Đo đạc bản đồ và viễn thám

Ngày 16/5/2017, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã ký Quyết định số 1166/QĐ-BTNMT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam. Theo Quyết định, Cục là tổ chức trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý; tổ chức thực hiện các dịch vụ công về đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý theo quy định của pháp luật.

Đây là một trong hai đơn vị được điều chỉnh, đổi tên tại Nghị định số 36/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 4/4/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Việc đổi tên là Cục Đo đạc và Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam vừa đảm bảo bao quát hết các nhiệm vụ được giao về tổ chức xây dựng, cập nhật, khai thác, quản lý hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia, về quản lý địa danh, tên gọi các đảo, bãi cạn trên các vùng biển của Việt Nam, về khuyến khích xã hội hóa hoạt động đo đạc và bản đồ; đồng thời vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn  quản lý và hội nhập quốc tế.

 

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam

(Theo Quyết định số 1166/QĐ-BTNMT ngày 16/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường)

1/ Trình Bộ trưởng dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ chuyên môn, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá sản phẩm về đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý; hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.

 

2/ Theo dõi, tổng hợp, định kỳ báo cáo Bộ trưởng về tình hình hoạt động đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý trên phạm vi cả nước.

 

3/ Cấp, bổ sung, gia hạn, thu hồi giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ đối với các tổ chức, cá nhân; kiểm tra việc thực hiện nội dung hoạt động đo đạc bản đồ đối với các tổ chức, cá nhân được cấp phép; cấp, thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) sản phẩm, hàng hóa xuất và nhập khẩu đối với mặt hàng đo đạc và bản đồ theo quy định và theo phân công của Bộ trưởng.

 

4/ Tổ chức xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia; hệ thống cơ sở hạ tầng đo đạc và bản đồ cơ bản, đo đạc và bản đồ về địa giới hành chính, biên giới quốc gia, bao gồm: hệ quy chiếu quốc gia, hệ thống số liệu gốc đo đạc quốc gia, hệ thống điểm đo đạc cơ sở quốc gia, hệ thống trạm định vị vệ tinh quốc gia, hệ thống không ảnh, hệ thống bản đồ địa hình quốc gia, hệ thống bản đồ địa hình đáy biển, cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý quốc gia, hệ thống địa danh trên bản đồ, hệ thống bản đồ hành chính, atlas quốc gia; tổ chức việc thành lập, cập nhật, hiện chỉnh, xuất bản và phát hành các sản phẩm bản đồ theo quy định của pháp luật.

 

5. Lưu trữ, công bố và cung cấp thông tin, dữ liệu đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý theo quy định của pháp luật.

 

6. Hướng dẫn công tác xuất bản, in, phát hành, trao đổi, quản lý, khai thác, sử dụng, cung cấp, xuất nhập khẩu các sản phẩm, dữ liệu đo đạc, bản đồ cơ bản và thông tin địa lý; xác nhận tính hợp pháp, hợp chuẩn, hợp quy của dữ liệu đo đạc và bản đồ và thông tin địa lý; quản lý chất lượng, tổ chức kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu, xác nhận chất lượng, khối lượng công trình sản phẩm đo đạc, bản đồ cơ bản và thông tin địa lý; thẩm định, nghiệm thu, xác nhận chất lượng công trình sản phẩm đo đạc và bản đồ chuyên ngành theo phân công của Bộ trưởng; xét duyệt nội dung dữ liệu đo đạc, bản đồ, không ảnh thuộc bí mật quốc gia theo quy định của pháp luật; kiến nghị đình chỉ việc xuất bản và phát hành hoặc thu hồi các xuất bản phẩm bản đồ theo quy định của pháp luật.

 

7. Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện việc kiểm định, kiểm nghiệm, bảo dưỡng thiết bị đo đạc, bảo đảm tuân thủ chuẩn quốc gia về đo đạc và bản đồ.

 

8. Thẩm định về sự cần thiết, phạm vi, giải pháp kỹ thuật công nghệ của nội dung đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý trong các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ có sử dụng ngân sách Trung ương trừ các dự án, nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

 

9. Tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc, thành lập bản đồ địa chính, xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật thành lập bản đồ địa chính, thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo phân công của Bộ trưởng.

 

10. Chủ trì, phối hợp vói các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức đo đạc, thành lập bản đồ và hồ sơ địa giới hành chính phục vụ việc phân định, chia tách, sáp nhập, điều chỉnh địa giới hành chính theo quy định của pháp luật; xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính; thẩm định việc thể hiện đường địa giới hành chính trên các loại bản đồ trước khi xuất bản.

 

11. Tổ chức đo đạc, thành lập bản đồ và hồ sơ tài liệu phục vụ việc đàm phán, hoạch định, phân giới, cắm mốc và quản lý đường biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; thành lập bản đồ chuẩn biên giới quốc gia; xây dựng cơ sở dữ liệu, thẩm định việc thể hiện đường biên giới quốc gia trên các loại bản đồ; in ấn, phát hành các loại bản đồ, tài liệu liên quan đến đường biên giới quốc gia trên đất liền, các vùng biển, hải đảo, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

 

12. Tổ chức ứng dụng, chuyển giao công nghệ, thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý theo phân công của Bộ trưởng.

 

13. Làm đầu mối tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý; tham gia các tổ chức, diễn đàn quốc tế về đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý theo phân công của Bộ trưởng.

 

14. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý theo quy định và theo phân công của Bộ trưởng; trả lời các tổ chức, cá nhân về chính sách, pháp luật đo đạc và bản đồ theo phân công của Bộ trưởng.

 

15. Phối hợp quản lý các hội, tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý.

 

16. Thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, chính sách về đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý; phối hợp thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý theo quy định và theo phân công của Bộ trưởng.

 

17. Tổ chức thực hiện cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Bộ và phân công của Bộ trưởng.

 

18. Quản lý tổ chức, vị trí việc làm, biên chế; công chức, viên chức, người lao động thuộc Cục theo theo quy định và theo phân công của Bộ trưởng; tham gia đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ về đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý.

 

19. Quản lý tài chính, tài sản; thực hiện trách nhiệm của đơn vị dự toán cấp II đối với các đơn vị trực thuộc Cục theo quy đinh của pháp luật.

 

20. Thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao.

 

21. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng phân công.

 

 

Về cơ cấu tổ chức gồm 12 đơn vị: 1- Văn phòng; 2- Phòng Kế hoạch – Tài chính; 3- Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế; 4- Phòng Tổ chức cán bộ; 5- Phòng Công nghệ đo đạc, bản đồ và thông tin địa lý; 6- Phòng Chính sách và Quản lý hoạt động đo đạc, bản đồ, thông tin địa lý;7- Chi cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý phía Nam (tại thành phố Hồ Chí Minh); 8- Trung tâm Biên giới và Địa giới; 9- Trung tâm Kiểm định chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ; 10- Trung tâm Thông tin Dữ liệu đo đạc và bản đồ; 11- Trung tâm Điều tra – Xử lý dữ liệu đo đạc và bản đồ; 12- Ban Quản lý các dự án đo đạc và bản đồ.

Như vậy so với trước đây, Cục đã giảm 02 phòng (do thực hiện sáp nhập Văn phòng hợp tác Việt – Lào về đo đạc và bản đồ vào Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế; Phòng Quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ vào Phòng Chính sách và Pháp chế thành Phòng Chính sách và Quản lý hoạt động đo đạc, bản đồ, thông tin địa lý).

 

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế các Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường số 1758/QĐ-BTNMT ngày 24/9/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam số 25/QĐ-BTNMT ngày 06/01/2017 sửa đổi Điều 4 Quyết định số 1758/QĐ-BTNMT ngày 24/9/2013.

CTTĐT

Toàn cảnh buổi làm việc

Sáng ngày 18/5, Đoàn công tác của Cục Viễn thám quốc gia do Quyền Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia Nguyễn Quốc Khánh làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương về nội dung khảo sát, đánh giá thực trạng và khả năng ứng dụng viễn thám tại địa phương nhằm phục vụ công tác xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển lĩnh vực viễn thám quốc gia giai đoạn 2015-2025, tầm nhìn đến năm 2030 và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực viễn thám cho địa phương.

Tiếp và làm việc với Đoàn có Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Vũ Ngọc Long, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Mạnh Khởi cùng đại diện Lãnh đạo và chuyên viên các phòng, đơn vị thuộc Sở.

 

Tại buổi làm việc, Quyền Cục trưởng Cục Viễn thám quốc gia Nguyễn Quốc Khánh đã thông báo một số nhiệm vụ quản lý nhà nước và ứng dụng viễn thám mà Cục đang triển khai, một số yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý và ứng dụng viễn thám trong giám sát tài nguyên bảo vệ môi trường, ứng dụng viễn thám tại một số ngành, địa phương; Giới thiệu về ứng dụng công nghệ viễn thám trong công tác giám sát phục vụ quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

 

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Vũ Ngọc Long, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường  tỉnh Hải Dương bày tỏ sự cảm ơn tới Đoàn công tác của Cục đã  giới thiệu, chia sẻ những kiến thức quan trọng và bổ ích về việc ứng dụng công nghệ viễn thám trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu cũng như đề cập tới nhu cầu khai thác, sử dụng dữ liệu viễn thám trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường và mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Viễn thám quốc gia về lĩnh vực này tại Hải Dương.

 

Theo ông Vũ Ngọc Long, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương đã thành lập Phòng Đo đạc Bản đồ và Viễn thám theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV, trong Phòng đã bố trí các cán bộ có chuyên môn về trắc địa, bản đồ, đồng thời cũng từng bước triển khai công tác quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Trong thời gian qua tại Sở đã có một số nhiệm vụ, dự án ứng dụng viễn thám trên địa bàn.

 

Bên cạnh đó, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Dương cũng nêu ra một số khó khăn trong thực hiện các nhiệm vụ quản lý về viễn thám ở cấp địa phương, nguồn nhân lực hạn chế, thậm chí không có cán bộ chuyên môn về viễn thám, không có trang thiết bị, máy móc và công nghệ và cũng đề nghị Cục Viễn thám quốc gia hỗ trợ xây dựng kế hoạch, đề án, dự án về viễn thám.

 

Trong Kế hoạch công tác năm 2017 Cục Viễn thám quốc gia sẽ tiếp tục khảo sát tại một số tỉnh, thành phố để thu thập thông tin xây dựng đề án quy hoạch viễn thám, đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về ứng dụng viễn thám cho đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ tại các Sở Tài nguyên và Môi trường.

 

CTTĐT

Công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý là công cụ hữu hiệu phục vụ thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển. Tuy nhiên, với phương pháp truyền thống thì công tác này cần một nguồn kinh phí lớn mà hiện nay các địa phương chưa có điều kiện thực hiện. Do vậy, hầu hết các địa phương chưa thiết lập được hành lang bảo vệ vùng bờ.

Vùng bờ biển là mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển. Vùng không gian này luôn chịu tác động của các yêu tố như sông, sóng, dòng chảy, thủy triều của biển và đặc biệt là các hoạt động kinh tế xã hội của con người. Tiềm năng tài nguyên vùng bờ biển việt Nam rất đáng kể, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Dọc ven biển có các sa khoáng, khoáng vật nặng của các nguyên tố quý hiếm như titan, ziacon và xeri. Ven biển nước ta cũng có hơn 20 hệ sinh thái, trong đó có 3 hệ sinh thái đặc trưng là rừng ngập mặn, rạn san hô và thảm cỏ biển, với khoảng 800.000 ha bãi triều và các vũng vịnh, đầm phá ven bờ rất thuận lợi để nuôi trồng các loại hải sản có giá trị xuất khẩu cao.

 

Với tiềm năng to lớn của vùng ven bờ, trong thời gian gần đây các hoạt động kinh tế vùng ven bờ đang có sự phát triển mạnh mẽ. Sự phát triến kinh tế-xã hội ở vùng bờ biển đã và đang tạo sức ép rất lớn đến hoạt động bảo tồn, cũng như việc bảo vệ tài sản và nguồn vốn tự nhiên từ các hệ sinh thái của toàn vùng. Để quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý hành lang bờ biển, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Thông tư quy định thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển. Hành lang bảo vệ bờ biển là dải đất ven biển được thiết lập ở những khu vực cần bảo vệ hệ sinh thái, duy trì giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên ở vùng bờ; giảm thiếu sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển. Cũng theo quy định của pháp luật, các tỉnh thành phố có biển cần thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.

 

Để thực hiện việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thì các thông tin, dữ liệu khu vực ven bờ biển như hiện trạng tài nguyên, môi trường vùng bờ, đặc điểm chế độ sóng, các khu vực bị sạt lở.. .cần được thu thập. Tuy nhiên các thông tin dữ liệu này hiện chưa đầy đủ về chủng loại, hoặc thiếu đồng bộ, thiếu cập nhật. Ví dụ dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất được phủ trùm toàn lãnh thổ nhưng không được cập nhật thường xuyên, thông tin về hiện trạng sói lở bờ biển cũng không được cập nhất. Các vấn đề khó khăn về dữ liệu sử dụng trong thiết lập hành lang bảo vệ bờ biến hoàn toàn có thế khắc phục bằng công nghệ viễn thám.

 

Trên thế giới công nghệ viễn thám kết hợp với GIS, từ lâu đã được ứng dụng trong xây dựng, cập nhật các thông tin được yêu cầu trong công tác thiết lập hành lang bảo vệ đường bờ bao gồm: Dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên vùng bờ. Dữ liệu viễn thám quang học độ phân giải cao như VNREDSat-1 của Việt Nam có thể sử dụng trong việc cập nhật thông tin về điều kiện tự nhiên cũng như tài nguyên thiên nhiên vùng bờ; Dữ liệu về hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên vùng bờ như du lịch, giao thông, khai thác, nuôi trồng thủy sản. Các thông tin này thường thay đổi nhanh theo thời gian nhất là ở các vùng có hoạt động kinh tế sôi động như vùng ven bờ biển. Sử dụng công nghệ viễn thám, các lớn dữ liệu này sẽ được cập nhật phục vụ thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển chính xác; Thông tin về tình hình diễn biến và rủi ro thiên tai như tình hình sạt lở đường bờ, ngập lụt. Dữ liệu viễn thám quang học độ phân giải cao có thể cung cấp thông tin về tình hình sói lở bờ biển. Dữ liệu viễn thám siêu cao tần sẽ cung cấp thông tin về các khu vực thường xuyên bị ngập lụt. Thông tin về chế độ sóng, dòng chảy, độ cao mực nước biển. Viễn thám siêu cao tần chủ động có thể cung cấp bản đồ tổng quan về độ cao sóng, dòng chảy. Trong khi đó viễn thám siêu cao tần bị động cho phép xác định độ cao mực nước biển thường xuyên với độ chính xác centimet.

 

Như vậy, công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý là công cụ hữu hiệu phục vụ thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển. Hơn nữa, với lợi thế của việc chụp ảnh liên tục thì việc giám sát hành lang bảo vệ bờ biển sau khi được thiết lập hoàn toàn có thể thực hiện được bằng công nghệ viễn thám. Mặt khác, theo quy định của pháp luật thì các địa phương phải thực hiện việc thiết lập hành lang bảo vệ vùng bờ. Tuy nhiên, với phương pháp truyền thống thì công tác này cần một nguồn kinh phí lớn mà hiện nay các địa phương chưa có điều kiện thực hiện. Do vậy, hầu hết các địa phương chưa thiết lập được hành lang bảo vệ vùng bờ.

 

Mặc dù vậy, để có thể ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS phục vụ công tác xây dựng hành lang bảo vệ bờ biển cần có những nghiên cứu về cơ sở khoa học, xây dựng các quy trình công nghệ để đảm bảo ứng dụng này một cách khả thi nhất. Chính vì vậy, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong xác định khu vực phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển hiện nay là rất cần thiết và cấp bách. Thông qua những nghiên cứu này sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học, thực tiễn cũng như đánh giá khả năng ứng dụng công nghệ viễn thám phục vụ công tác phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển; cung cấp cơ sở khoa học, thực tiễn việc ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển; đề xuất mô hình giám sát hành lang bảo vệ bờ biển sử dụng công nghệ viễn thám đa đầu thu, đa độ phân giải; đồng thời đánh giá được khả năng ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý hành lang bờ biển.

 

CTTĐT

Để thống nhất trong hoạt động đo đạc, bản đồ và viễn thám trên địa bàn tỉnh, tránh hiện tượng trùng lặp khu đo gây lãng phí ngân sách Nhà nước, UBND tỉnh Bình Dương giao Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định về sự cần thiết, phạm vi, giải pháp kỹ thuật – công nghệ của nội dung đo đạc và bản đồ trong các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ có sử dụng ngân sách Nhà nước do các Sở, ban, ngành của địa phương thực hiện.

Đó là nội dung Quyết định 10/2017/QĐ-UBND vừa được UBND tỉnh Bình Dương ban hành, có hiệu lực kể từ ngày 15-5-2017.

Quyết định trên quy định cụ thể về quản lý nhà nước về đo đạc, bản đồ và viễn thám trên địa bàn tỉnh; giấy phép hoạt động đo đạc, bản đồ và viễn thám; quản lý, cung cấp và khai thác sử dụng thông tin tư liệu đo đạc và bản đồ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động đo đạc và bản đồ…

K.Linh

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 34/2017/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ. Từ ngày 8/6/2017, mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ sẽ được áp dụng theo quy định tại Thông tư này.

Việc tổ chức thu phí bao gồm: Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoài ra, không thu phí thẩm định đối với trường hợp cấp lại, gia hạn giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ.

Đối với mức thu phí thẩm định cấp mới, cấp bổ sung giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ đối với hồ sơ do Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam thẩm định được quy định cụ thể như sau:

Số TT Số hoạt động dịch vụ đo đạc và bản đồ đề nghị cấp phép theo quy định Mức thu phí

(1.000 đồng/hồ sơ)

Khu vực I

Khu vực II Khu vực III
1 Dưới 03 7.280 12.900 23.140
2 Từ 03 đến 05 8.730 14.350 24.260
3 Từ 06 đến 08 9.210 14.840 24.670
4 Từ 09 đến 11 9.700 15.320 25.070
5 Từ 12 đến 14 10.190 15.810 25.480

Trong đó khu vực I: Tổ chức đề nghị cấp phép có trụ sở chính tại Đồng bằng sông Hồng và Trung du, miền núi phía Bắc;

Khu vực II: Tổ chức đề nghị cấp phép có trụ sở chính tại Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên;

Khu vực III: Tổ chức đề nghị cấp phép có trụ sở chính tại Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Về kê khai, Thông tư quy định nộp phí, chậm nhất là ngày 5 hàng tháng, tổ chức thu phí phải gửi số tiền phí đã thu của tháng trước vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách mở tại Kho bạc Nhà nước.

Về quản lý và sử dụng phí, tổ chức thu phí phải nộp 100% tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước. Nguồn chi phí trang trải cho hoạt động thẩm định, thu phí do ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu theo chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

PV

Ngày nay với trình độ khoa học công nghệ vũ trụ ngày càng phát triển thì việc khai thác và ứng dụng dữ liệu viễn thám trong việc quan trắc, giám sát tài nguyên thiên nhiên môi trường, phòng tránh thiên tai đang là xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, các diễn biến bất thường của thiên nhiên đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết về dự báo, đánh giá và ứng phó với ảnh hưởng của chúng đến phát triển kinh tế xã hội và đời sống người dân.

Dữ liệu viễn thám ngày càng được khẳng định trong quan sát, đánh giá và dự báo diễn biến tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai

 

Với những ưu điểm nổi bật như: vùng quan sát rộng, tính khách quan, trung thực, chính xác, đa dạng với các thông tin được thu nhận trên nhiều kênh phổ, dải sóng điện từ khác nhau, khả năng chụp lặp lại và khả năng chia sẻ và tích hợp các lớp thông tin… dữ liệu viễn thám đang ngày càng có vai trò quan trọng trong quan sát, đánh giá và dự báo được diễn biến tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai. Hơn nữa, dữ liệu viễn thám cho phép tiến hành công tác điều tra, giám sát ở các vùng sâu, xa khó tiếp cận cũng như không bị giới hạn bởi ranh giới hành chính, biên giới lãnh thổ. Đây cũng là một trong những ưu thế quan trọng của công nghệ viễn thám so với các công nghệ truyền thống khác.

Hiện nay, các vệ tinh viễn thám cỡ nhỏ đã trở nên phổ biến trên thế giới, nhiều nước, trong đó có một số nước ASEAN đã có vệ tinh viễn thám hoặc trạm thu viễn thám có khả năng chụp và thu nhận dữ liệu viễn thám của nước mình và các nước khác. Tuy nhiên, năng lực chụp ảnh của các vệ tinh viễn thám cỡ nhỏ còn có những hạn chế. Dải chụp ảnh của các vệ tinh này tương đối hẹp, nằm trong khoảng từ 12-19km, ví dụ như dải chụp của vệ tinh VNREDSat-1 chỉ là 17,5 km. Phần lớn các vệ tinh viễn thám có quỹ đạo cận cực nên mặc dù hàng ngày bay vòng quanh trái đất rất nhiều lần nhưng chỉ có 1-2 quỹ đạo có thể thực hiện việc chụp ảnh ở khu vực lãnh thổ nước mình còn các quỹ đạo đi qua các vùng, các nước khác hầu như không được sử dụng. Mặt khác, do các vệ tinh viễn thám của các nước trong khu vực thường tập trung chụp ảnh trong phạm vi lãnh thổ của mình, dẫn đến nhiều dải chụp rất ngắn gây lãng phí tài nguyên của vệ tinh. Trong trường hợp các dải chụp vượt ra ngoài lãnh thổ thì dữ liệu ảnh thu được mới chỉ được lưu trữ, chưa được trao đổi, chia sẻ để sử dụng. Một vấn đề khác cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả chụp ảnh là điều kiện thời tiết không thuận lợi, nhiều mây, nên việc một vệ tinh quang học cỡ nhỏ chụp được bộ ảnh sạch (dưới 10% mây) phủ trùm khu vực yêu cầu hoặc lãnh thổ như Việt Nam mất rất nhiều thời gian.

Do đó, để đáp ứng được nhu cầu về dữ liệu viễn thám trong điều tra, giám sát tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với nhiều hiện tượng thiên tai bất thường và đặc biệt là công tác giám sát đột xuất, định kỳ hoặc giám sát trên diện rộng cần thiết phải kết hợp khai thác sử dụng dữ liệu viễn thám từ nhiều nguồn khác nhau, nhất là dữ liệu viễn thám từ các vệ tinh của các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Việc kết hợp sử dụng nhiều nguồn dữ liệu viễn thám khác nhau sẽ cho phép tăng khả năng cung cấp thông tin một cách kịp thời, trên diện rộng, tăng tần suất quan sát và hiệu quả hoạt động của các hệ thống vệ tinh viễn thám. Đây chính là nền tảng của chùm vệ tinh ảo (Virtual constellation) nhằm chia sẻ các hệ thống viễn thám sẵn có để tăng cường năng lực giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai của từng quốc gia thành viên.

 

Còn nhiều bất cập trong việc phối hợp và chia sẻ dữ liệu viễn thám

Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao trong việc sử dụng dữ liệu viễn thám đa nguồn thì cần phối hợp rất khoa học giữa các nguồn dữ liệu từ khâu lựa chọn, phối hợp chụp ảnh đến xử lý ra sản phẩm cuối cùng. Để khắc phục ảnh hưởng của điều kiện thời tiết thì khi lập kế hoạch chụp ảnh cho các vệ tinh quang học cần phải tính toán để kết hợp được các thông tin dự báo thời tiết, như độ che phủ mây, với dữ liệu đánh giá kết quả chụp ảnh trong quá khứ tại thời điểm và khu vực dự kiến chụp ảnh.

Trong quá trình tham dự các cuộc họp thường niên gần đây của Tiểu ban Công nghệ vũ trụ và ứng dụng của ASEAN (SCOSA) và Hội thảo trao đổi kỹ thuật giữa các nước trong ASEAN có trạm thu, các nước đều có chung nhận định về năng lực chụp ảnh hạn chế của các vệ tinh nhỏ hiện đang sử dụng. Một số quốc gia như Thái Lan, Malaysia cho biết hiện tại trong kho dữ liệu của họ cũng đã chụp được rất nhiều ảnh viễn thám trên lãnh thổ Việt Nam và ngược lại, vệ tinh VNREDSat-1 của Việt Nam cũng đã chụp được rất nhiều ảnh trên lãnh thổ các nước trong ASEAN, đặc biệt là các quốc gia cùng nằm trên vệt quỹ đạo trên mặt đất của vệ tinh VNREDSat-1 như Lào. Ví dụ chỉ cần tăng thêm 9 dải chụp (tương đương 6%) là có thể phủ trùm được lãnh thổ Lào. Xuất phát từ thực trạng trên, các nước trong ASEAN đều có mong muốn hợp tác chia sẽ nguồn dữ liệu viễn thám chụp được bên ngoài lãnh thổ các quốc gia này để sử dụng một cách hiệu quả.

Mặt khác, hiện nay trên thế giới có rất nhiều quốc gia như Peru, An-gie-ri, Chi Le, Copecnicus (Châu Âu) đang sử dụng các thế hệ vệ tinh độ phân giải cao có tính năng tương tự như có độ phân giải bằng hoặc tốt hơn vệ tinh VNREDSat-1 của Việt Nam; các vệ tinh này đều do Tập đoàn Không gian và quốc phòng Airbus sản xuất và đều quay trên quỹ đạo cận cực, có khả năng chụp được ảnh trên vùng lãnh thổ Việt Nam. Nếu việc kết hợp một chuỗi các vệ tinh trên thành hiện thực, trong tương lai sẽ tạo thành chum vệ tinh và sẽ mở ra cơ hội rất lớn trong việc cung cấp nguồn dữ liệu ảnh viễn thám.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc phối hợp và chia sẻ dữ liệu viễn thám hiện nay giữa các quốc gia nói chung và giữa Việt Nam với các nước ASEAN nói riêng đang gặp phải một số trở ngại cả về mặt kỹ thuật lẫn cả thể chế chính sách.

 

Tăng cường ứng dụng viễn thám trong giám sát tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam

Xuất phát từ các thực tiễn đó, việc tập trung nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất cơ chế phối hợp khai thác và sử dụng các hệ thống vệ tinh viễn thám của Việt Nam với vệ tinh viễn thám của một số nước trong khu vực và thế giới là cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Thông qua đó sẽ  xây dựng được cơ chế chính sách, tạo hành lang pháp lý trong việc phối hợp sử dụng cơ sở hạ tầng viễn thám, chia sẻ dữ liệu viễn thám ; đồng thời có thêm được sự lựa chọn về việc thu nhận, xử lý dữ liệu viễn thám, cho phép chủ động hơn trong việc thu nhận dữ liệu viễn thám tại những khu vực có nhu cầu vào những thời điểm cần thiết; có điều kiện để khai thác, ứng dụng các dữ liệu ảnh viễn thám của các nước trong khu vực và trên thế giới; làm phong phú thêm và đa dạng hóa cơ sở dữ liệu ảnh viễn thám quốc gia do Bộ TN&MT quản lý, để phục vụ tốt hơn công tác giám sát tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam.Bên cạnh đó còn tăng cường các hoạt động hợp tác về viễn thám với các nước trong khu vực và trên thế giới; tạo tiền đề cho các hợp tác sâu sắc, toàn diện hơn trong khai thác, sử dụng hạ tầng cơ sở viễn thám bao gồm cả vệ tinh viễn thám, trạm thu và các hệ thống xử lý, dữ liệu, sản phẩm ảnh viễn thám cùng các ứng dụng khác nhằm phát huy tối đa nguồn lực của mỗi nước trong lĩnh vực viễn thám. Đặc biệt là góp phần tăng cường năng lực cung cấp dữ liệu đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về ảnh viễn thám cho các cơ quan nhà nước, đảm bảo cho nghiên cứu khoa học về Trái đất, thực hiện điều tra cơ bản về tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

 

 

CTTĐT

Trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ động xây dựng dự án Luật; trình Chính phủ cho ý kiến tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11/2016. Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ tiếp thu ý kiến thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong Quý I/2017 trước khi trình Quốc hội.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thiện dự án luật trên cơ sở ý kiến các Thành viên Chính phủ và đã trình lại Chính phủ. Tháng 3 vừa qua,  Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thay mặt Chính phủ, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật này, trong đó cũng đề xuất về việc đẩy nhanh tiến độ trình đối với dự án Luật đo đạc và bản đồ nêu trên.

Đây là một dự án Luật có nội dung chuyên môn, kỹ thuật cao. Việc Quốc hội sớm thông qua dự án Luật này sẽ góp phần tạo điều kiện để công tác quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ, viễn thám được nâng cao, bảo đảm thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về Thỏa thuận khung ASEAN thừa nhận lẫn nhau về trình độ đo đạc.

CTTĐT

Ngày 23/3, tại hội nghị triển khai kế hoạch 2017-2022 dự án Trung tâm vũ trụ Việt Nam, ông Phạm Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm vệ tinh quốc gia (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ) cho biết, thời gian tới đơn vị tiếp tục dự án chế tạo vệ tinh NanoDragon (4-6 kg), MicroDragon (10 kg) và Lotusat (600 kg).

Năm 2018, MicroDragon của Việt Nam dự kiến được phóng lên quỹ đạo bằng tên lửa của Nhật Bản. Năm 2019, vệ tinh Lotusat -1 sẽ được phóng và đi vào hoạt động. Với hai vệ tinh công nghệ cảm biến radar hiện đại này, Việt Nam có khả năng quan sát toàn bộ lãnh thổ và vùng biển quốc gia trong mọi điều kiện thời tiết, với độ phân giải cao, góp phần giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai, quản lý nguồn tài nguyên và giám sát môi trường.

Sau khi hoàn thành lộ trình phát triển vệ tinh, năm 2022 Việt Nam sẽ tự sản xuất vệ tinh và trở thành một trong những nước đứng đầu khu vực ở lĩnh vực này. Nếu hoàn thành lộ trình trên Việt Nam sẽ thuộc nhóm các nước đứng đầu khu vực ở lĩnh vực này, tương đương với Indonesia và Malaysia.

L.Nhi

Sáng ngày 24/3, tại Hà Nội, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đã tổ chức Hội nghị báo cáo kết quả thực hiện dự án Dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu nền thông tin cơ bản phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế – xã hội và giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” giai đoạn 2014 – 2016. Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thị Phương Hoa đã đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Tham dự có đại diện lãnh đạo Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, Tổng công ty TN&MT Việt Nam; đại diện Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Quốc phòng.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Phan Đức Hiếu, Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam cho biết, “Xây dựng cơ sở dữ liệu nền thông tin địa hình cơ bản phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế – xã hội và giám sát tài nguyên môi trường Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” là Dự án do Chính phủ Việt Nam viện trợ, được hai Chính phủ Việt Nam – Lào thông qua vào tháng 7 năm 2014. Mục tiêu của dự án là thành lập bản đồ địa hình và xây dựng nền thông tin địa lý cơ bản tỷ lệ 1/50.000 cho các khu vực Bắc và Trung Lào để thiết lập một hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin địa hình tỷ lệ 1/50.000 hiện đại, chính xác, có tính mở, trùm phủ nước Lào.

 

Ông Phan Đức Hiếu, Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam phát biểu khai mạc Hội nghị

 

Để triển khai Dự án này, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đã huy động toàn bộ lực lượng người lao động ngành đo đạc và bản đồ trên cả nước để có thể đáp ứng được yêu cầu tiến độ dự án. Đến nay, Dự án đã được triển khai tích cực và thu được rất nhiều những kết quả quan trọng, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh – quốc phòng của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Đây cũng chính là một minh chứng cho tình đoàn kết anh em của hai nước Việt – Lào, luôn luôn sâu sắc và bền vững.

 

Ông Phan Đức Hiếu cũng cho biết, Hội nghị này là dịp để các đơn vị thực hiện dự án cùng chia sẻ, đánh giá về toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc thực hiện dự án trong thời gian qua. Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo chất lượng và hiệu quả của dự án trong thời gian tới. Tại Hội nghị, đi kèm với báo cáo kết quả dự án còn có các tài liệu, hình ảnh minh hoạ tất cả các kết quả; trong đó có kết quả bay chụp, triển khai nhiệm vụ thực địa (đo ảnh, đo điểm ảnh, điểm khống chế, đo độ cao, điểm vẽ ảnh, xây dựng mô hình số…).

 

Báo cáo cụ thể về kết quả thực hiện dự án giai đoạn 2014 – 2016, ông Hoàng Ngọc Lâm, Phó Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam cho biết, trong thời gian qua, được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo phân ban hợp tác Việt – Lào, lãnh đạo Văn phòng Chính phủ, các Bộ: TN&MT, Quốc phòng, Kế hoạch và Đầu tư; sự cố gắng, nỗ lực của các cán bộ tham gia thực hiện dự án, Dự án đã được tích cực triển khai hiệu quả, đáp ứng yêu cầu về tiến độ, chất lượng đề ra. Cụ thể, trong năm 2016, Cục đã bàn giao cho Cục Bản đồ quốc gia Lào các sản phẩm như: file dữ liệu ảnh gốc khu vực Bắc Lào; Bình đồ ảnh khu vực Bắc Lào với 156 mảnh; Bình đồ ảnh khu vực bù Trung Lào với 31 mảnh… Các sản phẩm này giúp phía Lào khai thác sử dụng và cung cấp cho các Bộ, ngành phục vụ quy hoạch rừng và một số nhiệm vụ điều tra cơ bản khác.

 

Ông Hoàng Ngọc Lâm, Phó Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam báo cáo tổng kết tại Hội nghị

 

Đặc biệt, trong năm 2016, Cục đã triển khai thực hiện gói tăng cường năng lực và bổ sung nâng cấp thiết bị cho Cục Bản đồ quốc gia Lào; cử cán bộ Lào sang Singapor đào tạo về công nghệ quản lý vận hành hệ thống phần cứng cũng như cử các chuyên gia Việt Nam sang Lào tập huấn, chuyển giao công nghệ phần cứng, phần mềm. Đến tháng 12/2016, Cục đã bàn giao toàn bộ hệ thống trang thiết bị cũng như phần mềm xử lý ảnh, xử lý dữ liệu GPS tại Cục Bản đồ quốc gia Lào.

 

Tuy nhiên, ông Hoàng Ngọc Lâm cũng đã chia sẻ một số khó khăn gây ảnh hưởng tới tiến độ và chất lượng trong quá trình triển khai Dự án như yếu tố địa hình hiểm trở; thời tiết, khí hậu không thuận lợi tác động xấu đến khả năng thu nhận ảnh vệ tinh VNREDSat-1, không đáp ứng yêu cầu về chất lượng ảnh; giao thông đi lại khó khăn cùng với đó là công tác phối hợp với địa phương còn gặp nhiều bất cập …

 

Về kế hoạch năm 2017, ông Hoàng Ngọc Lâm cũng cho biết, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án mua ảnh vệ tinh phục vụ hiện chỉnh bản đồ các khu vực hở sót nhỏ dọc biên giới Lào – Thái Lan và Lào Việt Nam; tăng dày khống chế ảnh khu vực sử dụng ảnh vệ tinh SPOT 6,7, độ phân giải 1,5m với khối lượng 12 mảnh; lập bình đồ ảnh số khu vực sử dụng ảnh vệ tinh; biên tập bản đồ gốc, thành lập cơ sở dữ liệu thông tin nền điạ hình cơ bản; biên tập chế in bản đồ và bàn giao các sản phẩm của Dự án; …

 

Toàn cảnh Hội nghị

 

Tại Hội nghị, đại diện các đơn vị thực hiện dự án đã chia sẻ về những khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai dự án; thảo luận, bàn bạc để đưa ra các giải pháp khắc phục; đồng thời xác định phương hướng nhiệm vụ trọng tâm để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án trong thời gian tới.

 

Ông Phạm Ngọc Sơn, Phó Giám đốc Công ty Trắc địa bản đồ, Bộ Quốc phòng – Đơn vị chịu trách nhiệm về bay chụp và in bản đồ của Dự án phát biểu tại Hội nghị

 

Theo ông Phạm Ngọc Sơn, Phó Giám đốc Công ty Trắc địa bản đồ, Bộ Quốc phòng – Đơn vị chịu trách nhiệm về bay chụp và in bản đồ của Dự án, để thực hiện bay chụp, đơn vị đã huy động loại máy ảnh hiện đại nhất thế giới hiện nay phục vụ dự án. Trong quá trình thực hiện, công tác xin phép bay ở khu vực biên giới với các nước rất khó khăn, đặc biệt là phía biên giới Lào giáp với Trung Quốc.

 


Ông Dương Văn Hải, Tổng Giám đốc Tổng công ty TN&MT Việt Nam phát biểu tại Hội nghị

 

Đối với Tổng Công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam – đơn vị chủ yếu thực hiện công việc nội nghiệp, Tổng giám đốc Dương Văn Hải nhấn mạnh, đây là dự án mang quy mô, tầm cỡ quốc gia. Công ty đã huy động 3 đơn vị nội nghiệp tham gia, trang bị một số phần mềm, đặc biệt là thiết bị đo vẽ. Tuy nhiên, công ty gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện ở phần phiên dịch, thuyên chuyển địa danh. Đơn vị phải thuê cán bộ của Đại sứ quán Lào rà soát từng chữ, khó khăn nhất là địa danh không thể nắm được chính xác hay không.

 

Để đạt được quyết tâm hoàn thành các công việc cơ bản của dự án trong thời gian tới, ông Dương Văn Hải đề xuất Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam và Cục Bản đồ quốc gia Lào cần tăng cường trao đổi và tìm phương pháp giải quyết các vấn đề còn tồn tại để đẩy nhanh tiến độ, kịp thời mục tiêu dự án đề ra.

 

Trên cơ sở báo cáo kết quả Dự án, phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa khẳng định, đây là một trong những dự án phục vụ cho công tác đối ngoại và quốc phòng an ninh nhằm góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ hợp tác trong hoạt động đo đạc và bản đồ giữa Lào và Việt Nam nói riêng, mối quan hệ hợp tác hữu nghị lâu đời giữa hai Chính phủ Việt Nam – Lào nói chung. Vì thế, ngay từ khi bắt đầu triển khai Dự án, lãnh đạo Bộ TN&MT đã chỉ đạo sát sao đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam; chỉ đạo các đơn vị chức năng theo dõi thường xuyên việc triển khai thực hiện Dự án, đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng sản phẩm đề ra.

 

Đánh giá cao sự cố gắng, nỗ lực, phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả của các đơn vị liên quan trong việc thực hiện dự án thời gian qua, trong thời gian tới Thứ trưởng đề nghị các đơn vị khi đi triển khai thực hiện dự án, công tác đảm bảo chất lượng phải đặt lên hang đầu để mỗi sản phẩm của dự án ra đời phải thực sự hữu ích, có tính ứng dụng cao, là những thông tin, tư liệu quan trọng cho các Bộ, ngành của Lào làm cơ sở để phát triển kinh tế, xã hội, đất nước. Cùng với đó, phải tăng cường công tác tập huấn, đào tạo cho cán bộ của nước bạn để sau khi sản phẩm dự án được bàn giao, nước bạn có thể sử dụng tốt được sản phẩm. Trên cơ sở đó có cũng cần nghiên cứu, cập nhật kịp thời thông tin mới, bởi lẽ nếu cơ sở dữ liệu để lâu sẽ không còn giá trị.

 

Trong quá trình triển khai dự án, Thứ trưởng cũng đề xuất nên mời đại diện các Bộ, ngành liên quan cùng tham gia thực địa trong quá trình triển khai dự án để cùng nắm bắt tình hình và hiểu hơn được về tầm quan trọng cũng như ý nghĩa thực tiễn của dự án. Đặc biệt, cần quan tâm hơn nữa đến chế độ, chính sách, đảm bảo quyền lợi cho người lao động trực tiếp tham gia thực hiện dự án.

CTTĐT

Từ một tỉnh trắng về bản đồ địa chính khi tái lập, đến năm 2016, tỉnh Vĩnh Phúc cơ bản đã thực hiện xong công tác đo đạc lập bản đồ địa chính 9/ 9 huyện, thị, thành phố.

Tuy nhiên, bản đồ điạ chính trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc được đo đạc theo các giai đoạn khác nhau, phương pháp thành lập khác nhau dẫn đến thiếu sự đồng bộ về sử dụng các phần mềm ứng dụng chung, gây khó khăn trong công tác quản lý, đặc biệt là công tác ứng dụng tin học trong quản lý về đất đai.

Thậm chí, một số khu vực bản đồ địa chính được đo đạc thủ công chỉ có bản giấy nên công tác cập nhật, chỉnh lý, sử dụng bản đồ gặp rất nhiều khó khăn, dẫn đến bản đồ địa chính không còn phản ánh được hiện trạng sử dụng (thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên nhiều phường, xã đã biến động trên 70%) rất khó khăn cho công tác quản lý đất đai và gây lãnh phí nguồn lực lớn của Nhà nước đã đầu tư, hiệu quả sử dụng thấp; mặt khác tốc độ phát triển nhanh về hạ tầng giao thông, thủy lợi, hình thành mới các khu đô thị, khu công nghiệp và nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất của người sử dụng đất, trong khi công tác cập nhật, chỉnh lý chưa đáp ứng được yêu cầu.

Do đó, Vĩnh Phúc xác định trong thời gian tới cần thiết phải hiện đại hóa hệ thống bản đồ trên toàn tỉnh, nhằm mục đích thống nhất về hệ tọa độ, cơ sở toán học, chuẩn hóa đối tượng không gian, đối tượng thuộc tính, tiến đến hoàn thiện và đồng bộ với hồ sơ địa chính; cập nhật, chỉnh lý các khu vực đã thay đổi do quá trình thu hồi đất; đo đạc bổ sung những khu vực không còn khả năng chỉnh lý (đã thay đổi trên 60%).

Việc chuẩn hóa bản đồ địa chính không những tiết kiệm được rất nhiều kinh phí đầu tư, mà còn giúp cho việc hoàn thiện lại hồ sơ địa chính đã được lập, thống nhất về nền bản đồ chung trên toàn tỉnh, phù hợp với quy chuẩn dữ liệu hiện nay, trên cơ sở đó rà soát lại những khu vực có biến động lớn không còn khả năng thực hiện cập nhật, chỉnh lý để lập kế hoạch đo đạc lại, đo đạc bổ sung bản đồ địa chính nhằm cập nhật hiện trạng thửa đất đang được sử dụng, xác lập tính pháp lý của từng thửa đất và chủ sử dụng đất sau khi đo đạc làm cơ sở sau này cho công tác đăng ký biến động, cấp đổi Giấy chứng nhận…

Bích Đào

Bài viết mới nhất