Tài nguyên nước

UBND tỉnh Ninh Thuận vừa công bố danh mục thủ tục hành chính (TTHC) lĩnh vực tài nguyên nước thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Thuận.

Theo Quyết định, danh mục Thủ tục hành chính lĩnh vực tài nguyên nước thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Thuận bao gồm 12 TTHC như sau:

1. Cấp giấy phép thăm dò nước dưới đất đối với công trình có lưu lượng dưới 3.000m3/ngày đêm.

2. Gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép thăm dò nước dưới đất đối với công trình có lưu lượng dưới 3.000m3/ngày đêm.

3.  Cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất đối với công trình có lưu lượng dưới 3.000m3/ngày đêm.

4. Gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất đối với công trình có lưu lượng dưới 3.000m3/ngày đêm.

5. Cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng dưới 2m3/s; phát điện với công suất lắp máy dưới 2.000kw; cho các mục đích sử dụng khác với lưu lượng dưới 50.000m3/ngày đêm; Cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước biển cho mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng dưới 100.000m3/ngày đêm.

6. Gia hạn, điều chỉnh nội dung  giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng dưới 2m3/s; phát điện với công suất lắp máy dưới 2.000kw; cho các mục đích sử dụng khác với lưu lượng dưới 50.000m3/ngày đêm; Cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước biển cho mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng dưới 100.000m3/ngày đêm.

7. Cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước với lưu lượng dưới 30.000m3/ngày đêm đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản; với lưu lượng dưới 3.000m3/ngày đêm đối với các hoạt động khác.

8. Gia hạn, điều chỉnh nội dung  giấy phép xả nước thải vào nguồn nước với lưu lượng dưới 30.000m3/ngày đêm đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản; với lưu lượng dưới 3.000m3/ngày đêm đối với các hoạt động khác.

9. Cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất quy mô vừa và nhỏ.

10. Gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất quy mô vừa và nhỏ.

11. Điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

12. Tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với trường hợp tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy phép trước ngày Nghị định số 82/2017/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành.

Quyết định  cũng quy định cụ thể về thời hạn giải quyết, địa điểm thực hiện; phí, lệ phí đối với các thủ tục hành chính lĩnh vực tài nguyên nước thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Ninh Thuận.

PV


Lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn

Dự án “Giảm thiểu ô nhiễm và duy trì dòng chảy môi trường các biển Đông Á thông qua quản lý tổng hợp lưu vực sông” đã chọn lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng biển ven bờ TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam để thực hiện việc quản lý tổng hợp tài nguyên nước, giảm tải lượng ô nhiễm, duy trì dòng chảy môi trường nước ngọt và giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Dự án “Giảm thiểu ô nhiễm và duy trì dòng chảy môi trường các biển Đông Á thông qua quản lý tổng hợp lưu vực sông” được triển khai tại 7 nước thành viên ASEANgồm Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Lào và Việt Nam.

Dự án sẽ thí điểm thực hiện tại các lưu vực sông ở mỗi quốc gia. Đó là các điểm nghiên cứu quản lý tổng hợp lưu vực sông để nhân rộng và vận dụng những nghiên cứu cho các lưu vực sông khác trong mỗi nước tham gia nói riêng và cho khu vực ASEAN nói chung.

Ông Nguyễn Thành Yên, Tổng cục Môi trường cho biết, hiện nay, hầu hết các lưu vực sông ở Việt Nam đều có vấn đề liên quan đến dòng chảy môi trường và mối quan hệ giữa thực phẩm – năng lượng – nước. Tuy vậy, tại cuộc họp tham vấn tháng 10/2017 và tháng 3/2018 các đại biểu thống nhất lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn đáp ứng được các tiêu chí trong việc lựa chọn lưu vực sông được ưu tiên đã được thỏa thuận bởi 7 nước trước đó.

Dự án thí điểm tại Việt Nam có tên “Quản lý tổng hợp lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng biển ven bờ của TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam” do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Cơ quan Hợp tác quản lý môi trường các biển Đông Á (PEMSEA), Tổng cục Môi trường phối hợp thực hiện.

Vu Gia – Thu Bồn là hệ thống sông lớn ở vùng Duyên hải Trung Trung Bộ với diện tích 10.350 km2, là nguồn nước cung cấp quan trọng nhất cho nhu cầu phát triển dân sinh, kinh tế của tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng. Đồng thời là lưu vực phải gánh chịu sự phát triển thiếu bền vững các nhà máy thủy điện đã phát sinh nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, phá hủy hệ sinh thái, sinh cảnh của khu vực thượng và trung lưu vực sông, giảm phần lớn lượng phù sa và dinh dưỡng đưa xuống hạ lưu, làm mất cân bằng sinh thái và động lực dòng sông và vùng cửa sông. Điều này gây ra những thay đổi, làm tăng khả năng lũ lụt vào mùa mưa và thiếu nước mùa khô…

Vì thế, Cơ quan Hợp tác quản lý môi trường các biển Đông Á (PEMSEA) cùng Tổng cục Môi trường đã phối hợp triển khai dự án thí điểm quốc gia ở Việt Nam là “Quản lý tổng hợp lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng biển ven bờ của TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam”.

Mục tiêu chính của dự án là hỗ trợ, phát triển bền vững lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam – Đà Nẵng. Trong thời gian 5 năm thực hiện dự án sẽ ưu tiên giải quyết các vấn đề trong quản lý tài nguyên và môi trường nước lưu vực sôngVu Gia – Thu Bồn, vùng bờ liên quan giữa tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng.

Ông Won Tae Shin, chuyên gia Cơ quan Hợp tác quản lý môi trường các biển Đông Á (PEMSEA) cho biết, Dự án này sẽ đánh giá chung về thực trạng quản lý từ nguồn ra biển; cải thiện quản lý và đầu tư cho quản lý tổng hợp lưu vực sôngVu Gia – Thu Bồn thông qua các hoạt động xác định điểm nóng trong lưu vực sông để xây dựng các giải pháp mẫu, xác định phương án ưu tiên…; hoàn thiện cơ chế quản trị lưu vực sông, tăng cường chia sẻ kiến thức và nhân rộng các thực hành hiệu quả.

Dự án sẽ triển khai 4 hợp phần: Hợp phần 1 là đánh giá chung về hoạt động quản lý từ “Nguồn tới Biển” tại LVS Vu Gia – Thu Bồn và vùng biển ven bờ Quảng Nam – Đà Nẵng – Đà Nẵng; hợp phần 2, hoàn thiện và tăng cường Quản lý tổng hợp LVS và cơ chế quản lý đối với LVS Vu Gia – Thu Bồn và vùng biển ven bờ Quảng Nam – Đà Nẵng; hợp phần 3, triển khai các dự án thí điểm hướng tới tìm giải pháp tại TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam nhằm xây dựng và trình diễn các chiến lược, cơ chế tài chính và quan hệ đối tác mang tính sáng tạo để cải thiện chất lượng nước, giảm thiểu và quản lý ô nhiễm/chất dinh dưỡng, quản lý và chất thải rắn/tái chế nhựa thải hoặc/và tăng cường dòng chảy môi trường/quản lý tài nguyên nước; hợp phần 4, quản lý và chia sẻ kiến thức cho các bên liên quan ở Trung ương và địa phương, bao gồm đào tạo kỹ năng chuyên ngành cho cán bộ Quản lý tổng hợp lưu vực sông/Quản lý tổng hợp vùng bờ và các nhà thực hành quản lý lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng biển ven bờ Quảng Nam – Đà Nẵng.

Thảo Linh


TS. Trịnh Hải Sơn – Phó Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản phát biểu khai mạc buổi lễ

Ngày 4/6/2018 tại Hà Nội, Viện Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản Hàn Quốc (KIGAM) và Cục Khảo sát Địa chất Phần Lan (GTK) đã khai giảng Khóa đào tạo về nước ngầm.

Buổi lễ có sự tham dự của ngài Đại sứ Kari Kahiluoto – Đại sứ quán Phần Lan tại Việt Nam, bà Trần Lan Hương – Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, TS. Trịnh Hải Sơn – Phó Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, TS. Kyoochul Ha – Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản Hàn Quốc (KIGAM), TS. Jaana Jarva và GS. Daniele Pedretti – Cục Khảo sát Địa chất Phần Lan (GTK), cùng các nhà khoa học nước ngoài và các học viên tham gia khóa đào tạo.

Ngài Đại sứ Phần Lan Kari Kahiluoto gửi lời chúc khóa tập huấn thành công

Phát biểu khai mạc, TS. Trịnh Hải Sơn – Phó Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản hy vọng thông qua khóa học này, các cán bộ học viên được trang bị kiến thức sâu rộng về lĩnh vực nước ngầm, đồng thời có cơ hội giao lưu học hỏi với các nhà khoa học nổi tiếng đến từ Việt Nam, Hàn Quốc và Phần Lan, từ đó nâng cao năng lực của các cán bộ.

Cũng tại buổi lễ, TS. Kyoochul Ha, TS Jaana Jarva và GS. Daniele Pedretti đã giới thiệu về chức năng, nhiệm vụ của KIGAM và GTK, cũng như các lĩnh vực mà hai cơ quan đang nghiên cứu và triển khai, đặc biệt là lĩnh vực nước ngầm và công nghệ tái nạp tầng ngậm nước (MAR).


TS. Kyoochul Ha giới thiệu về Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản Hàn Quốc (KIGAM)

Phát biểu tại buổi lễ, ngài Đại sứ Phần Lan Kari Kahiluoto và bà Trần Lan Hương đã gửi lời chúc khóa học thành công tốt đẹp tới ban tổ chức và các học viên, và mong rằng trong tương lai sẽ có nhiều cơ hội hợp tác giữa các bên.

 Các học viên và Ban tổ chức chụp ảnh lưu niệm

Hồng Hạnh


Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng chống thiên tai Trần Quang Hoài chủ trì cuộc họp

Sáng ngày 29/5 tại Hà Nội, Tổng cục Phòng chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức họp triển khai công tác tham mưu, điều hành quy trình liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng và công tác chuẩn bị diễn tập điều hành xả lũ khẩn cấp hồ Hòa Bình năm 2018.
Cuộc họp nhằm đánh giá kết quả vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực, rút kinh nghiệm về tham mưu điều hành liên hồ chứa năm 2017; nhận định tình hình mưa lũ năm 2018; đánh giá các điều kiện đảm bảo vận hành an toàn hồ chứa theo quy trình, kế hoạch triển khai trong thời gian tới; thảo luận, góp ý đề cương kịch bản, thống nhất phân công nhiệm vụ trong phối hợp triển khai tổ chức diễn tập điều hành xả lũ khẩn cấp hồ Hòa Bình.
Báo cáo về tổng kết công tác tham mưu điều hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng năm 2017 và  triển khai nhiệm vụ năm 2018, ông  Nguyễn Văn Hải, Phó cục trưởng Cục Ứng phó và Khắc phục hậu quả thiên tai cho biết: Năm 2017, tổng lượng dòng chảy về của 04 hồ chứa thuỷ điện hồ Sơn La, Sơn La, Tuyên Quang, Thác Bà tham gia cắt lũ trên lưu vực sông Hồng đều lớn hơn tổng lượng dòng chảy trung bình năm.
Về công tác điều hành hồ: Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo đã tham mưu cho Ban Chỉ đạo ban hành 47 Công điện chỉ đạo vận hành hồ và đảm bảo an toàn hạ du khi các hồ chứa trên lưu vực sông Hồng (Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang). Hồ Sơn La vận hành xả lũ 05 đợt với tổng thời gian là 24 ngày; thời điểm vận hành lớn nhất là 02 cửa xả đáy; Hồ Hoà Bình vận hành 04 đợt xả lũ với tổng thời gian là 40 ngày; thời điểm vận hành lớn nhất là 8 cửa xả đáy với tổng lưu lượng xả về hạ du là 16.520m3/s trong đợt mưa lũ từ ngày 10-12/10/2017. Đây là  đợt xả lũ lớn nhất trong lịch sử của hồ Hoà Bình. Đặc biệt, tại thời điểm hồ Hoà Bình phải xả lũ lịch sử với 8 cửa xả đáy, Thường trực Ban Chỉ đạo đã tham mưu Bộ trưởng – Trưởng ban vận hành linh hoạt, lệnh tạm dừng phát điện hồ Sơn La để hạn chế lưu lượng về hồ Hoà Bình, đồng thời cử đoàn công tác của Ban Chỉ đạo tại hiện trường để trực tiếp tham mưu, chỉ đạo kịp thời.
Công tác chuẩn bị cho năm 2018
Tổng cục đã có dự thảo, đề cương, dự toán công tác tính toán điều hành hành liên hồ chứa, trong đó có lưu vực sông Hồng (Dự kiến 07 đơn vị tính toán: Trường Đại học Thủy lợi; Viện Cơ học; Viện Khoa học Thủy lợi; Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc Gia; Viện Quy hoạch Thủy lợi; Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường, Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật Phòng chống thiên tai).
Về việc diễn tập điều hành xả lũ khẩn cấp hồ Hòa Bình và ứng phó đảm bảo an toàn hạ du:
Tổng cục trưởng Trần Quang Hoài cho biết mục đích của buổi diễn tập nhằm tăng cường tính chủ động và sự phối kết hợp trong việc chỉ đạo, điều hành xử lý các tình huống xả lũ khẩn cấp, đảm bảo an toàn công trình và hạ du vùng ảnh hưởng hồ Hòa Bình. Từ đó rút kinh nghiệm để hoàn thiện phương án chỉ đạo, chỉ huy nhằm đảm bảo tham mưu điều hành “kịp thời, nhanh chóng, hiệu quả” đối với hồ Hòa Bình nói riêng và các hồ chứa khác nói chung. Về hình thức, diễn tập cơ chế kết hợp một phần thực binh thông qua kết nối trực tuyến giữa các điểm cầu vào ban đêm tại Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai – Thuỷ điện Hoà Bình – Văn phòng Ban Chỉ huy PCTT&TKCN các tỉnh, TP Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hà Nội. Buổi diễn tập này sẽ được truyền hình trực tiếp trên kênh VTC14 vào 20h00 – 22h00 ngày 15/6/2018.
Tại cuộc họp các đại biểu tham gia thảo luận đóng góp các ý kiến cho công tác điều hành liên hồ chứa năm 2018.

Nguồn tin: phongchongthientai.vn

 

UBND tỉnh Phú Thọ vừa phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Phú Thọ đến năm 2030.

Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Phú Thọ đến năm 2030 (Quy hoạch) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên nước và bảo vệ tài nguyên nước theo hướng phát triển bền vững. Phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn tài nguyên nước. Bảo vệ các hệ sinh thái phụ thuộc vào nguồn nước, các chức năng quan trọng của nguồn nước. Phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra nhằm đảm bảo an ninh lâu dài về tài nguyên nước góp phần thúc đẩy, hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ.

Bên cạnh đó, quản lý nhu cầu nước cho dân sinh, tăng cường hiệu quả khai thác sử dụng tài nguyên nước nhằm phát triển bền vững tài nguyên nước. Ngăn chặn và khắc phục có hiệu quả tình trạng suy thoái số lượng và chất lượng tài nguyên nước của các nguồn nước trên địa bàn tỉnh cũng như trên các hệ thống sông. Đồng thời, làm cơ sở cho quản lý nhà nước, quyết định trong thẩm định, phê duyệt và triển khai thực hiện các quy hoạch chuyên ngành, các dự án hỗ trợ, đầu tư có liên quan.

Mục tiêu cụ thể là: Phân bổ nguồn nước cho các đối tượng khai thác, sử dụng nước trong kỳ quy hoạch bảo đảm đến năm 2020: Đảm bảo nguồn cấp nước sinh hoạt là 51,56 triệu m3/năm; du lịch và dịch vụ là 20,15 triệu m3/năm; công nghiệp là 17,90 triệu m3/năm; nông, lâm, thủy sản là 395,39 triệu m3/năm. Đến năm 2030: Đảm bảo nguồn cấp nước sinh hoạt là 63,58 triệu m3/năm; du lịch và dịch vụ là 24,71 triệu m3/năm; công nghiệp là 53,62 triệu m3/năm; nông, lâm, thủy sản là 384,34 triệu m3/năm.

Phân bổ, bảo vệ tài nguyên nước

Theo Quy hoạch, ưu tiên phân bổ nguồn nước cho các đối tượng khai thác, sử dụng nước theo thứ tự: (1) nhu cầu nước cho sinh hoạt; (2) nhu cầu nước cho du lịch, dịch vụ; (3) nhu cầu nước cho công nghiệp; (4) nhu cầu nước cho nông, lâm, thủy sản. Trong trường hợp bình thường phân bổ bảo đảm 100% nhu cầu cho các đối tượng khai thác, sử dụng nước phục vụ sinh hoạt, du lịch, dịch vụ, công nghiệp và nông, lâm, thủy sản. Trong trường hợp hạn hán, thiếu nước phân bổ cho các đối tượng khai thác, sử dụng nước xác định theo thứ tự ưu tiên và lượng nước thiếu. Thực hiện giám sát tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước dưới đất; giám sát chất lượng nước, xả nước thải vào nguồn nước.

Quy hoạch nêu rõ, bảo vệ chất lượng nước mặt: xác định ngưỡng giới hạn về lượng, nồng độ chất ô nhiễm tại nguồn thải và nguồn tiếp nhận nước thải của các sông, suối nhằm đáp ứng mục đích sử dụng nước và quy định yêu cầu chất lượng nước thải sinh hoạt của các khu dân cư tập trung, nước thải của các khu công nghiệp, nước thải y tế phải xử lý đạt tiêu chuẩn. Phòng ngừa cạn kiệt suy thoái nguồn nước dưới đất: xác định chỉ số hạ thấp mực nước, ngưỡng giới hạn khai thác của nước dưới đất tại các khu vực có nguy cơ cạn kiệt. Kiểm soát hoạt động khai thác nước khoáng nóng Thanh Thủy, đảm bảo 100% các công ty khai thác nước khoáng phải có giấy phép, các hộ gia đình khai thác phải đăng ký khai thác nước với chính quyền địa phương.

Bên cạnh đó, phòng chống tác hại do lũ tại các khu vực có nguy cơ lũ quét cao ở các xã, huyện vùng cao thuộc huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập và một số khu vực như huyện Hạ Hòa, Cẩm Khê. Phòng chống tác hại do hạn hán cho các khu vực có nguy cơ cao bị hạn hán tại Đoan Hùng, Thanh Sơn, Thanh Thủy, Hạ Hòa, Thanh Ba, Yên Lập… Phòng chống và khắc phục sụt lún đất cho các khu vực có nguy cơ cao xảy ra sụt lún tại các xã Ninh Dân, Đồng Xuân, Yên Nội, Chí Tiên và thị trấn Thanh Ba thuộc huyện Thanh Ba.

Kinh phí thực hiện Quy hoạch là 88 tỷ đồng.

Theo Chinhphu.vn


Lên phương án cấp nước cho đồng bằng sông Cửu Long

Dưới tác động của biến đổi khí hậu, 13 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đều đang đối mặt với nguy cơ thiếu nước sạch. Đề xuất phương án cấp nước an toàn cho các tỉnh/thành phố ĐBSCL, cơ quan chức năng yêu cầu tập trung cấp nước cho vùng khó khăn nhất là Cà Mau và Bạc Liêu.

* 3 phương án

Đơn vị tư vấn NJS (Nippon Jogesuido Sekkei Co.Ltd) Nhật Bản vừa có báo cáo đề xuất 3 phương án cho Dự án cấp nước an toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) theo Dự án cấp nước an toàn vùng ĐBSCL do Ngân hàng Thế giới tài trợ, tập trung vào 7 tỉnh, thành phố phía Tây Nam sông Hậu của vùng ĐBSCL.

Trong đó, NJS nghiên cứu 3 phương án gồm: Phương án 1 tập trung cho toàn bộ tiểu vùng Trung tâm gồm khu vực phía Bắc Cần Thơ, Nam An Giang và Nam Kiên Giang. Phương án 2 ưu tiên là xây dựng hệ thống cấp nước khai thác nước ngầm mạch sâu cho tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau. Phương án 3 ưu tiên xây dựng Nhà máy xử lý nước lợ cấp cho toàn bộ tỉnh Cà Mau.

Cho rằng Cà Mau và Bạc Liêu là các tỉnh khó khăn về nguồn nước nhất, đơn vị tư vấn lựa chọn phương án 3 là ưu tiên đầu tư. Giải pháp được đưa ra là kết hợp nước ngầm mạch sâu và khử mặn.

Tuy nhiên, nhược điểm của giải pháp này là không chắc chắn về trữ lượng khai thác và không theo quy hoạch tổng thể. Chi phí sản xuất nước ở Cà Mau và Bạc Liêu vẫn cao…

Mặc dù phương án nước ngầm mạch sâu có chi phí đầu tư thấp nhưng đòi hỏi cần phải có thời gian cho việc khảo sát và khoan thăm dò nguồn nước ngầm. Ngay cả khi công tác khảo sát được thực hiện thì vẫn có các rủi ro về trữ lượng và chất lượng nguồn nước. Vì vậy, khó có thể đáp ứng được yêu cầu về mặt tiến độ và thời gian cho dự án ưu tiên.

Nếu thực hiện phương án cấp nước phân tán, cần có chính sách đặc thù cho địa phương để đảm bảo các công ty cấp nước các tỉnh có khả năng vay lại để thực hiện dự án hoặc cho các doanh nghiệp có đủ năng lực đảm nhận các khoản vay để phát triển hệ thống…

* Tìm giải pháp tối ưu

Góp ý với đơn vị tư vấn, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà cho rằng, yêu cầu đặt ra phải đảm bảo an toàn, dịch vụ thiết yếu cho người dân (nhà ở, nước sạch), qua đó cần lựa chọn định hướng, phương thức đầu tư, xem xét cân nhắc quyết định dự án phải đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn. Đơn vị tư vấn cũng cần quan tâm, có sự đánh giá kỹ về thể chế và quản lý của dự án và phải đạt được sự đồng thuận của người dân, cộng đồng xã hội. Các yếu tố trên sẽ quyết định tính khả thi của dự án.

Đề nghị đơn vị tư vấn nghiên cứu đánh giá thêm sự liên quan của dự án đối với quy hoạch cụ thể của từng địa phương, Bộ trưởng Phạm Hồng Hà lưu ý tập trung ưu tiên cho vùng khó khăn nhất, đầu tiên là Cà Mau và Bạc Liêu; lựa chọn thêm nhiều phương án khả thi; nghiên cứu khả năng dẫn nước thô, khả năng xây hồ chứa tích nước mưa.

Bên cạnh đó cũng phải xem xét toàn diện một số yếu tố liên quan đến quy hoạch; yêu cầu thực tế của vùng về cấp nước (vùng, tiểu vùng nào chịu tác động cực đoan nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng…); khả năng khai thác và sử dụng tài nguyên nước, tác động ảnh hưởng tới môi trường; phương án dẫn nước và xử lý nước thô để giảm giá thành nước…

K.Linh


Lễ ký kết thực hiện chương trình Nước sạch học đường. (Ảnh: VOH)

Chiều 17/5, lễ ký kết thực hiện chương trình Nước sạch học đường cho hàng chục trường học ở ĐBSCL đã diễn ra với giá trị gần 6 tỷ đồng.

Gần 6 tỷ đồng là nguồn kinh phí để trang bị hệ thống lọc cung cấp nước sạch uống trực tiếp đạt chuẩn kiểm nghiệm cho các trường học ở ĐBSCL do Hội Bảo trợ trẻ em nghèo TP.HCM phối hợp đơn vị đầu tiên là Tập đoàn Novaland triển khai thực hiện. Dự kiến, trong năm học 2018 – 2019, 2.000 học sinh và giáo viên của 52 trường học của huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre và 27 trường học của huyện Tân Trụ, tỉnh Long An sẽ được tài trợ lắp đặt miễn phí hệ thống nước sạch cho học sinh.

Hiện nay, các trường trong dự án đang phải sử dụng nguồn nước nhiễm mặn, hệ thống lọc không đảm bảo vệ sinh. Huyện Thạnh Phú chỉ có 3 trường có bể chứa nước và máy lọc để sử dụng. Sau 2 huyện này, chương trình sẽ tiếp tục tìm kiếm các nhà hảo tâm để triển khai rộng khắp trên địa bàn.

Uyên Phương – Xuân Hoa


BĐKH dẫn đến tình trạng thiếu nước sinh hoạt, sản xuất đã và đang xảy ra tại một số huyện tại Lào Cai

Là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng lớn về thiếu nước do biến đổi khí hậu (BĐKH), thời gian qua, tỉnh Lào Cai đã thực hiện nhiều biện pháp quản lý, thích ứng phù hợp, đặc biệt mỗi tổ chức, cá nhân cần chung tay để bảo vệ nguồn nước. BĐKH dẫn đến tình trạng thiếu nước sinh hoạt, sản xuất đã và đang xảy ra tại một số huyện tại Lào Cai.
Nhằm bảo vệ và quản lý bền vững nguồn tài nguyên nước, tỉnh Lào Cai đã ban hành nhiều nghị định, thông tư chi tiết quy định về việc đăng ký, khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên nước trên toàn tỉnh.
Theo thống kê của Sở TN&MT Lào Cai, hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 40 dự án thủy điện, 18 công trình khai thác nước phục vụ cho sinh hoạt và hàng trăm công trình khai thác nước phục vụ cho nông nghiệp, công nghiệp. Do đó, việc sử dụng tiết kiệm nguồn nước tránh lãng phí gây thiếu nước trong mùa khô đang được các cơ quan chức năng tỉnh Lào Cai hết sức lưu ý.
Sử dụng tiết kiệm và quản lý hợp lý tài nguyên nước là biện pháp hữu hiệu để thích ứng BĐKH
Ông Nguyễn Duy Hùng, Trưởng phòng Tài nguyên nước cho biết: Năm 2017, tỉnh Lào Cai đã lập dự án điều tra, đánh giá và công bố vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất. Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về quản lý, khai thác và sử dụng nước cho cán bộ cấp huyện, xã cả 9 huyện, thành phố với tổng số 360 người tham gia. Thành lập Đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các đơn vị, tổ chức về hoạt động khai thác tài nguyên nước trên địa bàn toàn tỉnh. Lập hành lang bảo vệ nguồn nước, cắm mốc địa giới cho các công trình khai thác tài nguyên nước.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng BĐKH, những năm gần đây, tại một số huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai có tình trạng thiếu nước sinh hoạt và nước phục vụ sản xuất. Tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước tiếp tục gia tăng. Trong khi cơ chế kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, các hoạt động chặt phá rừng chưa hiệu quả. Cùng với đó, thiên tai bão, lũ, lụt, hạn hán, ngập úng… đang ngày càng gia tăng cả về mức độ nghiêm trọng và phạm vi ảnh hưởng.
Tỉnh Lào Cai tập trung bê tông hóa các kênh mương tránh tiêu hao và lãng phí nguồn nước
Do đó, để bảo vệ và tiết kiệm nguồn nước chống BĐKH, tỉnh Lào Cai đang tập trung khuyến khích người dân sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Hướng dẫn người dân cách thức bảo quản nguồn nước trong sản xuất và sinh hoạt. Đồng thời, cải tạo các trạm bơm, bê tông hóa các kênh mương tránh tiêu hao và lãng phí nguồn nước, cải tạo các hồ chứa nước nhằm tích trữ nguồn nước vào mùa hanh khô…

Bích Hợp

UBND tỉnh Tiền Giang vừa ban hành Chỉ thị số 10/CT-UBND về việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh.

Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang yêu cầu các sở, ban, ngành tỉnh và UBND các huyện, thành phố, thị xã thực hiện quản lý việc cấp phép thăm dò, khai thác nước dưới đất và đăng ký khai thác nước dưới đất đảm bảo đúng theo Luật Tài nguyên nước; Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước; các quyết định, kế hoạch, đề án, phương án, văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ, ngành Trung ương, UBND tỉnh về tài nguyên nước; khuyến cáo cho các tổ chức, cá nhân và nhân dân tận dụng tối đa nguồn nước mặt, đối với nước dưới đất chỉ nên sử dụng cho vùng khan hiếm nước mặt; ưu tiên khai thác nước dưới đất có chất lượng nước tốt để phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt, chế biến lương thực, thực phẩm.

Sở TN&MT chỉ đạo các lực lượng chức năng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân hoạt động thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, hành nghề khoan nước dưới đất trên địa bàn tỉnh. Phát hiện ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về tài nguyên nước theo quy định tại Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; chủ trì, triển khai, hướng dẫn tổ chức đăng ký, quản lý việc khai thác nước dưới đất đối với các công trình khai thác nước có lưu lượng <10m3/ngày đêm trên địa bàn tỉnh đảm bảo đúng quy định hiện hành; chủ trì, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương, các thủ tục hành chính do địa phương ban hành hoặc công bố có liên quan đến thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới thay thế cho phù hợp với Luật Tài nguyên nước và các quy định, hướng dẫn của Trung ương.

Tăng cường việc giám sát, theo dõi những công trình thăm dò, khai thác nước dưới đất, đặc biệt phải kiểm tra chặt chẽ quy trình kỹ thuật đối với những giếng khoan công nghiệp khai thác với lưu lượng lớn; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các ngành, các cấp thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên tổng hợp tình hình, báo cáo về UBND tỉnh để kịp thời chỉ đạo…

Sở Xây dựng phối hợp với Sở TN&MT hướng dẫn thực hiện các quy định, quy chuẩn môi trường hiện hành trong việc lựa chọn địa điểm, thiết kế xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt đảm bảo không ảnh hưởng đến các tầng chứa nước, các nguồn nước mặt; hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn về lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt các loại quy hoạch cấp nước, quy hoạch thoát nước, quy hoạch quản lý chất thải rắn, quy hoạch nghĩa trang phải chú ý đến vấn đề xả nước thải vào nguồn nước để không làm ảnh hưởng đến môi trường và các tầng chứa nước.

Cục Thuế tỉnh chủ trì phối hợp với Sở TN&MT và các sở, ngành tỉnh có liên quan tổ chức thực hiện việc thu đúng, thu đủ thuế tài nguyên nước theo quy định hiện hành; thường xuyên rà soát, báo cáo UBND tỉnh, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung những nội dung không còn phù hợp, không khả thi trong chính sách thu thuế liên quan đến tài nguyên nước ở địa phương.

UBND các huyện, thành phố, thị xã: Tăng cường quản lý chặt chẽ việc thu gom, xử lý nước thải, đặc biệt là nước thải của các khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu du lịch và các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn quản lý.

Các tổ chức, cá nhân có hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước: Chỉ được hợp đồng với đơn vị thi công có giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất tiến hành thi công các công trình thăm dò khai thác nước dưới đất sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đối với trường hợp phải xin phép hoặc xác nhận đăng ký đối với trường hợp phải đăng ký khai thác; có hoạt động xả nước thải vào nguồn nước thì phải áp dụng các công nghệ phù hợp để xử lý nước thải phát sinh tại cơ sở đạt quy chuẩn cho phép trước khi xả vào nguồn tiếp nhận và chỉ được xả vào nguồn tiếp nhận khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho cấp phép theo quy định đối với trường hợp xả nước thải phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; chỉ được khai thác nước dưới đất, sử dụng nước mặt, nước biển khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đối với trường hợp phải xin phép hoặc xác nhận đăng ký đối với trường hợp phải đăng ký khai thác (trừ những trường hợp không phải xin cấp giấy phép theo quy định).

Khánh An


Cần nhiều giải pháp để phục hồi bảo vệ môi trường các dòng sông

Bộ TN&MT cho biết, để giải quyết tình trạng ô nhiễm ở các dòng sông, các giải pháp được thực hiện đồng bộ từ chính sách đến kiểm soát đầu nguồn, từ thanh kiểm tra đến nâng cao nhận thức cộng đồng.

Hiện nay, chất lượng môi trường nước tại các lưu vực sông đang diễn biến phức tạp, bị suy thoái ở nhiều nơi, đặc biệt ở các đoạn sông chảy qua các khu vực đô thị, khu công nghiệp, làng nghề.

Các dòng sông là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho người dân phía hạ lưu, đặc biệt là người dân ở vùng nông thôn thường sử dụng trực tiếp nước sông, hồ bị ô nhiễm, đây là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật, tác động trực tiếp nước sông, hồ bị ô nhiễm, đây là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật, tác động trực tiếp đến điều kiện sống, sức khoẻ, và phát triển kinh tế – xã hội […]

* Hoàn thiện chính sách, thể chế

Hiện Bộ TN&MT đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 quy trình vận hành liên hồ chứa cho cả mùa lũ và mùa cạn trên 11 lưu vực sông lớn… Đồng thời xây dựng, ban hành Thông tư số 64/2017/TT-BTNMT quy định về xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối và hạ lưu các hồ chứa, đập dâng… Đây là các giải pháp kỹ thuật nhằm kiểm soát chất lượng nước của các dòng sông.

Trong năm 2017, Bộ đã tập trung triển khai xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt Đề án kiểm soát đặc biệt đối với các cơ sở tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; xây dựng hệ thống tiêu chí về môi trường làm cơ sở lựa chọn, sang lọc loại hình sản xuất và công nghệ sản xuất trong thu hút đầu tư, xem xét, phê duyệt các dự án đầu tư, đảm bảo không thu hút công nghệ sản xuất lạc hậu vào Việt Nam.

Hiện Bộ đang xây dựng để trình Chính phủ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và các Luật liên quan đến bảo vệ môi trường; Nghị định sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường… Việc sửa đổi này nhằm điều chỉnh các quy định Luật sát với thực tế hơn.

Bộ TN&MT và các địa phương đang thực hiện việc kiện toàn tổ chức và hoạt động của các Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông, tăng cường phối hợp giải quyết các vấn đề môi trường liên tỉnh…

* Kiểm soát nguồn thải

Bên cạnh xây dựng chính sách, ngành TN&MT tập trung quyết liệt vào công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Buộc tất cả các khu, cụm công nghiệp xây dựng mới phải hoàn thành hệ thống xử lý nước thải trước khi đi vào hoạt động…

Bộ TN&MT cũng tổ chức thống kê, cập nhật dữ liệu nguồn thải nước thải, xây dựng kế hoạch quản lý, xử lý nguồn thải nước thải trên lưu vực sông, công khai thông tin về nguồn thải trên cổng thông tin môi trường lưu vực sông; triển khai Đề án đánh giá sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của lưu vực sông phục vụ quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông. Triển khai Quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu vực dân cư, khu công nghiệp trên lưu vực sông và Quy hoạch quản lý chất thải rắn trên lưu vực sông…

Bộ TN&MT cho rằng, cần tăng cường xúc tiến đầu tư, đa dạng hoá các nguồn đầu tư để triển khai các nhiệm vụ, dự án có liên quan trên lưu vực sông, tập trung vào các lĩnh vực: thoát nước đô thị, xử lý nước thải đô thị, cải tạo, phục hồi môi trường cho những đoạn bị ô nhiễm nghiêm trọng…

Bên cạnh việc cải tạo, phục hồi môi trường, Bộ TN&MT còn đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng dồng về bảo vệ môi trường và pháp luật về tài nguyên nước trên các lưu vực sông. Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng để thu hút cộng đồng, tổ chức, doanh nghiệp tham gia vào việc bảo vệ nguồn nước… Đây là các biện pháp có hiệu quả về lâu dài, tăng tính bền vững của các giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường.

PV

Bài viết mới nhất