIG Working Week 2019” tại Việt Nam sẽ được tổ chức theo thông lệ và quy tắc của FIG với thời gian 5 ngày bao gồm Phiên khai mạc, các Phiên họp toàn thể, họp chuyên ban và Phiên bế mạc. Bên cạnh đó, Hội nghị cũng sẽ có khoảng 50 gian triển lãm của các hãng thiết bị, hãng phần mềm, các công ty trên thế giới… Nhiều hoạt động chuẩn bị cho “FIG Working Week 2019” rất có ý nghĩa khác như tổ chức các mạng lưới các nhà trắc địa trẻ Việt Nam để tham gia mạng lưới các nhà trắc địa trẻ của FIG; phối hợp với Văn phòng FIG mở chuyên trang thông tin điện tử www.fig.net/fig2019; phối hợp với Ủy ban chuyên môn của FIG tổ chức hội thảo quốc tế tại Hà Nội; vận động viết báo cáo khoa học và vận động tài trợ cho FIG Working Week 2019; ….

 

Ông Phan Đức Hiếu, Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam phát biểu tại cuộc họp

Về phía Bộ Tài nguyên và Môi trường, ông Phan Đức Hiếu, Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam cho biết, để chuẩn bị cho Hội nghị “FIG Working Week 2019”, Cục cũng đang tích cực phối hợp với Cục Bản đồ Bộ Tổng tham mưu; các đơn vị trong Bộ như: Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, Cục Viễn thám quốc gia, Tổng cục Quản lý đất đai và các trường Đại học sẽ tổ chức Hội nghị khoa học toàn quốc ngành đo đạc và bản đồ năm 2018. Từ kết quả của Hội nghị này sẽ tuyển chọn các báo cáo tiêu biểu của Việt Nam để trình bày tại Hội nghị “FIG Working Week 2019”.

 

Toàn cảnh cuộc họp

 

Tại cuộc họp, đại diện lãnh đạo các đơn vị đã tham gia đóng góp nhiều ý kiến nhằm bảo đảm việc tổ chức tốt nhất Hội nghị khoa học toàn quốc ngành đo đạc và bản đồ năm 2018 cũng như tiến tới tổ chức thành công Hội nghị “FIG Working Week 2019” tại Việt Nam. Trong đó tập trung vào nội dung, chương trình của các Hội thảo, Hội nghị, thành phần đại biểu tham dự, cách thức lựa chọn bài tham luận, báo cáo và lên kế hoạch cho kịch bản chi tiết để triển khai thực hiện; việc phân công công việc cụ thể cùng với sự phối hợp tổ chức của các đơn vị có liên quan; …

 

Phát biểu kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa nhấn mạnh, “FIG Working Week” là một trong những sự kiện quan trọng của ngành đo đạc và bản đồ trên thế giới. Năm 2019, Hội nghị được tổ chức tại Việt Nam có ý nghĩa to lớn không chỉ với mục đích nhằm thúc đẩy và tăng cường hội nhập quốc tế cho những người đang làm công tác trắc địa, bản đồ, viễn thám và quản lý đất đai Việt Nam mà còn là điều kiện cho các nhà trắc địa tại Việt Nam tiếp xúc với các nhà trắc địa trên thế giới để trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau. Đây là việc làm hết sức ý nghĩa, đặc biệt đối với các nhà trắc địa trẻ vì cho đến nay, các nhà khoa học trẻ Việt Nam chưa có cơ hội được tham gia các Hội nghị khoa học quốc tế. Vì vậy, Thứ trưởng cho rằng công tác tổ chức Hội nghị cần được chuẩn bị chu đáo và cẩn thận.

 

Để “FIG Working Week năm 2019” diễn ra đạt hiệu quả cao nhất, Thứ trưởng đề nghị Hội Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam cần hoàn tất các thủ tục liên quan tới công tác tổ chức Hội nghị cũng như là có kế hoạch phân công công việc chi tiết đối với các đơn vị có liên quan.

 

Liên quan đến việc thành lập Ban Tổ chức địa phương phục vụ cho việc tổ chức Hội nghị, Thứ trưởng để nghị các đơn vị trong Bộ có liên quan cần khẩn trương hoàn thiện danh sách các thành viên tham gia vào Ban Tổ chức gửi Hội Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam trong thời gian sớm nhất.

 

Thứ trưởng giao Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam chủ trì, phối hợp với các đơn vị trong Bộ lên kế hoạch cụ thể tổ chức Hội nghị khoa học toàn ngành đo đạc và bản đồ năm 2018. Hội nghị này sẽ là tiền đề quan trọng nhằm tuyển chọn các báo cáo tiêu biểu của Việt Nam để trình bày tại Hội nghị “FIG Working Week 2019”. Vì vậy, các báo cáo, tham luận tại Hội nghị cần phải được tuyển chọn kĩ càng, có nội dung thiết thực, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ của Việt Nam, cũng như hỗ trợ tháo gỡ, giải quyết các vấn đề khó khăn với các nhà trắc địa tại Việt Nam; đồng thời tranh thủ cơ hội trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của các nhà trắc địa, bản đồ trên thế giới.

 

CTTĐT

Hội thảo do Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam tổ chức diễn ra sáng ngày 23/6, tại Hà Nội. Ông Phan Đức Hiếu, Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam chủ trì Hội thảo. Tham dự có đại diện Bộ Nội vụ, các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Hòa Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Khánh Hòa.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Phan Đức Hiếu, Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam cho biết, ngày 02/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 513/QĐ-TTg về việc phê duyệt Dự án “Hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính”, trong đó đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ và các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính các cấp ở Việt Nam đảm bảo tính khoa học, đầy đủ, chính xác pháp lý và thống nhất làm cơ sở pháp lý trong công tác quản lý nhà nước về địa giới hành chính.

Ông Phan Đức Hiếu, Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam phát biểu tại Hội thảo

Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, từ năm 2015, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu cơ sở lí luận, cũng như căn cứ vào tình hình thực tiễn để tiến hành xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và các quy định kỹ thuật liên quan đến xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính chuẩn bị trình Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư quy định kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính. Song song với việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật đó, Cục cũng đã triển khai xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu địa giới hành chính ở Việt Nam. Đến nay, các vấn đề liên quan đến cấu trúc cơ sở dữ liệu, quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu và phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu địa giới hành chính cơ bản đã được hoàn thành.

 

Để chuẩn bị cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính phục vụ cho công tác quản lý địa giới hành chính của các Bộ, ngành và địa phương theo Dự án “Hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính”, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý về việc “Xây dựng hệ thống phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu địa giới hành chính Việt Nam” với sự tham gia của các đơn vị quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các đơn vị chủ lực trong việc tổ chức triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính tại địa phương. Thông qua Hội thảo này, ông Phan Đức Hiếu cũng đề nghị các đại biểu tham dự tham gia thảo luận và đóng góp ý kiến đối với dự thảo Thông tư quy định kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính và hệ thống phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu địa giới hành chính Việt Nam.

 

Trình bày về Dự thảo Thông tư quy định kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính và giới thiệu về phần mềm, ông Nguyễn Đại Đồng, Phó Trưởng phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Viêt Nam cho biết, dự thảo Thông tư gồm 7 điều và 4 phụ lục kèm theo quy định các yêu cầu kỹ thuật trong việc xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu địa giới hành chính, áp dụng đối với cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân có liên quan đến công tác xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu địa giới hành chính.

 

Theo ông Nguyễn Đại Đồng, dự thảo Thông tư  quy định việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính gồm: 1- Mô hình cấu trúc, nội dung cơ sở dữ liệu địa giới hành chính; 2- Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính; 3- Đánh giá chất lượng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính; 4- Siêu dữ liệu địa giới hành chính.

 

Nhấn mạnh tới những quy định trong việc xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu địa giới hành chính, ông Nguyễn Đại Đồng cho biết  cơ sở dữ liệu địa giới hành chính được xây dựng, cập nhật từ hồ sơ địa giới hành chính các cấp đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, được phép đưa vào lưu trữ và sử dụng. Việc cập nhật cơ sở dữ liệu địa giới hành chính được thực hiện khi có những thay đổi về địa giới hành chính do thành lập, chia tách, sáp nhập, giải thể đơn vị hành chính theo các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam có trách nhiệm cập nhật cơ sở dữ liệu địa giới hành chính trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ khi nhận được bộ hồ sơ địa giới hành chính điều chỉnh.

 

Giới thiệu về hệ thống phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu địa giới hành chính Việt Nam, đại diện Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam cho biết, hệ thống phần mềm là một hợp phần thuộc Dự án “Hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính” do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện với mục tiêu nhằm cung cấp hình thức lưu trữ, quản lý hồ sơ địa giới hành chính dạng cơ sở dữ liệu tập trung song song với hình thức lưu trữ, quản lý hồ sơ địa giới hành chính truyền thống (dạng giấy, dạng file số); cung cấp hình thức khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính qua mạng bằng các phương thức hiện đại (ứng dụng công nghệ WebGIS, công nghệ di động) song song với hình thức lưu trữ, quản lý hồ sơ địa giới hành chính truyền thống (dạng giấy, dạng file số).

 

Phần mềm này giúp giải quyết một cách toàn diện những bất cập về địa giới hành chính và hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính; đáp ứng các yêu cầu lưu trữ, quản lý, cập nhật, cung cấp tập trung cơ sở dữ liệu, địa giới hành chính cho tất cả đối tượng người dùng là cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, người dân nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành phát triển kinh tế – xã hội của Trung ương và các cấp chính quyền địa phương.

 

Tại Hội thảo, các đại biểu tham dự đã đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện hơn cho dự thảo Thông tư để sau khi được ban hành Thông tư đảm bảo tính khả thi; đồng thời chia sẻ, thảo luận về  một số nội dung liên quan tới các nhu cầu ứng dụng công nghệ trong quản lý địa giới hành chính tại địa phương và trung ương cũng như các thông tin có thể được cung cấp cho người dân, doanh nghiệp thông qua phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu địa giới hành chính Việt Nam.

 

Kết thúc Hội thảo, trên cơ sở ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự hội thảo, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện nội dung dự thảo, lấy ý kiến đóng góp chính thức bằng văn bản và trình Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư; đồng thời sẽ chia sẻ rộng rãi ứng dụng phần mềm quản lý địa giới hành chính tới tất cả đối tượng người dùng.

 

 

CTTĐT

Tổ soạn thảo được thành lập tại Quyết định số 1271/QĐ-BTNMT. Tổ soạn thảo có nhiệm vụ xây dựng dự thảo Thông tư quy định xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính đảm bảo chất lượng và tiến độ trình Bộ trưởng.

Theo Quyết định, Tổ trưởng Tổ soạn thảo là ông Phan Ngọc Mai, Phó Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam. Các thành viên Tổ soạn thảo là đại diện Vụ Khoa học và Công nghệ, Vụ Pháp chế; đại diện các đơn vị liên quan của Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam.

CTTĐT

Sáng ngày 24/5, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thị Phương Hoa đã chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định Dự án hiện đại hóa mạng lưới độ cao quốc gia phục vụ công tác quy hoạch, xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội và ứng phó biến đổi khí hậu tại một số thành phố lớn và khu vực ven biển.

Tham dự cuộc họp có các thành viên Hội đồng là lãnh đạo các Vụ chức năng trực thuộc Bộ, các chuyên gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ.

 

Phát biểu tại cuộc họp, ông Phan Đức Hiếu, Cục trưởng Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam cho biết, mạng lưới độ cao quốc gia được xây dựng trong hơn 50 năm, qua nhiều thời kỳ khác nhau đã đóng góp vai trò quan trọng trong các công tác đo đạc cơ bản, nghiên cứu địa hình lãnh thổ, lãnh hải phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, phòng chống thiên tai lũ lụt của nước ta trong thời gian dài. Tuy nhiên, theo điều tra khảo sát năm 2016 về hiện trạng hệ thống điểm mốc độ cao nhà nước hạng I, hạng II trên phạm vi toàn quốc của Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam cho thấy, do nhiều nguyên nhân tác động mà có tới hơn 30% số lượng điểm mốc độ cao đã bị mất, bị hư hại, nên không còn đủ độ chính xác và độ tin cậy đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu một cách ổn định, bền vững. Mặt khác, mạng lưới độ cao quốc gia hiện nay được xây dựng trên cơ sở công nghệ đo độ cao truyền thống – đo cao thủy chuẩn chưa đáp ứng được nhu cầu hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ mới – công nghệ đo cao vệ tinh như xu hướng chung của các nước tiên tiến trên thế giới đang áp dụng.

Chính vì vậy, nhằm hạn chế những bất cập hiện nay; đồng thời để đáp ứng nhu cầu hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống độ cao quốc gia bền vững, ổn định, đảm bảo xác định chính xác và thống nhất về độ cao của mọi điểm, mọi vị trí trong cả nước, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng, ứng phó với biến đổi khí hậu; đặc biệt là thực hiện Quyết định số 33/2008/QĐ-TTG ngày 27/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 2020 , Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam triển khai xây dựng và thực hiện Dự án “Hiện đại hóa mạng lưới độ cao quốc gia phục vụ công tác quy hoạch, xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội và ứng phó với biến đổi khí hậu tại một số thành phố lớn và khu vực ven biển”.

 

Ông Phan Đức Hiếu, Cục trưởng Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam trình bày tóm tắt

thuyết minh dự án

 

Theo ông Phan Đức Hiếu, Dự án “Hiện đại hóa mạng lưới độ cao quốc gia phục vụ công tác quy hoạch, xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội và ứng phó với biến đổi khí hậu tại một số thành phố lớn và khu vực ven biển” được thực hiện từ năm 2017 đến năm 2020 trên phạm vi toàn quốc, trong đó chú trọng ưu tiên các thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hồ Chí Minh và khu vực 25 tỉnh ven biển, với mục tiêu cụ thể là nhằm hoàn thiện mạng lưới độ cao quốc gia đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của mọi ngành, mọi cấp, đáp ứng được các yêu cầu ứng dụng các công nghệ mới trong xác định độ cao; đặc biệt là kiên cố hóa hệ thống mốc độ cao quốc gia để đảm bảo sử dụng ổn định, lâu dài.

 

Để thực hiện được các mục tiêu cụ thể đó, ông Phan Đức Hiếu cũng cho biết, Dự án sẽ tập trung thực hiện việc xây dựng một số điểm mốc kiên cố, ổn định lâu dài (được khoan, chôn sâu tới tầng địa chất ổn định) dọc theo các đường độ cao hạng I, hạng II ven biển và tại các thành phố lớn, đảm bảo phục vụ lâu dài cho công tác quy hoạch, xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội vàứng phó với biến đổi khí hậu ở nước ta, đặc biệt là ở các thành phố lớn và khu vực ven biển.

Cùng với đó, Dự án sẽ tiến hành việc đo đạc, hoàn chỉnh mạng lưới độ cao quốc gia hiện đại kết nối các điểm mốc kiên cố, ổn định lâu dài, các điểm trạm GNSS CORS, các điểm trọng lực nhà nước, các trạm quan trắc hải văn ở các phân vùng biển; xây dựng và đo lặp mạng lưới quan trắc chuyển dịch đứng tại các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng bằng phương pháp đo thủy chuẩn; xây dựng, đo lặp các mạng lưới quan trắc chuyển dịch đứng bằng phương pháp kết hợp giữa đo thủy chuẩn và công nghệ đo cao vệ tinh tại thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long phục vụ việc phân tích, đánh giá, xác định nguyên nhân sụt lún, dự báo xu hướng lún để bổ sung cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu; đồng thời, tính toán bình sai mạng lưới độ cao quốc gia và công bố Hệ số độ cao quốc gia; xây dựng hoàn thiện mô hình GEOID địa phương trên lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở các dữ liệu đo đạc bổ sung mới về trọng lực, độ cao và GNSS.

 

Sau khi nghe đại diện Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam, Cơ quan chủ trì thực hiện dự án trình bày tóm tắt thuyết minh dự án, các thành viên Hội đồng đều đánh giá cao tính thiết thực của dự án, đồng thời trao đổi, thảo luận, đề xuất các ý kiến để xây dựng và hoàn thiện thuyết minh Dự án. Trong đó các ý kiến tập trung vào mục tiêu, phạm vi thực hiện, thời gian thực hiện, nội dung và các hoạt động chủ yếu cũng như sản phẩm đầu ra của dự án.

Phát biểu tại cuộc họp, Tiến sỹ Trần Bạch Giang, Chủ tịch Hội Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam, Phản biện 1 của Dự án cho biết, thuyết minh của Dự án đã khẳng định được sự cần thiết phải xây dựng và thực hiện Dự án trong thời gian tới. Mục tiêu của Dự án rõ ràng, các nhiệm vụ của dự án cơ bản đầy đủ. Bên cạnh đó, các giải pháp kỹ thuật công nghệ của dự án phù hợp với xu hướng trên thế giới và thực tiễn của Việt Nam, đặc biệt là đã có sự tham khảo các giải pháp của các nước đã thực hiện thành công chương trình hiện đại hóa hệ thống độ cao quốc gia và căn cứ trên thực tế của nước ta là hoàn toàn hợp lý và có tính khả thi cao. Cùng với đó, các thiết kế kỹ thuật của Dự án đã đưa ra được những nguyên tắc, chỉ tiêu cơ bản và thiết kế tổng thể về hiện đại hóa mạng lưới độ cao quốc gia; …

Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả Dự án trong thời gian tới, Tiến sỹ Trần Bạch Giang cho rằng, về thiết kế kỹ thuật, cơ quan thực hiện Dự án cần đưa ra nguyên tắc và các chỉ tiêu thiết kế mạng lưới quan trắc chuyển dịch đứng và đo lặp theo chu kỳ cho 05 thành phố lớn và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; cần nâng cấp, bổ sung, phân tích và kiểm tra các mô hình GEOID hiện có là các kết quả của các đề tài, dự án để tham khảo và làm căn cứ cho các thiết kế đo bổ sung trọng lực chi tiết, xử lý, nâng cấp mô hình GEOID trọng lực của Dự án.

 

Toàn cảnh cuộc họp

 

Theo Tiến sỹ Bùi Yên Tĩnh, Trưởng phòng Địa hình, Cục Bản đồ, Bộ Tổng tham mưu, Phản biện 2 của Dự án nhận xét, thuyết minh Dự án có mục tiêu cụ thể, tập trung vào các hướng nhiệm vụ cần thực hiện để đạt được mục đích đề ra, trong đó có các hướng mục tiêu nhằm giải quyết các nhiệm vụ ngắn hạn cũng như lâu dài, đó là việc đo đạc, hoàn chỉnh mạng lưới độ cao theo công nghệ GNSS kết hợp với mô hình GEOID; đồng thời xây dựng và thống nhất hệ thống độ cao quốc gia ổn định, chính xác và lâu dài.

Để dự án đi vào triển khai được hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đề ra trong thời gian tới, Tiến sỹ Bùi Yên Tĩnh đề xuất cần bổ sung phần đánh giá tính khả thi của Dự án về năng lực, trang thiết bị, công nghệ, thời gian; làm rõ hơn phần đánh giá tính hiệu quả của Dự án, khả năng và địa chỉ sử dụng các sản phẩm của Dự án; xây dựng lại nội dung, kế hoạch triển khai Dự án theo thời gian thực tế cũng như là các yêu cầu về kỹ thuật và giải pháp công nghệ; đặc biệt là cần đưa các sơ đồ để thể hiện rõ lộ trình, quy trình và các bước thực hiện Dự án.

 

Đánh giá cao các giải pháp kỹ thuật, Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Đặng Hùng Võ cho rằng, hiện đại hóa mạng lưới quốc gia thông qua việc sử dụng công nghệ đo cao vệ tinh và mô hình GEOID địa phương có thể xác định độ cao của mọi điểm với giá thành rẻ, nhanh và có độ chính xác cao hoàn toàn có đủ khả năng cung cấp các số liệu cần thiết, chính xác, nhanh chóng và có hiệu quả cao phục vụ các công tác quy hoạch, phát triển kinh tế – xã hội, cập nhật trực tiếp cho kịch bản biến đổi khí hậu của các thành phố lớn, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cho toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung.

Về một số đề xuất cho giải pháp kỹ thuật của Dự án, Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Đặng Hùng Võ kiến nghị cần bổ sung công nghệ và thiết bị đo thủy chuẩn cũng như là tận dụng tối đa đường tuần tra biên giới để mở rộng mạng lưới phủ rộng khắp cả nước; …

 

Phát biểu kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa, Chủ tịch Hội đồng thẩm định đánh giá cao những ý kiến góp ý, đề xuất của các thành viên Hội đồng và tinh thần tích cực, trách nhiệm của các thành viên trong Hội đồng khi dành thời gian nghiên cứu và góp ý xác đáng, giúp cho đơn vị thực hiện có được những kinh nghiệm để triển khai thực hiện tốt Dự án trong thời gian tới.

 

Thứ trưởng cho rằng nhiệm vụ hoàn thiện và hiện đại hóa mạng lưới độ cao quốc gia phục vụ công tác quy hoạch, xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội và ứng phó với biến đổi khí hậu cho Việt Nam được đặt ra trong bối cảnh hiện nay là thực sự cần thiết, cấp bách, thực hiện đúng mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Vì vậy, để Dự án nhanh chóng đi vào triển khai hiệu quả trong thời gian tới, Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa đề nghị Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam – Cơ quan thực hiện dự án cần tiếp thu ý kiến của các thành viên Hội đồng, tổng hợp, chỉnh sửa, hoàn thiện thuyết minh và trình cấp có thẩm quyền theo đúng tiến độ.

CTTĐT

Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 1272/QĐ-BTNMT về việc thành lập Tổ soạn thảo nêu trên. Tổ soạn thảo có nhiệm vụ xây dựng dự thảo Thông tư ban hành định mức kinh tế-kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính đảm bảo chất lượng và tiến độ trình Bộ trưởng.

Theo Quyết định, Tổ trưởng Tổ soạn thảo là ông Hoàng Ngọc Huy, Phó Cục trưởng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam. Các thành viên Tổ soạn thảo là đại diện Vụ Pháp chế, Vụ Kế hoạch – Tài chính; đại diện các đơn vị liên quan của Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam.

 

CTTĐT

Bài viết mới nhất