Tài nguyên nước

(TN&MT) – Vừa qua, trên mạng xã hội có lan truyền thông tin về việc đáy sông Đồng Nai có dioxin, trong đó có ý kiến cho rằng, có những khu vực bãi bồi dưới sông Đồng Nai bị nhiễm chất độc da cam (dioxin) tích tụ thời trước năm 1975. Về việc này, Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai vừa có văn bản số 4515/STNMT-CCBVMT gửi các cơ quan chức năng, các cơ quan truyền thông về việc trả lời phản ánh trên mạng xã hội về “đáy sông Đồng Nai bị ô nhiễm dioxin”.

Chất lượng nước sông Đồng Nai vẫn đảm bảo an toàn về chất lượng nước cấp cho sinh hoạt của người dân
Chất lượng nước sông Đồng Nai vẫn đảm bảo an toàn về chất lượng nước cấp cho sinh hoạt của người dân

Theo đó, hàng năm Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai đều thực hiện việc quan trắc các thành phần môi trường (nước mặt, trầm tích, nước dưới đất, không khí và đất) trên địa bàn tỉnh Đồng Nai theo mạng lưới quan trắc môi trường đã được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt tại Quyết định số 1034/QĐ-UBND ngày 07/4/2016. Cụ thể, trong giai đoạn 2016 – 2020, thực hiện quan trắc chất lượng nước mặt tại 153 vị trí, quan trắc dòng chảy tại 20 vị trí, quan trắc trầm tích tại 45 vị trí, quan trắc nước dưới đất tại 105 công trình, quan trắc môi trường không khí tại 126 vị trí, quan trắc môi trường đất tại 91 vị trí.

Năm 2016, Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai cũng đã thực hiện nhiệm vụ quan trắc trầm tích tại các vị trí trên sông Đồng Nai theo Quyết định của UBND tỉnh Đồng Nai. Việc quan trắc các mẫu trầm tích đáy trên sông theo nhiệm vụ này được Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Đồng Nai phối hợp với Trung tâm Quan trắc Môi trường thuộc Tổng cục Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trung tâm Phân tích – Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, Trung tâm Môi trường và Sinh thái ứng dụng thực hiện theo QCVN 43:2012/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích, trong đó tiến hành phân tích 19 thông số, bao gồm cả thông số dioxin/furan.

Kết quả phân tích hàm lượng dioxin trong lõi trầm tích tại 7 vị trí trên sông Đồng Nai (Nhà máy nước Thiện Tân, Bến đò Biên Hòa – Bửu Long, Cầu Hóa An, Nhà máy nước Biên Hòa, các Cù lao: Cỏ, Hiệp Hòa, Baxê) theo nhiệm vụ này cho thấy có phát hiện sự hiện diện của dioxin/furan, với hàm lượng rất thấp, dao động từ 1,2 đến 3,7 ppt, thấp hơn nhiều lần so với ngưỡng giới hạn cho phép theo QCVN 43:2012/BTNMT là 21,5 ppt. Với kết quả phân tích như trên, không thể nói trầm tích sông Đồng Nai tại các khu vực này bị ô nhiễm dioxin như thông tin lan truyền trên mạng xã hội.

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai, việc tích tụ hàm lượng dioxin/furan trong trầm tích tại các khu vực này có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó không loại trừ nguyên nhân xuất phát từ việc phun rải hóa chất trừ cỏ do quân đội Mỹ đã thực hiện trong chiến tranh. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa được chứng minh rõ ràng.

Một trạm quan trắc nước mặt tự động của Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai theo dõi diễn biến chất lượng nước 24/24
Một trạm quan trắc nước mặt tự động của Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai theo dõi diễn biến chất lượng nước 24/24

Để theo dõi, giám sát chất lượng nước mặt sông Đồng Nai đoạn chảy qua khu vực lấy nước thô cấp nước cho các nhà máy cấp nước sinh hoạt, tỉnh Đồng Nai đã xây dựng mạng lưới quan trắc chất lượng nước mặt, tần suất quan trắc 02 tháng/lần với tất cả 28 thông số theo quy chuẩn nước mặt; đồng thời đầu tư lắp đặt các trạm quan trắc nước mặt tự động tại các vị trí: Xí nghiệp nước Vĩnh An, Nhà máy nước Biên Hòa – Trị An, Nhà máy nước Thiện Tân – huyện Vĩnh Cửu, Nhà máy nước Biên Hòa để theo dõi diễn biến chất lượng nước 24/24 và công bố quan trắc trên website của Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai.

Ngoài ra, tại khu vực bơm nước thô, các nhà máy xử lý nước cấp của TP.HCM và của Đồng Nai đều thực hiện lấy mẫu liên tục, thường xuyên để kiểm tra chất lượng nước thô và nước sau xử lý đảm bảo an toàn về chất lượng nước cấp cho sinh hoạt của người dân. Theo đó, chất lượng nước thô cấp cho các nhà máy cấp nước sinh hoạt tại các khu vực này đều ổn định và nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn cấp nước theo quy định.

Tường Tú

Số lượng nước sạch mà người dân huyện Củ Chi sử dụng khoảng 10.000m³/ngày, tương đương 53 triệu đồng. Trong 6 tháng đầu năm, Saigon Water lỗ hơn 91 tỷ đồng.

Ngày 3-8, UBND huyện Củ Chi, TPHCM tổ chức sơ kết công tác cung cấp nước sạch trên địa bàn huyện trong 6 tháng đầu năm 2017.

Ông Trương Khắc Hoành, Tổng Giám đốc Công ty CP Hạ tầng nước Sài Gòn (Saigon Water) cho biết, sau hơn 2 năm, công ty đã đầu tư lắp đặt hệ thống mạng lưới ống, bồn, đồng hồ nước với tổng vốn đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng nhưng người dân sử dụng nước sạch rất ít, gây lãng phí nguồn lực cũng như khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp.

Hiện tại, có hơn 70.000 đồng hồ nước đã lắp đặt đến nhà dân thì có đến 36.000 đồng hồ không sử dụng nước liên tục trong 6 tháng, chiếm tỷ lệ 51%.

Nhiều cơ quan nhà nước cũng không sử dụng nước hoặc sử dụng chỉ vài khối nước mỗi tháng.

Dù công ty có chính sách miễn phí 5 khối nước đầu tiên nhưng nhiều hộ chỉ dùng hết số lượng này rồi không sử dụng nữa.

Người dân mua nước sạch ở Củ Chi. Ảnh minh họa
Người dân mua nước sạch ở Củ Chi. Ảnh minh họa

Tại hội nghị, người dân cho rằng, nhiều xã mặc dù đã có mạng lưới ống cấp nước đi qua nhưng chưa được gắn đồng hồ. Bên cạnh đó, đơn vị cấp nước để đồng hồ cách xa nhà dân nên nhiều người không sử dụng vì bất tiện.

Nhiều người nêu ý kiến, tại sao cùng một tuyến hẻm mà chỉ gắn đồng hồ một bên, bên còn lại không gắn. Điều đáng nói là chất lượng đồng hồ không đảm bảo như khóa van dễ gãy, nhưng báo hư đơn vị khắc phục rất lâu. Bà con đề nghị đơn vị cấp nước khi chuyển nước vào bồn thì thông báo để người dân đến lấy chứ không biết lúc nào có nước.

Về việc cơ quan nhà nước và người dân sử dụng nước quá ít, ông Lê Đình Đức, Phó Chủ tịch UBND huyện Củ Chi cho biết, Huyện ủy và UBND đã có chỉ đạo cán bộ, đảng viên và các đơn vị trực thuộc phải sử dụng nước sạch và coi đó là tiêu chí để xét thi đua cuối năm.

Đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, UBND huyện đã giao phòng kinh tế thống kê danh sách để Saigon Water khảo sát lại.

Trong năm 2017, huyện Củ Chi đặt mục tiêu 98,5% hộ dân được cung cấp, tiếp cận và sử dụng nước sạch, trong đó số hộ dân đã được gắn đồng hồ sử dụng nước sạch là 80%.

Theo SGGP

Tổng cục Thủy lợi (Bộ NN&PTNT) yêu cầu các tỉnh từ Hà Giang đến Ninh Bình tập trung chỉ đạo bảo đảm an toàn cho hồ chứa thủy lợi và đề phòng ngập úng ở khu vực Bắc Bộ.

Tổng cục Thủy lợi vừa có công điện gửi Giám đốc Sở NN&PTNT các tỉnh từ Hà Giang đến Ninh Bình và Giám đốc các công ty khai thác công trình thủy lợi: Bắc Đuống, Bắc Hưng Hải, Sông Nhuệ, Bắc Nam Hà yêu cầu tập trung cao độ nhằm bảo đảm an toàn cho hồ chứa thủy lợi và đề phòng ngập úng trong đợt mưa lớn tại khu vực này từ ngày 3-6/8.

Tổng cục Thủy lợi cho biết, theo bản tin dự báo của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương, từ ngày 2/8 , khu vực Tây Bắc, Việt Bắc đã có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to. Dự báo, từ ngày 3-6/8 ở Bắc Bộ có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to (từ 100-250 mm) và dông. Do ảnh hưởng của lượng mưa tương đối lớn từ đầu mùa mưa đến nay, lượng nước trữ tại một số hồ chứa thủy lợi ở khu vực Bắc Bộ tương đối cao, nhiều hồ đã đầy nước, nếu có mưa lớn bổ sung thì nguy cơ cao xảy ra mất an toàn hồ chứa và ngập úng ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Để bảo đảm an toàn các hồ chứa nước thủy lợi và đề phòng ngập úng, Tổng cục Thủy lợi yêu cầu các đơn vị có liên quan tăng cường kiểm tra an toàn hồ chứa, đặc biệt các hồ chứa xung yếu; tổ chức trực ban tại công trình 24/24 giờ; theo dõi chặt chẽ mực nước và lưu lượng nước đến hồ, chủ động hạ thấp mực nước theo đúng quy định tại quy trình vận hành hoặc khi công trình có nguy cơ xảy ra sự cố.

Triển khai phương án bảo đảm an toàn cho các công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa nước; phương  án phòng, chống lũ, lụt vùng hạ du hồ chứa, đặc biệt  là các công trình đang thi công xây dựng mới và sửa chữa, nâng cấp.

Cùng với đó cần chủ động vận hành công trình để tiêu thoát nước đệm trong các hệ thống công trình thủy lợi ở Đồng bằng Bắc Bộ trong trường hợp có mưa lớn, khả năng xảy ra tình trạng ngập úng.

Cập nhật thường xuyên dự báo mưa, lũ của các cơ quan khí tượng thủy văn và chỉ đạo từ cấp có thẩm quyền; kịp thời điều chỉnh phương án vận hành hệ thống công trình thủy lợi phù hợp với tình hình thực tế.

Theo Chinhphu.vn

(TN&MT) – 15 năm qua, cùng với sự lớn mạnh, phát triển vượt bậc, Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ TN&MT) đã quản lý tốt nguồn nước và góp phần giúp cộng đồng xã hội hiểu tầm quan trọng của nguồn tài nguyên này. Nhìn lại chặng đường đã qua, phóng viên Báo Tài nguyên và Môi trường trao đổi với ông Hoàng Văn Bẩy (ảnh) – Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước xung quanh việc xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật tài nguyên nước.

Ông Hoàng Văn Bẩy - Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ TN&MT
Ông Hoàng Văn Bẩy – Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ TN&MT

PV: Những năm qua, hệ thống văn bản pháp luật về tài nguyên nước (TNN) đã được Bộ TN&MT tập trung xây dựng, từng bước hoàn thiện, tạo lập hành lang pháp lý cơ bản cho công tác quản lý TNN từ Trung ương đến địa phương. Ông có thể cho biết, một số kết quả nổi bật trong lĩnh vực TNN?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy: Ngay sau khi Luật Tài nguyên nước được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012, Bộ TN&MT đã tập trung chỉ đạo khẩn trương xây dựng, trình ban hành tổng số 38 văn bản bao gồm: 6 Nghị định của Chính phủ (Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước; Nghị định 43/2015/NĐ-CP quy định hành lang bảo vệ nguồn nước…), 14 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và ban hành 18 Thông tư.

Cơ chế tài chính, chủ trương kinh tế hóa trong lĩnh vực tài nguyên nước đã được thể chế hóa trong Luật Tài nguyên nước, Nghị định về thu tiền cấp quyền khai thác TNN và thông qua các văn bản đã được Bộ Tài chính ban hành như quy định về quản lý nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế trong quản lý TNN, quy định tăng thuế khai thác sử dụng TNN, tiền cấp quyền khai thác TNN và quy định về phí thẩm định hồ sơ cấp phép.

Bên cạnh đó, để bảo đảm quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ TNN theo phương thức tổng hợp, toàn diện và hiệu quả cao nhằm giữ vững an ninh nguồn nước quốc gia cho trước mắt và lâu dài, góp phần phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh trước diễn biến của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sự suy giảm nguồn nước, ngày 23/1/2014, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp TNN giai đoạn 2014 – 2020.

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện. Đến nay, Bộ TN&MT đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông lớn, quan trọng và đang phát huy tác dụng của cơ chế phối hợp vận hành liên hồ, điều tiết nước (bao gồm các lưu vực sông: Ba, Vu Gia – Thu Bồn, Sê San, Srepok, Mã, Cả, Kôn – Hà Thanh, Trà Khúc, sông Hồng, Đồng Nai và lưu vực sông Hương) nhằm giảm lũ cho hạ du, tăng hiệu quả sử dụng nước và đảm bảo nguồn nước cho sản xuất ở khu vực hạ du trong mùa cạn.

Công tác quản lý lưu vực sông, quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng TNN, điều hòa phân bổ nguồn nước trên các lưu vực sông, Cục đã trình Bộ để trình Thủ tướng Chính phủ thành lập các Ủy ban Lưu vực sông, phê duyệt Danh mục Lưu vực sông gồm 392 sông liên tỉnh làm căn cứ để triển khai các hoạt động quản lý lưu vực sông, phân công, phân cấp quản lý; Bộ đã ban hành Danh mục Lưu vực sông nội tỉnh gồm trên 3.045 sông nội tỉnh.

Công tác điều tra cơ bản về TNN đã được triển khai trên tất cả các mặt: điều tra đánh giá TNN mặt, nước dưới đất; tình hình khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước.

Công tác bảo vệ TNN đã được tích cực triển khai như: xây dựng và triển khai thực hiện các quy định pháp luật để bảo vệ hành lang bảo vệ nguồn nước, bảo vệ lòng, bờ bãi sông, phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; lập quy hoạch TNN,…

Về hợp tác quốc tế nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước liên quốc gia được quan tâm, chú trọng. Đặc biệt, việc gia nhập Công ước của Việt Nam vào đầu năm 2014, với tư cách là thành viên thứ 35, đã chính thức đưa Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho mục đích phi giao thông thủy sau 17 năm thông qua (từ năm 1997) chính thức có hiệu lực thi hành từ Quý III năm 2014.

Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng về TNN, từ năm 2011 đến nay, việc tổ chức Lễ mít tinh quốc gia và các hoạt động tuyên truyền hưởng ứng Ngày Nước thế giới 22/3 hàng năm đã thu hút được sự quan tâm và tham gia tích cực của toàn xã hội, có ý nghĩa và sức lan tỏa cao, góp phần làm thay đổi nhận thức, hành vi, thói quen và cách ứng xử với TNN ở hiện tại và tương lai;…

Bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ TNN trên lưu vực sông. Ảnh: MH
Bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ TNN trên lưu vực sông. Ảnh: MH

PV: Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý về TNN vẫn còn có nhiều khó khăn, tồn tại. Nguyên nhân có phải do còn “lỗ hổng” trong pháp luật về TNN không, thưa ông?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy: Có thể nói, công tác lập quy hoạch TNN còn chậm do đây là một công việc mới, phức tạp, liên quan đến nhiều ngành và nguồn kinh phí bố trí cho công tác này còn chưa đáp ứng được nhu cầu.

Việc điều hòa, phân bổ nguồn nước giữa các ngành, địa phương đòi hỏi phải có sự tính toán cụ thể và sự đồng thuận cao, trong khi chưa thành lập được tổ chức lưu vực sông; các công trình khai thác, sử dụng nước lớn cho các mục đích khác nhau hầu hết đã được xây dựng hoặc đã được phê duyệt quy hoạch, đang triển khai, do vậy việc điều chỉnh mục tiêu nhiệm vụ, phân bổ, điều tiết lại khai thác sử dụng nước của các công trình này là hết sức khó khăn và phức tạp.

Thông tin, dữ liệu, số liệu điều tra, đánh giá, quan trắc TNN còn phân tán và chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý TNN, nhất là phục vụ công tác chỉ đạo điều hành, công tác dự báo, thẩm định hồ sơ cấp phép ở cả cấp Trung ương và địa phương. Các vấn đề mang tính liên ngành, như: quy hoạch, phát triển, khôi phục rừng đầu nguồn, bảo vệ nguồn sinh thủy; bảo vệ nguồn nước trong quá trình thực hiện các dự án thủy điện, thủy lợi, nuôi trồng thủy sản… chưa có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa cơ quan quản lý TNN với các cơ quan, Bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh. Bộ máy quản lý Nhà nước về TNN ở địa phương còn nhiều bất cập, cho đến nay hầu hết tổ chức bộ máy quản lý TNN ở cấp Sở cũng như cấp huyện chưa đáp ứng yêu cầu để thực hiện các nhiệm vụ quản lý TNN theo quy định của Luật TNN năm 2012 và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; …

PV: Trong thời gian tới đây, Cục có định hướng các nhiệm vụ trọng tâm trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý TNN như thế nào, thưa ông?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy: Nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý TNN, trong thời gian tới, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về TNN, nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu của công tác quản lý TNN là tập trung triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách quản lý đã được thể chế hóa trong Luật TNN 2012 và các văn bản đã được ban hành trong thời gian qua. Cụ thể:

Một là, xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trọng tâm là rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định về cấp phép khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, xử lý, trám lấp giếng không sử dụng; bảo vệ NDĐ, các định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá… để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình mới; xây dựng các quy định, hướng dẫn xác định và công bố dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu hồ chứa để quản lý, giám sát chặt chẽ hơn các hoạt động vận hành hồ chứa.

Hai là, rà soát, tổng kết, đánh giá tình hình vận hành các hồ chứa, trên cơ sở đó điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các Quy trình vận hành liên hồ chứa nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp vận hành điều tiết nước đáp ứng yêu cầu về phòng, chống, giảm lũ, cấp nước mùa cạn và phát điện của các hồ chứa.

Ba là, chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai các quy định của pháp luật về TNN, trọng tâm là các quy định mới như: Ưu đãi đối với việc sử dụng nước tiết kiệm hiệu quả, lập và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước; triển khai thu tiền cấp quyền khai thác TNN; giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng TNN, xả nước thải vào nguồn nước trên cơ sở áp dụng hệ thống thông tin, công nghệ tự động trực tuyến; giám sát việc vận hành của các hồ chứa theo quy trình liên hồ và việc xả dòng chảy tối thiểu.

Bốn là, tập trung xây dựng quy hoạch TNN; xây dựng quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản TNN; đẩy mạnh công tác điều tra tìm kiếm nguồn nước dưới đất ở vùng khan hiếm nước, thiếu nước, hải đảo; nghiên cứu xây dựng để sớm đưa vào hệ thống giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng TNN, xả nước thải vào nguồn nước, giám sát việc vận hành của hệ thống liên hồ chứa, vận hành duy trì dòng chảy tối thiểu của các hồ chứa thủy điện… bằng công nghệ tự động, trực tuyến.

Năm là, tập trung kiểm tra, thanh tra và kiên quyết xử lý vi phạm đối với việc vận hành giảm lũ cho hạ du, điều tiết nước trong mùa cạn, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu của các hồ theo quy trình liên hồ chứa; bảo đảm khai thác sử dụng công bằng hợp lý nguồn nước chung của 6 quốc gia trên lưu vực sông Mê Công và bảo đảm sử dụng nước ở bất kỳ một quốc gia nào cũng không được gây hại đáng kể cho các quốc gia khác theo Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho mục đích phi giao thông thủy và thông lệ quốc tế.

Sáu là, tăng cường nguồn lực cho công tác quản lý TNN để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới, trọng tâm là nguồn lực để triển khai thực hiện, bao gồm cả kinh phí, tổ chức bộ máy và năng lực thực thi. Thành lập và sớm đưa vào hoạt động các Ủy ban LVS để tăng cường cơ chế điều phối, giám sát, phối hợp thực hiện, giải quyết các vấn đề liên vùng, liên ngành, liên địa phương trong khuôn khổ LVS, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ TNN trên LVS. Tuyên truyền phổ biến rộng rãi, hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

PV: Trân trọng cảm ơn Cục trưởng!

Thúy Hằng (thực hiện)

(TN&MT) – Được thành lập từ năm 2008, gần 10 năm qua, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chuyên môn, ngày càng vững mạnh trong công tác điều tra, đánh giá, quy hoạch, quan trắc, cảnh báo và dự báo tài nguyên nước, góp phần phục vụ hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước.

Xây dựng Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia vào năm 2020

Phấn đấu đến năm 2020 sẽ có quy hoạch tài nguyên nước quốc gia và quy hoạch tài nguyên nước các lưu vực sông lớn, Bộ TN&MT đề ra nhiệm vụ trọng tâm đẩy mạnh công tác quy hoạch tài nguyên nước.

Trên cơ sở đó, Bộ TN&MT chỉ đạo Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia triển khai kế hoạch trong năm 2017 phải tập trung nguồn lực thực hiện lập Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng – Thái Bình; lập quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Srêpốk; lập nhiệm vụ Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Cửu Long; Dự án “Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu Long.”

Đây là nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi cần được triển khai thực hiện hiệu quả công tác điều tra cơ bản cả về nước ngầm và nước mặt, kế hoạch điều tra cơ bản mang tính lâu dài, đặc biệt, có sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước với công tác quy hoạch tài nguyên nước. Cần củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy; tăng cường đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực; rà soát kiện toàn, nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo, quản lý các đơn vị trực thuộc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Công tác hợp tác quốc tế được chú trọng, đặc biệt, hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ phục vụ cho khai thác, xử lý nguồn nước.

Trong năm 2016, Trung tâm đã thực hiện triển khai lập Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng – Thái Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; thi công phục vụ chống hạn và xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, điển hình như Dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng cao, vùng khan hiếm nước”; Dự án “Điều tra, đánh giá tổng thể nguồn nước, cảnh báo, dự báo phòng chống khô hạn, xâm nhập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”; Dự án “Đầu tư xây dựng mới và nâng cấp mạng quan trắc nước dưới đất Đồng bằng sông Cửu Long”. Đây cũng là những nhiệm vụ quan trọng nhằm giải quyết triệt để tình trạng thiếu nước sinh hoạt luôn thường trực mỗi khi mùa khô đến, cũng như bảo đảm an ninh nguồn nước cho vùng khô hạn Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Ngoài các nhiệm vụ Bộ giao, Trung tâm đã phối hợp lập quy hoạch tài nguyên nước cho hơn 30 tỉnh, thành phố. Kết quả quy hoạch đã giúp các địa phương định hướng khai thác, sử dụng nước, bảo vệ nguồn nước.

Đẩy mạnh điều tra cơ bản tài nguyên nước

Công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước của Trung tâm được xem là nhiệm vụ trọng tâm, được triển khai thực hiện tương đối sâu rộng và đồng bộ. Trung tâm đã hoàn thành công tác biên hội, thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 và tổng hợp, xây dựng hồ sơ, sản phẩm kết quả điều tra, đánh giá cho 52 tỉnh, thành phố. Các kết quả của dự án giúp định hướng quy hoạch tài nguyên nước, xây dựng các kế hoạch dài hạn về điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất và phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước.

Điều tra, đánh giá tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 và 1:50.000 trên một số lưu vực sông lớn, liên tỉnh và các vùng kinh tế trọng điểm. Trung tâm đã hoàn thành đánh giá tổng quan tài nguyên nước dưới đất trên diện tích 15 tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ, vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, lưu vực các sông biên giới Việt Nam – Lào thuộc lưu vực sông Mã, sông Cả; lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn; vùng Thủ đô Hà Nội, vùng vành đai kinh tế biển ven vịnh Bắc Bộ, lưu vực sông Lô – Gâm, Bắc Sông Tiền…

Công tác điều tra, đánh giá phục vụ cung cấp nước cho vùng núi cao, vùng khan hiếm nước, phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và một số khu vực phía Bắc. Điều tra, đánh giá nguồn nước tại các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, vùng cao nguyên đá thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang; 5 đảo và cụm đảo Thanh Lân, Trà Bản, tỉnh Quảng Ninh; đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; đảo Hòn Tre, Hòn Chuối, tỉnh Kiên Giang và 40 vùng sâu thuộc 10 tỉnh Nam Bộ để phục vụ trực tiếp nhu cầu cấp nước của cộng đồng dân cư tại nhiều vùng lãnh thổ, góp phần ổn định chính trị xã hội, giữ vững an ninh và phát triển kinh tế.

Trung tâm đã và đang triển khai thực hiện Dự án số 1 “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng cao, vùng khan hiếm nước” để phòng, chống hạn, xâm nhập mặn ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả năm 2016, Trung tâm đã hoàn thành thi công 31/31 vùng với 100% lỗ khoan có nước với trữ lượng, chất lượng đảm bảo và đã kết cấu thành giếng khoan khai thác lâu dài, có thể xây dựng được 32 trạm cấp nước tập trung với công suất từ 300 – 1.300 m3/ngày đêm, nguồn nước đủ đáp ứng nhu cầu cấp nước sinh hoạt cho 325.745 người với mức 60 lít/ngày/người. Đồng thời, Trung tâm đã chủ trì, phối hợp cùng các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng để triển khai thực hiện dự án Điều tra, đánh giá tổng thể nguồn nước, cảnh báo, dự báo phòng chống khô hạn, xâm nhập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.

Chương trình “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước” là chương trình toàn diện, tổng thể, đồng thời, góp phần thu hẹp khoảng cách vùng, miền và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh và giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Trong đó, việc thực hiện thành công Dự án số 1 “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở vùng núi cao, vùng khan hiếm nước” sẽ có vai trò quyết định đến thành công của toàn bộ Chương trình.

Siết chặt bảo vệ tài nguyên nước

Thực hiện Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước tới năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006, hiện nay, Trung tâm đang triển khai Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” (giai đoạn I gồm 9 đô thị là: Hà Nội, Hải Dương, Thái Nguyên, Buôn Mê Thuật, Quy Nhơn, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Mỹ Tho). Đến nay, công tác thu thập, điều tra, phân tích tổng hợp dữ liệu để phục vụ xây dựng các phương án cũng như giải pháp bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất cơ bản đã hoàn thành ở các đô thị Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Buôn Mê Thuột và Hải Dương.

Ngoài ra, Trung tâm đang thực hiện điều tra xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất tầng Neogen từ Đà Nẵng đến Bình Thuận; Điều tra, đánh giá khả năng tự bảo vệ các tầng chứa nước vùng duyên hải đồng bằng Bắc Bộ (các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình).

Trung tâm đã hợp tác với Cộng hòa Liên bang Đức thực hiện dự án hỗ trợ kỹ thuật nguồn vốn ODA về Tăng cường năng lực quy hoạch và điều tra nước ngầm ở các khu đô thị tại Việt Nam (thực hiện ở một số tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Trung Bộ) và Tăng cường bảo vệ nước ngầm tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (khu vực bán đảo Cà Mau).

Trung tâm cũng đã đặc biệt quan tâm công tác hợp tác quốc tế và ngày càng mở rộng. Cho đến thời điểm này, Trung tâm đã chủ trì tổ chức được 26 Hội thảo khoa học trong nước, 6 Hội thảo quốc tế. Trung tâm đã và đang thực hiện 8 Dự án hợp tác quốc tế, tiêu biểu như: Ký thỏa thuận thực hiện Dự án “Tăng cường bảo vệ nước ngầm” do Đức tài trợ; Hội thảo tổng kết dự án IGPVN do Đức tài trợ; Hội thảo quốc tế pha 2 trong khuôn khổ Dự án “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam, dự án thí điểm tại lưu vực sông Đồng Nai” do Pháp tài trợ…

Xuất phát từ thực tế, cần có tài liệu hướng dẫn chuyên môn và sự thống nhất về nội dung, phương pháp, kỹ thuật thực hiện các nhiệm vụ điều tra, đánh giá, quan trắc, quy hoạch tài nguyên nước, Trung tâm QH&ĐTTNN đã tích cực tham gia, chủ trì xây dựng các Thông tư về lĩnh vực tài nguyên nước. Từ năm 2012 đến năm 2015, Trung tâm đã chủ trì xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ TN&MT ký ban hành 14 Thông tư về lĩnh vực tài nguyên nước. Đặc biệt, việc ban hành Thông tư số 42/2015/TT-BTNMT ngày 29/9/2015 của Bộ TN&MT quy định kỹ thuật quy hoạch tài nguyên nước có ý nghĩa quan trọng đối với công tác lập quy hoạch tài nguyên nước, một trong những nhiệm vụ cơ bản của Trung tâm. Theo đó, kể từ thời điểm Thông tư có hiệu lực, các dự án Quy hoạch tài nguyên nước được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ các quy trình kỹ thuật mà Thông tư đã quy định.

Bài và ảnh: Minh Trang – Hồng Nhung

(TN&MT) – Ủy hội sông Mê Công quốc tế và Ủy ban sông Mê Công các quốc gia đã và đang nỗ lực thực hiện Chiến lược phát triển lưu vực sông Mê Công để xây dựng một lưu vực kinh tế thịnh vượng và môi trường lành mạnh.

Sông Mê Công là một trong những con sông lớn trên thế giới, với diện tích lưu vực vào khoảng 795.000 km2, dài trên 4.800 km, tổng lượng dòng chảy hàng năm là 495 triệu m3. Lưu vực sông Mê Công trải rộng trên lãnh thổ của 6 quốc gia, bao gồm tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, một phần lãnh thổ Myanmar, 1/3 lãnh thổ Thái Lan, hầu hết lãnh thổ Lào và Campuchia và vùng Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Hạ lưu vực  sông Mê Công bao gồm các nước Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam là nơi sinh sống của hơn 70 triệu người dân, trong đó phần lớn sinh sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, dựa chủ yếu vào khai thác các nguốn tài nguyên thiên nhiên trong lưu vực, tỷ lệ đói nghèo rất cao (trên 40% ở Campuchia và Lào).

Dự báo dân số trong lưu vực sẽ tăng lên tới 77.8 triệu năm 2020. Sự gia tăng dân số được dự báo sẽ gia tăng áp lực lên nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên nước và đất và là nguyên nhân chủ yếu làm mất cân bằng sinh thái, và là các thách thức chủ yếu cho việc quản lý sử dụng tài nguyên nước, thực hiện các chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học trong lưu vực.

Tuyến Giao thông thủy TP. Cần Thơ
Tuyến Giao thông thủy TP. Cần Thơ

Từ đầu những năm 2000, đặc biệt là tốc độ phát triển trong lưu vực đã gia tăng một cách đáng kể. Các quốc gia ven sông đã điều chỉnh chiến lược và kế hoạch phát triển để nhanh chóng hồi phục nền kinh tế từ sau thời kỳ khủng hoảng cuối những năm 90 của thế kỷ trước. Hầu hết các hoạt động tập trung vào khai thác triệt để tiềm năng nguồn tài nguyên nước sông Mê Công cho mục tiêu phát triển kinh tế của các nước trong lưu vực, bao gồm phát triển thủy điện, chuyển nước từ lưu vực sông Mê Công sang bổ sung cho các lưu vực khác, mở rộng diện tích tưới cho sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, khai thác các tuyến giao thông thủy, cấp nước cho ngành sản xuất công nghiệp và nước cho sinh hoạt. Các quốc gia hạ lưu sông Mê Công coi phát triển tài nguyên nước là một trong những trọng tâm trong các chương trình quốc gia như xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.

Tuy vậy, kết quả từ nhiều nghiên cứu của Ủy hội cũng như các tổ chức quốc tế trong vùng đã cảnh báo tác động lũy tích của các hoạt động phát triển trong lưu vực sẽ là các nguyên nhân chính làm thay đổi đáng kể chế độ thủy văn dòng chính sông Mê Công trong vài thập kỷ tới, kéo theo các hệ lụy tác động về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái vùng hạ lưu, đặc biệt, trong bối cảnh ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn vùng.

Để phát huy tối đa lợi ích kinh tế của các hoạt động phát triển và giảm thiểu các tác động bất lợi đối với xã hội và môi trường trên toàn lưu vực, Ủy hội sông Mê Công quốc tế xác định việc xây dựng và thực hiện Quy hoạch phát triển lưu vực định hướng bền vững là việc làm cần thiết và cấp bách. Quy hoạch phát triển lưu vực là một quá trình xác định các giải pháp hài hòa các hoạt động phát triển trong lưu vực tuân thủ các nguyên tắc của quản lý tổng hợp tài nguyên nước, một mặt đảm bảo thúc đẩy phát triển và quản lý hiệu quả tài nguyên nước, đất và các tài nguyên khác; mặt khác tối ưu hóa các lợi ích kinh tế xã hội hài hòa với duy trì tính bền vững các hệ sinh thái quan trọng trong lưu vực; lồng ghép quản lý tài nguyên nước và tài nguyên đất; lồng ghép các sử dụng nước ngầm và nước mặt, giữa thượng lưu và hạ lưu; lồng ghép các cách tiếp cận đa ngành và đa mục tiêu, huy động sự tham gia của tất cả các thành phần liên quan, cả chính phủ và phi chính phủ. Một trong số các kết quả quan trọng từ xây dựng Quy hoạch phát triển lưu vực là đã xác lập và thống nhất một quy trình Quy hoạch phát triển lưu vực và làm căn cứ để Ủy hội xác định và kiến nghị các dự án và các chương trình phát triển quy mô lưu vực phù hợp

Từ kết quả của Quy hoạch phát triển lưu vực, Chiến lược Phát triển hạ lưu vực sông Mê Công dựa trên nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên nước thời kỳ 5 năm lần thứ nhất 2011 – 2015 đã được xác lập và hiện nay Ủy hội đang tiếp tục thực hiện Chiến lược Phát triển hạ lưu vực sông Mê Công giai đoạn 2016 – 2020. Mục tiêu của Chiến lược Phát triển lưu vực sông Mê Công là phát triển mọi tiềm năng vì lợi ích bền vững cho tất cả các quốc gia ven sông và ngăn ngừa sử dụng lãng phí nguồn nước lưu vực sông Mê Công, góp phần đạt được tầm nhìn chung cho lưu vực sông Mê Công là “một lưu vực sông Mê Công thịnh vượng về kinh tế, công bằng về xã hội và lành mạnh về môi trường”. Quy hoạch Phát triển lưu vực được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản là: Bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái; bình đẳng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; sử dụng nước công bằng và hợp lý; duy trì dòng chảy trên dòng chính; ngăn ngừa và ngừng các ảnh hưởng có hại; trách nhiệm của quốc  gia gây hại; tự do giao thông thuỷ và Ứng  phó với tình trạng khẩn cấp.

Sáu ưu tiên trong định hướng Chiến lược quản lý tổng hợp tài nguyên nước của Ủy hội đã được xác định và đã là các trọng tâm cho xác lập các chương trình hành động thực hiện Chiến lược qua các thời kỳ gồm: Tăng trưởng và phát triển kinh tế; thúc đẩy phát triển và thực hiện công bằng xã hội; xác lập các cơ sở pháp lý hỗ trợ cho quản lý TNN xuyên biên giới; bảo vệ môi trường; thực hiện công tác quản trị trong lưu vực và tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực trọng tâm của hợp tác Mê Công.

Kết quả quá trình xây dựng, đánh giá và lựa chọn các Kịch bản phát triển tối ưu không chỉ làm cơ sở cho các đàm phán đạt tới sự cân bằng tối ưu trong sử dụng tài nguyên và giảm thiểu các tác động về môi trường và xã hội, mà còn cung cấp những căn cứ quan trọng cho xây dựng Chiến lược Phát triển lưu vực dựa trên nguyên tắc của quản lý tổng hợp tài nguyên nước, khuyến cáo điều chỉnh các chương trình và kế hoạch phát triển của các quốc gia phù hợp với kịch bản toàn vùng, định hướng cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường cho tất cả các nước ven sông vùng hạ lưu vực cũng như cho toàn lưu vực sông Mê Công.

Quy hoạch Phát triển Lưu vực do Ủy hội sông Mê Công xây dựng đã phản ánh sự phù hợp trong phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo ở các quốc gia, xác định mục tiêu phát triển và các giá trị chung trên toàn lưu vực cần được bảo vệ. Quy hoạch Phát triển lưu vực sông Mê Công đã hỗ trợ thúc đẩy và tăng cường các mối liên kết trong quản lý tài nguyên nước giữa quốc gia và toàn lưu vực, chia sẻ các nhận thức về phát triển bền vững và thực hành các chỉ dẫn hành động trong tất cả các lĩnh vực của quản lý tổng hợp tài nguyên nước.

TRẦN ĐỨC CƯỜNG

Phó Chánh Văn phòng, Văn phòng thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam

Trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 46 dự án, công suất 1.403,6 MW được phê duyệt quy hoạch. Vừa qua, trong quá trình thực hiện rà soát quy hoạch, UBND tỉnh Nghệ An đã trình Bộ Công Thương loại khỏi quy hoạch 14 dự án thủy điện (35,15MW) có quy mô nhỏ, hiệu quả dự án không cao. Như vậy, hiện trên địa bàn tỉnh này có 32 dự án có tổng công suất 1.372,45 MW.

Đối với các dự án thủy điện vừa và nhỏ đã vận hành và đang được triển khai xây dựng ít có di dân tái định cư do đó ít ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân, công tác bồi thường GPMB thực hiện theo đúng quy định. Chỉ 3 dự án có số lượng di dân tương đối lớn với 5.009 hộ dân phải di dời là thủy điện Bản Vẽ: 3.022 hộ dân, Hủa Na: 1.402 hộ dân, Khe Bố: 585 hộ dân.

Có 11 dự án vận hành phát điện đã mang lại hiệu quả cung ứng sản lượng điện cho hệ thống điện quốc gia. Sản lượng điện phát từ các nhà máy thủy điện khoảng 2,1 tỷ kWh/năm. Đến thời điểm hiện nay, tổng sản lượng điện từ các nhà máy thủy điện phát lên hệ thống là 11,251 tỷ kWh; Cung ứng năng lượng để phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh; góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương (gần 600 lao động trực tiếp là các cán bộ kỹ sư, công nhân kỹ thuật); đóng góp một phần quan trọng vào ngân sách; (hàng năm thu các loại thuế khoảng 396 tỷ đồng).

Đoàn công tác của Bộ Công Thương kiểm tra tại thủy điện Nậm Mô (Kỳ Sơn)
Đoàn công tác của Bộ Công Thương kiểm tra tại thủy điện Nậm Mô (Kỳ Sơn)

Việc đầu tư các dự án thủy điện góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển thủy sản, phát triển nông nghiệp, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt, cải tạo khí hậu, phát triển du lịch… Đầu tư nâng cấp, xây mới các công trình giao thông, cấp điện, cấp nước phục vụ thi công các dự án thủy điện cũng góp phần nâng cao cơ sở hạ tầng kỹ thuật và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Ngoài những chế độ chính sách bồi thường, hỗ trợ mà người dân tái định cư các dự án thủy điện được hưởng theo các quy định của nhà nước, thời gian qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo các chủ đầu tư, các cấp, ngành, chính quyền địa phương quan tâm hỗ trợ cho đồng bào miền núi ổn định đời sống và sản xuất do ảnh hưởng từ các dự án thủy điện.

UBND tỉnh Nghệ An kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ về lương thực thời gian 36 tháng kể từ khi đến nơi ở mới mỗi khẩu 30kg/tháng. Hỗ trợ thêm 24 tháng lương thực cho đồng bào theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 627/TTg-KN ngày 11/5/2012. Các ngành lồng ghép các đề án, chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư, Chương trình 30A, áp dụng mô hình sản xuất mới để tăng thu nhập cho người dân vùng tái định cư như: chăn nuôi lợn rừng, trồng gừng dưới tán rừng, trồng cây rễ hương, trồng rau xanh, trồng cây trám ghép. Đến nay, các mô hình đã bước đầu phát huy hiệu quả, chăn nuôi lợn đã sinh sản, trồng rau, trồng rễ hương đã cho sản phẩm, đánh giá ban đầu khả năng dự án sẽ thành công.

Dự án “Đầu tư phát triển chè vùng tái định cư Nhà máy thủy điện Bản Vẽ” tại huyện Thanh Chương có tổng số vốn phê duyệt là 922 triệu đồng với diện tích 556ha. Đến nay, dự án đã trồng được 250ha, cây trồng phát triển tốt và bước đầu tạo thu nhập ổn định cho các hộ gia đình. Khi dự án đưa vào khai thác sẽ giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho đồng bào vùng tái định cư.

Theo Báo Công thương

Bài viết mới nhất