Tài nguyên nước

(TN&MT) – Triển khai Nghị định 82/2017/NĐ-CP của Thủ tưởng Chính phủ  (NĐ 82) quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Sở TN&MT Điện Biên đã có hướng dẫn cụ thể đối với các Sở, đơn vị liên quan, các huyện, thị, thành phố và các tổ chức cá nhân thuộc đối tượng phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
Đến hiện tại, Điện Biên có 6 giấy phép thuộc đối tượng phải tính, nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Trong ảnh: Kiểm tra chất lượng nước đầu ra ở Công ty CP cấp nước Điện Biên
Đến hiện tại, Điện Biên có 6 giấy phép thuộc đối tượng phải tính, nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
(Trong ảnh: Kiểm tra chất lượng nước đầu ra ở Công ty CP cấp nước Điện Biên)

Theo đó, Sở TN&MT Điện Biên đã tiến hành rà soát, lập danh sách các tổ chức, cá nhân đã được UBND tỉnh cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước thuộc đối tượng phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, gồm 6 giấy phép khai thác nước mặt. Đồng thời có văn bản hướng dẫn về công thức tính, thời gian xác định, các tổ chức có trách nhiệm thực hiện và các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp tiền cấp quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo quy định của NĐ 82.
Thống kê đến thời điểm Nghị định 82 có hiệu lực, ngày 1/9/2017, UBND tỉnh Điện Biên đã cấp 6 giấy phép khai thác tài nguyên nước mặt cho Công ty Cổ phần cấp nước Điện Biên và đơn vị phải có nghĩa vụ nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định. Theo đó, đơn vị sẽ triển khai lập, nộp hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước về cho Sở TN&MT, gồm: Bản kê khai tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt và các tài liệu liên quan khác.
Ông Nguyễn Lệ Quế, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Công ty Cổ phần cấp nước Điện Biên cho biết: Từ khi NĐ 82 có hiệu lực, Công ty đã nghiên cứu nghị định, đồng thời đang lập tờ trình kê khai tính tiền cấp quyền khai thác nước mặt và dự ước số tiền nộp thuế. Tuy nhiên, trong quá trình kê khai tính tiền cấp quyền khai thác đơn vị gặp phải một số khó khăn. Trong khi, Nghị định hướng dẫn đối với công ty cung cấp, kinh doanh nước sạch phải thống kê, tổng hợp được sản lượng cấp nước riêng cho từng mục đích sử dụng, như: kinh doanh, dịch vụ, sản xuất, sinh hoạt hộ gia đình… Tuy nhiên đối với nhà máy nước ở các huyện, Công ty chỉ cung cấp và áp thu một mức giá duy nhất, vậy nên theo hướng dẫn của Nghị định thì Công ty đang khó khăn trong việc thống kê, quản lý các hộ, đối tượng sử dụng nước vào mục đích sản xuất kinh doanh để làm căn cứ áp tiền thu thế. Ngoài ra, Công ty còn băn khoăn giữa việc quy định áp giá tính công suất thiết kế với công suất thực tế của các nhà máy nước. Vì thực tế, một số nhà máy ở các huyện, công suất thực tế sản xuất luôn thấp và ít hơn so công suất thiết kế ban đầu của nhà máy, nhưng quy định của NĐ 82, Công ty vẫn phải “gánh” theo công suất thiết kế nhà máy…

Trên cơ sở tính toán, lập tờ trình của Công ty Cổ phần cấp nước Điện Biên, tới đây Sở Tài chính và Cục thuế tỉnh sẽ thẩm định lại và chốt phương án tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước để đơn vị thực hiện nghĩa vụ, đảm bảo hoàn thành trước ngày 30/8/2018.

 

Tác giả bài viết: Hoàng Châu

(TN&MT) – Mới đây, UBND tỉnh Điện Biên đã cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước cho Trung tâm Y tế 3 huyện Mường Chà, Mường Ảng và Điện Biên Đông, nâng tổng số đơn vị được cấp phép xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh Điện Biên lên 17 đơn vị.

Hệ thống xử lý nước thải Trung tâm Y tế huyện Điện Biên Đông
Hệ thống xử lý nước thải Trung tâm Y tế huyện Điện Biên Đông

Theo đó, các Trung tâm Y tế 3 huyện này phải tuân thủ các nội dung: Đảm bảo nguồn nước tiếp nhận nước thải, vị trí xả thải đúng vị trí đã đăng ký. Với phương thức xả thải tự chảy, xả gián đoạn 8 giờ/ngày với lưu lượng xả nước thải theo quy định. Chất lượng nước thải, giá trị các thông số ô nhiễm phải đảm bảo theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải. Thời gian cấp phép là 5 năm.
Các đơn vị được cấp phép phải thực hiện quan trắc nước thải và nước nguồn tiếp nhận. Hằng năm tổng hợp, báo cáo gửi UBND tỉnh qua sở Tài nguyên và Môi trường về tình hình thu gom, xử lý nước thải, xả nước thải  và các vấn đề phát sinh trong quá trình xử lý nước thải; các kết quả quan trắc lưu lượng, chất lượng nước thải, nước nguồn tiếp nhận theo đúng quy định. Thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2, Điều 38 của Luật Tài nguyên nước. nộp phí bảo vệ môi trường. lắp đặt thiết bị đo lưu lượng nước thải tại vị trí cửa xả thải trước khi nước thải vào nguồn tiếp nhận.

Cùng với đó, chịu sự kiểm tra của cơ quan quản lý tài nguyên nước các cấp. Nếu có sự cố bất thường liên quan đến việc xả nước thải phải ngừng ngay việc xả nước thải, báo cáo kịp thời về Sở tài nguyên Môi trường và chính quyền địa phương để được hỗ trợ về chuyên môn và có biện pháp xử lý.

UBND tỉnh Điện Biên giao sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với UBND các huyện có đơn vị được cấp giấy phép và các đơn vị có liên quan thường xuyên kiểm tra, giám sát chất lượng nước thải; xử lý nghiêm các sai phạm (nếu có) theo quy định của pháp luật.

 

Tác giả bài viết: Hà Thuận

(TN&MT) –  Sở Công Thương tỉnh Kon Tum, UBND huyện Đắk Hà khẳng định việc công ty thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi tích nước chạy thử khi chưa được phê duyệt bằng văn bản của các cấp có thẩm quyền làm chết gia súc của dân là trái quy định.

Trao đổi với PV báo điện tử TN&MT,  ông Nguyễn Văn Lập – CVP UBND huyện Đắk Hà, Kon Tum đã một lần nữa khẳng định về việc tích nước của công ty thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi là sai.

Như báo điện tử TN&MT đã đưa tin: Vào tối 9/12, thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi tích nước chạy thử mà không thông báo với người dân để họ di dời tài sản, gia súc, gia cầm, thu hoạch nông sản trong vùng gập đã làm cho 3 con bò, 1 con trâu chết và hơn 10 ha mì bị ngập trong nước.

Theo đó, vào đêm khuya ngày 9/12 thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi tích nước để xử lý việc hư hỏng đê quai công trình phía hạ lưu nhà máy làm cho nhiều trâu bò bị chết, hàng chục héc ta diện tích trồng mì, cà phê và cả con đường đi lại lên nương rẫy ngập trong nước.Bị chìm trong nước, mọi tuyến đường đi lên nương rẫy bị chia cắt hoàn toàn, làm cho việc thu hoạch nông sản gặp rất nhiều khó khăn.

dak pxi 2

Ngoài ra, nhiều diện tích cà phê, mỳ  của người dân 2 xã Đắk Long và Đắk Pxi đang trong mùa thu hoạch bị ngập sâu trong nước.

Trao đổi với PV, ông Lê Như Nhất – Giám đốc Sở Công Thương Kon Tum, cho biết: ‘‘Sau khi thông tin bài báo phản ảnh chúng tôi đã cử cán bộ xuống xác minh và xác định tổn thất cho bà con là đúng như những gì báo đã viết. Việc công ty thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi tích nước chạy thử gây hư hỏng đê quai phía hạ lưu nhà máy khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt  bằng văn bản  là trái với quy định của pháp luật. Hiện tại tôi đã cho làm báo cáo gửi UBND tỉnh, Ban Tuyên Giáo tỉnh ủy và UBND huyện Đắk Hà, và công ty thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi để thực hiện’’.

Cũng trong cuộc trao đổi chiều 18/12/2017, ông Phạm Văn Lập, cho biết thêm: Qua phản ánh của báo TN&MT thấy giá trị đền bù của công ty thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi với người dân thiệt hại là chưa thỏa đáng với yêu cầu chính đáng của người dân. Cho nên UBND huyện Đắk Hà đã yêu cầu công ty thỏa thuận lại để đền bù đúng giá trị thực tài sản bị mất của dân./.

Đình Thắng

 

Nhiều năm nay, một số hộ dân tại xã Gio Phong, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị sống cạnh cửa hàng xăng dầu số 28 phải đi xin nước sạch từ các hộ ở xa về dùng do giếng nước bị nhiễm xăng dầu.

Thực trạng này đã kéo dài hơn 4 năm qua khiến người dân rất bất an, lo lắng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của dân. Không chỉ nước ăn uống, ngay cả việc tắm, giặt, người dân cũng không dám dùng nước ở nhà vì sợ ảnh hưởng đến sức khỏe.

Chính vì vậy, mấy năm nay người dân phải đi xin nước sạch từ các hộ khác về sử dụng. Khốn khổ nhất là về mùa khô, người dân nơi đây phải chắt chiu từng giọt nước mới đủ sinh hoạt, do nguồn nước sạch bị khan hiếm.

Quảng Trị_gieng nhiem dau
Giếng nước của nhà chị Luyến đọng một lớp váng dày, bốc mùi xăng dầu.

Người dân đã nhiều lần phản ánh việc nước sinh hoạt bị nhiễm xăng dầu song chưa được xử lý. Tại kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh Quảng Trị, khóa VII, người dân cũng đã gửi ý kiến đến nghị trường kêu cứu các ngành liên quan xem xét, giải quyết.

Ghi nhận của PV Dân trí, các hộ này ở sát cửa hàng xăng dầu số 28, thuộc Công ty xăng dầu Quảng Trị. Cách cây xăng này chừng 50m, hộ ông Nguyễn Quang Trinh, ở xã Gio Phong, huyện Gio Linh phải bỏ cả giếng nước đã dùng bấy lâu nay để khoan lại giếng mới có độ sâu hơn, nhưng nước vẫn nhiễm mùi xăng dầu.

quảng trị_nhiem xang dau 2
Cửa hàng xăng dầu rất gần với nhà dân, được cho là nguyên nhân khiến giếng nước sinh hoạt bị nhiễm bẩn

Ông Trinh cho biết, giếng này sâu chừng 22m, được gia đình ông đào lấy nước sử dụng sinh hoạt từ năm 1990. Tuy nhiên, đến năm 2013 thì nước giếng bơm lên có váng nhiều màu và mùi xăng dầu. Sau đó, gia đình ông Trinh đã khoan giếng ở các vị trí khác, có giếng khoan sâu đến 45m nhưng nước đều có hiện tượng bị nhiễm xăng dầu.

Nằm sát vách cửa hàng xăng dầu này, gia đình chị Lê Thị Minh Luyến (40 tuổi, thôn Gia Môn) cũng chịu cảnh khốn đốn do thiếu nước sạch đã nhiều năm qua. Chị Luyến cho biết, gia đình chị có giếng nước nhưng đã không dám sử dụng từ 5 năm qua.

Quảng Trị_gieng nhiem dau 3
Nhìn bên ngoài, giếng nước của nhà ông Trinh vẫn bình thường nhưng có mùi xăng dầu

Hiện nước trong giếng của gia đình chị Luyến bị nổi một lớp váng dày và đứng bên miệng giếng cũng đã có mùi xăng dầu khá nồng nặc. Giếng nước đào sâu khoảng 15m, gần với cây xăng này.

Chị Luyến cho hay, đã nhiều năm nay chị phải đi sang các hộ lân cận, cách cây xăng hàng cây số để xin nước sạch về dùng. Nhưng về mùa khô, nguồn nước khan hiếm nên việc sinh hoạt rất vất vả.

Quảng trị_gieng nhiem dau 4
Giếng nước của nhà chị Luyến không thể sinh hoạt được 5 năm qua và chị phải xin nước từ bên ngoài về dùng

Lo sợ trước hiện tượng này, người dân đã phản ánh lên chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng. Sau đó, cơ quan chuyên môn đã về lấy mẫu nước từ giếng của các gia đình này đi kiểm tra.

Ngày 8/5/2017, Phòng Tài nguyên – Môi trường phối hợp với UBND xã Gio Phong và Trung tâm Quan trắc tài nguyên môi trường đã tiến hành khảo sát lấy mẫu nước ngầm để phân tích.

Quảng trị_gieng nhiem dau 5
Chỉ cần mở miệng giếng có thể cảm nhận được mùi hôi, nhìn mắt thường thấy lớp váng dày đặc, nhưng kết quả xét nghiệm của cơ quan chức năng lại không có dấu hiệu gì (?)

Thế nhưng, tại văn bản ngày 26/7/2017 về “kết quả kiểm tra nước ngầm” của UBND huyện Gio Linh, kết quả phân tích 2 mẫu nước ngầm tại giếng của gia đình ông Trinh và gia đình chị Luyến thì: “Mẫu nước của hộ ông Nguyễn Quang Trinh có hàm lượng dầu mỡ khoáng trong nước là 3,38mg/l; còn mẫu nước của hộ bà Lê Thị Minh Luyến không phát hiện có hàm lượng dầu mỡ khoáng trong nước. Đối với các chỉ tiêu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhóm Clo hữu cơ thì 2 mẫu nước giếng của 2 hộ gia đình này đều không phát hiện có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhóm clo hữu cơ”.

Quảng trị_gieng nhiem dau 6
Tình trạng nước sinh hoạt bị nhiễm bẩn khiến cuộc sống của người dân trở nên khốn khổ

Trong khi chờ các cơ quan chức năng đưa ra kết luận chính thức về chất lượng nước và có biện pháp xử lý, người dân nơi đây tiếp tục sống cảnh khổ sở, bất an vì có nước mà không dám dùng.

(TN&MT) – Ngày 14/12, tại Hà Nội, Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức tọa đàm “Phát triển bền vững nguồn nước và năng lượng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long”.
TS. Phạm Văn Tân - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phát biểu khai mạc tọa đàm
TS. Phạm Văn Tân – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phát biểu khai mạc tọa đàm
Phát biểu khai mạc tọa đàm, TS. Phạm Văn Tân – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho biết: Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một khu vực trù phú, giàu tiềm năng và là trọng điểm kinh tế của đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, ĐBSCL có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. BĐKH và nước biển dâng diễn ra phức tạp và nhanh hơn các kịch bản dự báo, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của người dân. Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào các nội vùng, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội của vùng. Mặt trái từ hoạt động phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa với cường độ cao ở nội vùng bộc lộ ngày càng gay gắt, gây nhiều hệ lụy như: ô nhiễm môi trường, suy giảm và mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng.
“Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia tới năm 2030 dự kiến xây dựng 14 nhà máy nhiệt điện than ở các vùng ven sông và ven biển ở ĐBSCL cũng sẽ tác động mạnh mẽ đến vấn đề BĐKH tại vùng đồng bằng này theo chiều hướng tiêu cực nếu không có các giải pháp hữu hiệu” – TS. Phạm Văn Tân cho biết thêm.
Quang cảnh tọa đàm
Quang cảnh tọa đàm
Theo TS. Phạm Văn Tân, thời gian qua, mối quan ngại về tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ sinh thái của thủy điện ở thượng nguồn, nguy cơ ô nhiễm môi trường của nhiệt điện đã được thảo luận, tuy nhiên mối quan hệ giữa an ninh nguồn nước và an ninh năng lượng trong bối cảnh BĐKH ở ĐBSCL chưa được phân tích kỹ lưỡng.
Dẫn chứng về nước ngầm ở ĐBSCL sụt giảm nhanh, ThS. Nguyễn Hữu Thiện – Chuyên gia Phát triển Bền vững ĐBSCL cho biết: Hiện có hơn 1 triệu giếng khoan nước ngầm, gây ra sụt giảm mực nước ngầm trung bình khoảng 26 cm/năm trên toàn đồng bằng, hơn 15 mét ở vùng Cà Mau từ năm 1990. Sự sụt lún đất 1,6 cm/năm và nếu tốc độ khai thác nước ngầm như hiện nay tiếp diễn, tổng sụt lún đến năm 2050 là 0,88 cm.
ThS. Nguyễn Hữu Thiện - Chuyên gia Phát triển Bền vững ĐBSCL
ThS. Nguyễn Hữu Thiện – Chuyên gia Phát triển Bền vững ĐBSCL đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nguồn nước và năng lượng trong bối cảnh BĐKH ở ĐBSCL
Để phát triển bền vững nguồn nước và năng lượng ở ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH, ThS. Nguyễn Hữu Thiện đề xuất thực hiện tốt tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ. Cụ thể, thích ứng thuận thiên là chính, tránh can thiệp thô bạo vào thiên nhiên, giảm lúa vụ ba, chuyển từ tư duy tăng gia sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp và không xây thêm nhà máy nhiệt điện than.
“Đồng thời, biến thách thức thành cơ hội; nước mặn không còn bị xem là kẻ thù; vùng nước lợ không bị xóa sổ; sông ngòi được chảy thông thoáng sẽ có khả năng tự làm sạch; nước sông ngòi được phục hồi, sử dụng; giảm sử dụng nước ngầm, giảm sụt lún đất” – ThS. Nguyễn Hữu Thiện kiến nghị.
PGS. TS. Lê Anh Tuấn – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ
PGS. TS. Lê Anh Tuấn – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ phát biểu tại tọa đàm
Nhằm cân bằng an ninh nước – lương thực – năng lượng trong thích ứng với BĐKH ở ĐBSCL, PGS. TS. Lê Anh Tuấn – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ đề xuất các chính sách: Áp dụng tiếp cận tổng thể trong quy hoạch tích hợp Nước – Lương thực – Năng lượng nhằm tránh xung đột giữa các ngành; điều chỉnh quy hoạch năng lượng của ĐBSCL trong quy hoạch tổng thể với quy hoạch nước và lương thực; xem xét lại Quy hoạch điện, giảm thiểu tỷ trọng nhiệt điện than, trước hết là ngừng xây dựng thêm các nhà máy nhiệt điện than mới; Chính phủ ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo để đáp ứng nhu cầu năng lượng đồng thời không tác động tiêu cực tới an ninh nguồn nước…
Tin & ảnh: Mai Đan

(TN&MT) – Bên lề Diễn đàn Doanh nghiệp Nước lần thứ 9 tổ chức ngày 13/12, tại Hà Nội; ông Triệu Đức Huy – Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia (Bộ TN&MT Việt Nam) cho biết, hội nhập và hợp tác quốc tế là giải pháp quan trọng để xây dựng hệ thống quản lý nước thông minh.
ông Triệu Đức Huy – Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia (NAWAPI)
Ông Triệu Đức Huy – Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia (NAWAPI) phát biểu chào mừng diễn đàn
Diễn đàn Doanh nghiệp Nước lần thứ 9 với chủ đề “Quản lý nguồn nước thông minh” được Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải Hàn Quốc (MoLIT); Diễn đàn nước Hàn Quốc (KWF), công ty K-water và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia phối hợp tổ chức. Diễn đàn là cơ hội để doanh nghiệp Hàn Quốc giới thiệu công nghệ quản lý nước thông minh đến các đại biểu tham dự cũng như trao đổi và nảy sinh những ý tưởng hợp tác với Việt Nam.
Nước – tài nguyên quan trọng hàng đầu
Phát biểu khai mạc diễn đàn, ông Park, Jae Heyon – Vụ trưởng Vụ chính sách tài nguyên nước Hàn Quốc (Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải Hàn Quốc) cho biết: Hiện nay, tất cả các nước trên thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề do sự nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu (BĐKH). Do đó, các hiện tượng như hạn hán và lũ lụt xảy ra thường xuyên ở các nước trên thế giới.
Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nảy sinh do quá trình đô thị hóa và sự gia tăng dân số, những thảm họa thiên nhiên như lũ lụt và tình hình thiếu nước do hạn hán ảnh hưởng nặng nề đến vùng Tam giác vàng của sông Mê Công.
ông Park, Jae Heyon - Vụ trưởng Vụ chính sách tài nguyên nước Hàn Quốc (Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải Hàn Quốc)
Ông Park, Jae Heyon – Vụ trưởng Vụ chính sách tài nguyên nước Hàn Quốc (Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải Hàn Quốc) phát biểu khai mạc diễn đàn
“Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng trong lĩnh vực phát triển tài nguyên nước và Hàn Quốc là quốc gia có “độ chín” về công nghệ, kinh nghiệm và năng lượng. Nếu như 2 bên có sự hợp tác sau diễn đàn này sẽ giúp cho sự phát triển của 2 nước lên một tầm cao mới” – ông Park, Jae Heyon khẳng định.
ông Nguyễn Chí Nghĩa – Phó Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thuộc NAWAPI
Ông Nguyễn Chí Nghĩa – Phó Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thuộc NAWAPI đánh giá mục tiêu mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế là vô cùng quan trọng
Phát biểu chào mừng diễn đàn, ông Triệu Đức Huy – Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia (NAWAPI) cho biết: Nước cần được nhìn nhận không chỉ ở khía cạnh là một nguồn tài nguyên quý giá, mà còn là chìa khóa để đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, với nhu cầu nước ngày càng tăng (theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế, dự kiến tăng 55% trong khoảng thời gian từ năm 2000-2050) sẽ gây ra những áp lực, thách thức to lớn cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội bền vững trên toàn cầu. Trước thực trạng này, việc quản lý nước thông minh là một trong những mục tiêu cao cả và quan trọng cần nỗ lực hướng tới ở cả bình diện quốc gia và quốc tế.
Hợp tác bền vững để quản lý nguồn nước thông minh
Theo ông Triệu Đức Huy, Việt Nam đang hướng tới việc xây dựng hệ thống quản lý nước thông minh hơn. Một trong số các giải pháp quan trọng là thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế, từ đó có thể trao đổi, học hỏi kinh nghiệm từ những bài học thành công về hệ thống quản lý nước thông minh tại nhiều quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn như, hệ thống quản lý nước thông minh được triển khai tại Isreal, Singapore, Đức, Quatar, Hàn Quốc…đã giúp giảm 40-50% tỷ lệ rò rỉ nước của các quốc gia này.
Ông Triệu Đức Huy mong muốn các nhà đầu tư, các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân quan tâm chia sẻ về các chiến lược, kinh nghiệm và công nghệ của các quốc gia, cũng như là các dự án hợp tác đã được lên kế hoạch hay có thể thực hiện giữa các ban ngành về nước, cả khối công và khối tư nhân. Đồng thời, thảo luận về cách thức hợp tác cho các dự án liên quan đến nước cũng như đưa ra các giải pháp và cơ hội mới cùng với các nhà hoạch định chính sách trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Quang cảnh diễn đàn
Quang cảnh diễn đàn
Để hợp tác bền vững, ông Triệu Đức Huy mong rằng 2 nước sẽ trao đổi về phương pháp thiết lập mạng lưới giữa các bên liên quan để xây dựng hệ thống quản lý nước thông minh, cũng như cùng nhau tìm kiếm cơ hội hợp tác phát triển, tạo ra các cơ hội kinh doanh mới trong số những đơn vị tham gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm
Về mục tiêu tài nguyên nước của Việt Nam hướng đến năm 2020, ông Nguyễn Chí Nghĩa – Phó Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thuộc NAWAPI cho biết, có 8 mục tiêu. Đó là: Khai thác và sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên nước; đảm bảo phân bổ và chia sẻ tài nguyên nước phù hợp giữa các ngành và các địa phương, sử dụng tiết kiệm và bảo đảm dòng chảy môi trường; bảo đảm tích hợp tính hiệu quả về mặt xã hội – kinh tế và môi trường của hệ thống hồ chứa và đập trong cả mùa lũ và mùa khô; đẩy mạnh năng lực điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; nâng cao đầu tư cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng trong cung cấp dịch vụ nước; phát triển nguồn lực con người, khoa học và công nghệ; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế; cải cách cơ chế tài chính. Trong đó, mục tiêu mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế là vô cùng quan trọng.
Mai Đan – Khương Trung
.
.

Dự án BOO nhà máy nước Phú Ninh phải tạm dừng do các hộ dân hai bên đường ĐH 104 ngăn cản đơn vị thi công đặt đường ống nước.

Tháng 2 năm nay, tỉnh Quảng Nam triển khai Dự án BOO nhà máy nước Phú Ninh, tổng vốn đầu tư gần 1.200 tỷ đồng nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết về nguồn nước sạch đáp ứng cho các doanh nghiệp trong Khu Kinh tế mở Chu Lai, Khu công nghiệp Tam Thăng và cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho người dân.

Qua hơn 10 tháng thi công, Dự án buộc phải tạm dừng do các hộ dân 2 bên đường ĐH 104, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành ngăn cản đơn vị thi công đặt đường ống vì sợ làm hư hỏng con đường này. Dự án ngưng trệ còn Chính quyền địa phương lúng túng trong xử lý.

Đường ống đặt sát mép đường nhưng người dân buộc phải bồi thường.
Đường ống đặt sát mép đường nhưng người dân buộc phải bồi thường.

Vướng mắc nảy sinh khi chủ đầu tư Dự án là Công ty Cổ phần BOO Nhà máy nước Phú Ninh triển khai thi công tuyến ống truyền tải nước sạch số 1 từ nhà máy xử lý nước sạch ở thôn Bình Sơn, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành chạy dọc tuyến ĐH 104 đến cầu Tam Kỳ.

Hướng tuyến này chủ yếu cấp nước cho Khu Công nghiệp Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ.

Phương án đặt đường ống dọc theo tuyến ĐH 104 được chính quyền tỉnh Quảng Nam, huyện Núi Thành chấp thuận.

Thế nhưng khi triển khai thi công thì bị người dân phản đối. Nhiều người cho rằng, nhà đầu tư xẻ đường đặt ống dẫn nước sẽ làm giảm chất lượng con đường này, gây mất an toàn giao thông.

Ông Nguyễn Minh Hiến ở thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam cho biết, qua nhiều lần họp dân, hầu hết các ý kiến đều phản đối: “Cưa đường là dứt khoát không được. Tôi cũng thống nhất với quan điểm của làng xóm là phải giữ con đường”.

Theo hồ sơ thiết kế được phê duyệt thì tuyến ống truyền tải của Dự án chủ yếu chạy dọc theo mép bê tông tuyến ĐH 104.

Trong đó, một số vị trí buộc phải cắt đường. Quá trình thi công, chủ đầu tư đã thỏa thuận bồi thường ở những khu vực tuyến ống lấn sang phần đất của dân.

Phương án thi công này được đa số bà con ủng hộ, nhưng sau đó lại nảy sinh vướng mắc khác.

Đó là một số hộ dân dựng hàng rào tạm bợ, trồng cây sát mép đường và yêu cầu chủ đầu tư bồi thường với giá cao hơn quy định.

Có trường hợp yêu cầu bồi thường đối với phạm vi không bị ảnh hưởng do thi công.

Một số khu vực đường ống lấn sang phần đất của dân.
Một số khu vực đường ống lấn sang phần đất của dân.

Ông Trương Văn Trung, Phó Chủ tịch UBND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam cho biết, đối với các dự án đầu tư, quy trình bồi thường là nhà đầu tư phải đăng ký kế hoạch sử dụng đất, nhưng đối với Dự án này, Công ty Cổ phần BOO nhà máy nước Phú Ninh không đăng ký kế hoạch sử dụng đất và cũng không lập phương án bồi thường.

“Vì ban đầu ý định là đặt đường ống không ảnh hưởng đến đất của dân, nhưng sau này việc cắt đường cũng gặp sự phản đối của dân. Huyện phải làm công tác vận động quần chúng chứ không thực hiện quy trình bồi thường như các dự án đầu tư khu công nghiệp hay các dự án đầu tư xây dựng trước đây”.

Dự án BOO Nhà máy nước Phú Ninh đang trong giai đoạn “nước rút” để kịp phục vụ nhu cầu nước sạch cho công nghiệp và sinh hoạt của người dân.

Hiện các hạng mục Nhà máy xử lý nước sạch, xây dựng tuyến ống nước thô, đường vào trạm bơm… đã cơ bản hoàn thành. Riêng tuyến ống số 1, việc thi công lắp đặt mới chỉ đạt 15% khối lượng.

Ông Hoàng Đăng Quang, Chuyên viên Ban Quản lý Dự án BOO Nhà máy nước Phú Ninh cho biết: “Khi bà con nhân dân có ý kiến thì chúng tôi cũng khảo sát lại, những đoạn nào mà lề đường còn lớn mà ảnh hưởng ít tới nhà, vật kiến trúc của bà con thì chúng tôi đã chủ động dịch chuyển ra ngoài và hỗ trợ đền bù mức tương đối lớn so với quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam hiện tại”.

Kiến nghị của người dân dọc tuyến ĐH 104, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành vừa được nêu ra tại Kỳ họp cuối năm Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam nhưng vẫn chưa có hướng giải quyết phù hợp.

Người dân tiếp tục phản đối trong khi vùng phía đông các huyện Núi Thành, Thăng Bình, Duy Xuyên và thành phố Tam Kỳ đang “khát” nước sạch./.

Theo VOV

(TN&MT) – Tổng cục Thủy lợi (Bộ NN&PTNT) vừa đề xuất giải pháp thúc đẩy xã hội hóa công tác cấp nước sạch nông thôn tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng. 

Theo đó, Nhà nước tiếp tục hỗ trợ vốn đầu tư nhưng điều chỉnh mức hỗ trợ theo hướng giảm đối với các vùng có thị trường tiêu thụ nước sạch thuận lợi; minh bạch trách nhiệm trong quản lý chất lượng nước; có lộ trình điều hành giá nước sạch tiếp cận với thị trường.

Các địa phương cần chuyển đổi chức năng của trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn ở các tỉnh đồng bằng sang quản lý, giám sát hoạt động xã hội hóa cấp nước nông thôn…

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Mục tiêu là cải thiện điều kiện vệ sinh, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi vệ sinh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng sống cho người dân nông thôn

Theo Tổng cục Thủy lợi, sau 8 năm thực hiện các quy định của Chính phủ về đầu tư, xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch chưa nhiều. Nguyên nhân là do ngân sách nhà nước còn hạn hẹp so với số lượng công trình cần đầu tư; ý thức sử dụng nước sạch của người dân nông thôn còn hạn chế…

PV

(TN&MT) – Với sự kỳ vọng của Chính phủ, Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam đang ngày một kiện toàn và phát triển để đề ra các định hướng chiến lược, nhiệm vụ và giải pháp về chuyển đổi có quy mô lớn phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu với tầm nhìn đến năm 2100.

Vai trò lớn của Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam đối với sự phát triển của ĐB SCL

Kể từ Hội nghị Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam tổ chức tại TP. Cần Thơ vào tháng 5/2017, lưu vực sông Mê Kông tiếp tục chịu nhiều tác động khó lường gia tăng. Nhu cầu khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn gia tăng mạnh, làm giảm dòng chảy mùa kiệt, giảm lượng phù sa. Lũ nhỏ cùng với triều cường, nước biển dâng làm xâm nhập mặn sâu hơn vào nội vùng. Biến đổi khí hậu cùng với các hiện tượng thời tiết cực đoan đang là thách thức ngày càng hiện hữu đối với các ngành sản xuất, đời sống dân sinh và sự phát triển KT-XH của các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện tượng sạt lở nghiêm trọng tiếp tục xảy ra ở nhiều địa phương đã và đang gây ra nhiều thiệt hại to lớn đe dọa đến tính mạng và tài sản của người dân.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà phát biểu tại Hội nghị tổng kết Uỷ ban Sông Mê Kông
Bộ trưởng Trần Hồng Hà phát biểu tại Hội nghị tổng kết Uỷ ban Sông Mê Kông

Trong bối cảnh đó, Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu cho Đảng và Chính phủ nhiều giải pháp cả về kỹ thuật và hợp tác đối ngoại trong khuôn khổ của hợp tác Mê Kông. Trong đó, có những kết quả đáng ghi nhận như:

Dựa trên kết quả từ Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông và các Nghiên cứu chiến lược do Thủ tướng Chính phủ giao, Ủy ban đã tham mưu cho Chính phủ về các vấn đề thủy điện dòng chính, diễn biến phù sa bùn cát trên lưu vực và Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Ủy ban tiếp tục theo dõi diễn biến của tình hình phát triển trên thượng nguồn, tiến hành các nghiên cứu chi tiết, tổng thể tác động và kiến nghị các đối sách, các giải pháp ứng phó tác động cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Trong năm 2017, Ủy ban phối hợp với các quốc gia thành viên khác của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế và Ban thư ký Ủy hội đã tiến hành tham vấn trước Dự án thủy điện Pắc-Beng theo đề nghị của Lào. Sau 6 tháng tiến hành tham vấn, Ủy hội đã ra được Tuyên bố chung xác định trách nhiệm của các bên trong mục tiêu giảm thiểu tác động của công trình đối với các quốc gia ven sông. Ủy ban sẽ tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố chung và theo dõi diễn biến tình hình phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông, để kịp thời tham vấn cho Đảng và Nhà nước các đối sách và cập nhật thông tin cho các bên liên quan.

Đối với hoạt động hợp tác trong Uỷ hội sông Mê Kông quốc tế, Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam đã phối hợp tốt với các nước thành viên trong Ủy hội để thúc đẩy thực hiện các cam kết cấp cao trong các Tuyên bố Hủa Hỉn (2010) và Tuyên bố thành phố Hồ Chí Minh (2014), thực hiện Kế hoạch chiến lược của Ủy hội giai đoạn 2016-2020 và Kế hoạch phát triển lưu vực dựa trên quản lý tổng hợp tài nguyên nước; hoàn thành Nghiên cứu chung về quản lý và phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông, bao gồm tác động của các dự án thủy điện dòng chính; xây dựng các chiến lược ngành với mục tiêu phát triển bền vững; duy trì hệ thống quan trắc tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan toàn lưu vực và bộ công cụ hỗ trợ ra quyết định; mở rộng hợp tác với các quốc gia thượng lưu là Trung Quốc và Mi-an-ma và các đối tác phát triển.

Ngoài ra Ủy ban đã chủ động đẩy mạnh quan hệ hợp tác song phương với các quốc gia thành viên Uỷ hội như Lào, Campuchia và Thái Lan thông qua các kênh hợp tác song phương của Chính phủ và giữa Ủy ban sông Mê Kông quốc gia các nước. Đồng thời, Uỷ ban cũng đã tiếp nhận và đang triển khai tốt các hoạt động thực hiện chức năng chủ chốt về quản lý lưu vực sông từ Ủy hội sông Mê Kông quốc tế thực hiện tại Việt Nam, nhằm tăng cường tính tự chủ của quốc gia và lồng ghép kế hoạch phát triển của quốc gia trong kế hoạch vùng.

Chuyển hóa các thách thức thành cơ hội để phát triển vùng ĐBSCL

Các thách thức do biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng các hoạt động sử dụng nước ngày một gia tăng ở các quốc gia thượng nguồn sẽ tiếp tục ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của đồng bằng sông Cửu Long. Trên thực tế, tình trạng thiên tai ngày càng trở lên nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến tính mạng và tài sản của nhân dân, đòi hỏi chúng ta phải hành động quyết liệt và hiệu quả, góp phần chuyển hóa các thách thức thành cơ hội để phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Trong hai ngày 26 và 27/9/2017, Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm huy động các tư tưởng, sáng kiến lớn giúp Chính phủ và các địa phương trong vùng nhận diện đầy đủ, toàn diện những thách thức, cơ hội; đề ra các định hướng chiến lược, nhiệm vụ và giải pháp về chuyển đổi có quy mô lớn phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu với tầm nhìn đến năm 2100.

Ngay sau Hội nghị quan trọng này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó đã chỉ ra bốn thách thức mà ĐBSCL đang phải đối mặt, đồng thời đã xác định rõ mục tiêu đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2100 đối với đồng bằng, các quan điểm chỉ đạo, chủ trương và định hướng chiến lược phát triển vùng ĐBSCL; giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan có liên quan để phát triển bền vững ĐBSCL trong điều kiện thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đặc biệt, Nghị quyết đã giao một số nhiệm vụ cụ thể cho Bộ TN&MT, các Bộ, ngành và địa phương trong khuôn khổ hợp tác Mê Kông như: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành về đồng bằng sông Cửu Long, kết nối với cơ sở dữ liệu của Uỷ hội sông Mê Kông quốc tế; Đánh giá, đề xuất các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả Hiệp định Mê Kông 1995, phát huy vai trò của Việt Nam tại Uỷ hội sông Mê Kông quốc tế, tăng cường hợp tác với các quốc gia trong lưu vực sông Mê Kông, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các bên liên quan trong quản lý, khai tách và sử dụng tài nguyên nước sông Mê Kông.

Đồng bằng Sông Cửu Long với sản vật trù phú nay đang ngày càng chịu tác động nặng nề của Biến đổi khí hậu
Đồng bằng Sông Cửu Long với sản vật trù phú nay đang ngày càng chịu tác động nặng nề của Biến đổi khí hậu

Phát biểu trong Hội nghị toàn thể Uỷ ban sông Mê Kông Việt Nam ngày 08/12, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà, Chủ tịch Ủy ban sông Mê Công Việt Nam cho biết, Hội nghị  Hội nghị toàn thể Uỷ ban sông Mê Kông Việt Nam “Có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ là cơ hội để Ủy ban chúng ta xác định lại các định hướng trong chỉ đạo, mà còn để thống nhất các giải pháp và kế hoạch hành động của chúng ta, triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, đề ra các định hướng chiến lược, nhiệm vụ và giải pháp về chuyển đổi có quy mô lớn phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu với tầm nhìn đến năm 2100.”

Khương Trung

(TN&MT) – Góp ý dự thảo Thông tư quy định đánh giá sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của sông, hồ; Bộ Xây dựng cho rằng, cần xem xét đến yếu tố thủy văn, địa hình sông và khả năng tự làm sạch của nguồn nước.

Văn bản số 2806/BXD-HTKT của Bộ Xây dựng góp ý dự thảo Thông tư quy định đánh giá sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của sông, hồ.

Theo đó, về căn cứ pháp lý, Bộ Xây dựng đề nghị bổ sung Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Đề nghị sử dụng thuật ngữ “khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước” trong tên gọi của Thông tư cho phù hợp với khoản 17 Điều 2 Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012.

Đặc biệt, lưu ý về việc tính toán sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của sông, hồ cần được xem xét đến yếu tố thủy văn, địa hình sông và khả năng tự làm sạch của nguồn nước.

Đồng thời, xem xét việc ứng dụng các Mô hình hóa trong việc tính toán, kiểm chứng khả năng tiếp nhận, cũng như mô phỏng tổng thể diễn biến ô nhiễm của các lưu vực sông.

PV

Bài viết mới nhất