Tài nguyên nước

Quảng Trị có 48/131 hồ chứa nước hư hỏng, xuống cấp. Nếu không có giải pháp khẩn cấp gia cố, khắc phục, rất nhiều hồ chứa ở Quảng Trị sẽ rơi vào tình trạng mất an toàn trong mùa mưa lũ năm nay.

Nhiều hồ chứa đang…lão hóa

Ngày 7/9, chúng tôi có mặt tại công trình đập dâng Nam Thạch Hãn, ghi nhận những bất ổn của công trình đập dâng phục vụ tưới tiêu cho 15.000 ha lúa và đất đai canh tác của các huyện Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị khi mùa mưa lũ đang cận kề. Công trình thủy lợi này được xây từ năm 1978, sau nhiều năm sử dụng đã xuống cấp, thường trực nguy cơ mất an toàn.

Tháng 10/2016, một trận lũ lớn đã cuốn phăng gần 1.000 m3 bê tông cốt thép kết cấu của con đập. Nước lũ cũng xói sâu tạo thành nhiều hốc rỗng trong thân đập khiến công trình đập dâng có tuổi đời gần 40 năm này thêm rệu rã .

Ông Nguyễn Sinh Công, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH.MTV Quản lý khai thác công trình thủy lợi Quảng Trị cho biết, sau sự cố mưa lũ tàn phá đập dâng Nam Thạch Hãn vào cuối năm 2016, tỉnh Quảng Trị đã khắc phục, gia cố bằng rọ đá nhưng đây chỉ là giải pháp trước mắt. Do gia cố tạm thời nên nguy cơ mất an toàn công trình đập dâng Nam Thạch Hãn trong mùa mưa bão năm nay là rất lớn.

Đập dâng Nam Thạch Hãn đang đứng trước nguy cơ mất an toàn trong mùa mưa bão năm nay. Ảnh Thanh Tùng.
Đập dâng Nam Thạch Hãn đang đứng trước nguy cơ mất an toàn trong mùa mưa bão năm nay. Ảnh Thanh Tùng.

Theo ông Nguyễn Sinh Công, khó khăn lớn nhất để duy trì nhiều hồ chứa được xây dựng từ  cách đây 30 đến 40 năm là kinh phí. Công ty được giao quản lý, khai thác 16 hồ chứa với tổng dung tích 190 triệu m3 nước, 8 đập ngăn mặn, 27 trạm bơm lớn nhỏ, phục vụ cho 31.000 ha lúa và đất canh tác của tỉnh Quảng Trị. Nhiều công trình đập, hồ chứa có tuổi thọ cao đã xuống cấp nhưng không có kinh phí đầu tư.

Theo quy định, các hồ, đập dâng có dung tích 10 triệu m3 trở lên, cứ sau 10 năm phải tiến hành kiểm định an toàn bằng phương pháp khoa học nhưng do thiếu kinh phí nên đơn vị được giao quản lý, khai thác chỉ có thể đánh giá bằng trực quan.

Đơn cử là công trình hồ thủy lợi La Ngà (địa bàn xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh) được xây dựng từ năm 1960, đưa vào khai thác từ năm 1964 nhưng chỉ mới được nâng cấp, sửa chữa 2 lần vào năm 1975 và năm 2015.

So với 48 hồ, đập thủy lợi  xuống cấp trầm trọng ở Quảng Trị thì hồ thủy lợi La Ngà có tuổi đời cao nhất. Gần 60 năm phục vụ tưới tiêu cho đất đai canh tác của các huyện phía Bắc Quảng Trị, hồ chứa La Ngà  gần như không còn đủ sức trụ lại sau mỗi mùa mưa bão. Số phận hồ chứa La Ngà đang rất mong manh do địa phương thiếu kinh phí

Báo động xâm phạm hồ, đập

Theo thống kê mới nhất của ngành chức năng Quảng Trị: Hiện có 370 trường hợp xâm phạm phạm vi bảo vệ hệ thống công trình đập dâng Nam Thạch Hãn, trong đó 270 trường hợp xâm phạm hệ thống kênh mương và 100 trường hợp xâm phạm công trình đầu mối. Có mặt tại công trình đập dâng Nam Thạch Hãn, chúng tôi chứng kiến tình trạng ngang nhiên cát cứ của tư nhân đối với công trình thủy lợi hết sức quan trọng này.

Khi chúng tôi tiếp cận để ghi hình khu vực lòng hồ  thì bị người đàn ông đứng trên 1 trong 3 chiếc sà lan neo đậu ven hồ, ngăn cản bằng thái độ hết sức ngang ngược.

Người đàn ông này cho rằng khu vực neo đậu của 3 chiếc sà lan là đất mà anh ta đã “mua”, không ai được quay phim, chụp ảnh (?). Chưa có lời giải thích thỏa đáng của doanh nghiệp được giao quản lý, khai thác công trình đập dâng Nam Thạch Hãn. Tuy nhiên những gì mà chúng tôi chứng kiến cho thấy, công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn không chỉ mất an toàn bởi mưa bão, thiên tai mà còn bởi tác động mưu sinh của con người

Theo ông Nguyễn Sinh Công, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Quản lý khai thác công trình thủy lợi Quảng Trị, ngoài hệ thống công trình đập dâng Nam Thạch Hãn và công trình thủy lợi Trúc Kinh bị xâm phạm; nhiều công trình, hồ chứa khác  cũng đang chịu tác động của việc  trồng rừng, cây công nghiệp, làm ruộng, mở rộng vườn tược, lấn chiếm phạm vi bảo vệ công trình, chăn thả gia súc, gia cầm trên mặt đập. Tác động từ con người khiến việc quản lý, khai thác 18 hồ đập, 19 trạm bơm điện và hơn 700km kênh mương trải dài trên 8 huyện, thị xã, thành phố của Công ty TNHH MTV Quản lý khai thác công trình thủy lợi Quảng Trị thêm khó khăn.

Theo Đại Đoàn kết

(TN&MT) – UBND tỉnh Sơn La vừa ban hành công văn số 2742/UBND-TH về việc đôn đốc triển khai thực hiện Nghị định 82/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La giao Sở TN&MT rà soát, lập danh sách các chủ giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất đã được cấp phép thuộc trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định tại Điều 3 Nghị định 82/2017/NĐ-CP của Chính phủ, thực hiện thông báo đến từng chủ giấy phép để yêu cầu thực hiện việc tính tiền theo quy định, nộp hồ sơ về Sở TN&MT trước ngày 10/9/2017.

Rà soát các hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất đang được Sở TN&MT xử lý, thông báo đến các tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định tại điều 3, Nghị định 82/2017/NĐ-CP của Chính phủ, để thực hiện việc tính tiền theo quy định của Nghị định và nộp bổ sung hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước để lồng ghép việc thẩm định hồ sơ tính tiền cùng với hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Thời gian trước ngày 10/9/2017.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Từ sau 1/9/2017, Sở TN&MT thực hiện việc tiếp nhận, tổ chức thẩm định hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cùng với hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất thuộc trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định.

Với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Bộ TN&MT, các đơn vị đã được cấp giấy phép chủ động phối hợp với Cục Quản lý tài nguyên nước, đôn đốc các chủ giấy phép kê khai bản kê khai tính tiền cấp quyền khai thác nước. Với các đơn vị chưa được cấp giấy phép khai thác, tổ chức kiểm tra tình hình hoạt động từng dự án, tổng hợp, báo cáo Bộ TN&MT. Phối hợp với Cục Quản lý tài nguyên nước đôn đốc các đơn vị hoàn thiện hồ sơ cấp phép và phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định.

Giao Sở Tài chính rà soát, tham mưu trình UBND tỉnh ban hành bảng giá tính thuế tài nguyên, khoáng sản, giá tính thuế tài nguyên với nước thiên nhiên trên địa bàn theo quy định tại Thông tư 44/2017/TT-BTC ngày 12/5/2017 của Bộ Tài chính quy định về giá tính thuế tài nguyên với nhóm, loại tài nguyên có tính chất lý, hóa giống nhau làm cơ sở để xác định thuế tài nguyên và tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Giao Cục Thuế tỉnh phối hợp với Sở TN&MT trong việc tính, xác định tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước phải nộp của các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Quản lý thu, nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định.

UBND các huyện, thành phố chỉ đạo Phòng TN&MT triển khai thực hiện nghiêm Nghị định 82/2017/NĐ-CP. Đồng thời, tiến hành rà soát toàn bộ các dự án khai thác, sử dụng tài nguyên trên địa bàn, đôn đốc các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản thực hiện kê khai nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định.

Nguyễn Nga

Tới thời điểm này, Công ty Thủy điện Đồng Nai đã chuyển vào Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh Đắk Nông và tỉnh Lâm Đồng tổng cộng 349,82 tỷ đồng để địa phương trồng rừng thay thế.

Chia sẻ với phóng viên Dân Việt, ông Phạm Văn Cúc – Giám đốc Công ty Thủy điện Đồng Nai thông tin, liên quan tới công tác trồng bù rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang xây dựng công trình thủy điện Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, tới thời điểm này (6.9), Công ty đã chuyển vào Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng tổng cộng 349,82 tỉ đồng để các địa phương này tự trồng rừng thay thế. Trong đó, tỉnh Đắk Nông là 191.48 tỉ đồng – đạt 100% kế hoạch và tỉnh Lâm Đồng là 158,34 tỉ đồng đạt gần 80% kế hoạch.

Điều hành sản xuất điện tại Công ty Thủy điện Đồng Nai.
Điều hành sản xuất điện tại Công ty Thủy điện Đồng Nai.

Đối với khoản tiền còn lại 63,54 tỷ đồng gồm chi phí dự phòng, chi phí TKKT, lập PA trồng rừng…, Công ty đang tích cực phối hợp với địa phương 2 tỉnh Lâm đồng, Đắk Nông, Tập đoàn Điện lực VN/ Tổng Công ty Phát điện 1 để nhanh chóng hoàn thành các thủ tục pháp lý cần thiết và các tài liệu có liên quan nhằm xác định cơ sở chuyển hết số tiền còn lại này cho địa phương ngay trong năm 2017.

“Do công ty không có điều kiện tự tổ chức trồng rừng thay thế nên ngoài diện tích Công ty tự thực hiện là 28,753 ha đã nghiệm thu năm thứ nhất vào cuối tháng 12.2015, diện tích còn lại phải trồng rừng thay thế diện tích rừng đã chuyển sang xây dựng công trình thủy điện Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4 trên địa bàn 2 tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng là 5.055,14 ha, với giá trị 413,36 tỷ đồng, Công ty đã được UBND 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông thống nhất cho nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ phát triển rừng để địa phương tự tổ chức thực hiện” – ông Cúc cho hay.

Theo Dân Việt

(TN&MT) – Thực hiện Luật Tài nguyên nước năm 2012, Bình Dương đã lập và triển khai Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 – 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Qua đó, đảm bảo nguồn tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội bền vững của tỉnh.

Hiện trạng và tiềm năng

Lượng mưa trung bình năm trên địa bàn tỉnh Bình Dương khoảng 1.757 mm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm khoảng 81 – 85% lượng mưa cả năm. Lượng mưa đóng vai trò hình thành nguồn nước nội tỉnh duy trì dòng chảy các sông suối, góp phần thúc đẩy quá trình tự làm sạch tự nhiên cho các sông rạch.

Bình Dương có tiềm năng nước mặt dồi dào từ 4 sông liên tỉnh lớn: sông Sài Gòn, sông Thị Tính, sông Bé và sông Đồng Nai. Lượng nước mặt có thể sử dụng được tính toán là 24.349,54 triệu m3/năm, bao gồm tiềm năng nước mặt và lượng nước chuyển đến từ kênh Phước Hòa – Dầu Tiếng 15,0 m3/s.

Tiềm năng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh cũng khá phong phú với trữ lượng 963,55 triệu m3/năm. Trong đó, lượng nước dưới đất có thể khai thác ổn định là 670,27 triệu m3/năm. Nước dưới đất có chất lượng tốt ở nhiều nơi và do có điều kiện khai thác dễ dàng với kinh phí đầu tư thấp nên là nguồn nước đang được khai thác sử dụng phổ biến.

Bình Dương đã và đang triển khai các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ tài nguyên nước
Bình Dương đã và đang triển khai các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ tài nguyên nước

Theo tính toán, hiện trạng khai thác sử dụng nước toàn tỉnh Bình Dương 587,92 triệu m3/năm; đến năm 2020, khai thác sử dụng nước toàn tỉnh 731,28 triệu m3/năm; đến năm 2025, khai thác sử dụng nước toàn tỉnh 802,91 triệu m3/năm; đến năm 2035, khai thác sử dụng nước toàn tỉnh 865,13 triệu m3/năm.

Sở TN&MT Bình Dương cho biết, những năm qua, Bình Dương đã có những giải pháp quy hoạch phát triển phù hợp nên chưa gây áp lực cao đối với tài nguyên nước, vẫn đảm bảo đạt được những chỉ tiêu kinh tế – xã hội. Trong đó, các nguồn nước trên địa bàn tỉnh đáp ứng được nhu cầu khai thác sử dụng nước trong các kỳ quy hoạch.

Tình hình xả thải và ô nhiễm

Hiện nay, tổng lưu lượng nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương khoảng 140.000 m3/ngày, trong đó, nước thải từ các khu công nghiệp (KCN) 64.839 m3/ngày, cụm công nghiệp (CCN) 4.375 m3/ngày và từ các cơ sở nằm ngoài KCN và CCN 70.786 m3/ngày. Tổng lượng nước thải đô thị phát sinh 142.816 m3/ngày. Tổng lưu lượng nước thải y tế 1.239 m3/ngày.

Lượng thuốc bảo vệ thực vật thải ra môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương trung bình hàng năm khoảng 59,92 tấn. Chất thải từ hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm thời gian qua tăng trưởng liên tục với khối lượng chất thải phát sinh hiện nay 24.474 m3/ngày. Chất thải rắn sinh hoạt của dân cư nông thôn khoảng 118 tấn/ngày

Kết quả tính toán trên cho thấy, lượng nước thải đổ vào các sông suối của Bình Dương và các địa phương xung quanh rất lớn. Song, do lượng nước từ thượng nguồn khá lớn nên khả năng tự làm sạch trên các sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Bé  khá cao nên ô nhiễm trên các sông này không đáng kể.

Kết quả quan trắc chất lượng nước cho thấy, vấn đề ô nhiễm do hoạt động xả thải ở Bình Dương chỉ ảnh hưởng đến sông Thị Tính và hạ lưu sông Sài Gòn. Tuy vậy, riêng phần lớn các sông suối nhỏ phía Nam tỉnh Bình Dương, tình hình ô nhiễm vẫn là điều đáng quan tâm trong kỳ quy hoạch.

Sở TN&MT Bình Dương cho hay, để đảm bảo nguồn tài nguyên nước phục vụ phát triển bền vững, Bình Dương sẽ triển khai thực hiện theo Quy hoạch tài nguyên nước để kịp thời bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả; đồng thời, phòng chống tác hại do nước gây ra trên địa bàn tỉnh.

Bảo vệ số lượng và chất lượng

Theo Sở TN&MT Bình Dương, Quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương sẽ được triển khai thực hiện theo nguyên tắc bảo vệ cả số lượng và chất lượng tài nguyên nước; ưu tiên chủ động phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái nguồn nước; tăng cường cải thiện, giảm thiểu, khắc phục tình trạng ô nhiễm hiện hữu.

Theo đó, đối với việc bảo vệ tài nguyên nước mặt, Bình Dương sẽ đánh giá hiện trạng xả thải vào nguồn nước tại từng tiểu vùng trên địa bàn tỉnh và khu vực có lưu vực sông chung thuộc các tỉnh, thành chung quanh; xác định mục tiêu bảo vệ số lượng và chất lượng cho nguồn nước và các tầng chứa nước; bổ sung vị trí mạng giám sát chất lượng nước mặt và nước dưới đất.

Ưu tiên cho các đề án, dự án

Để triển khai thực hiện tốt Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 – 2025, tầm nhìn đến năm 2035, Bình Dương sẽ ưu tiên triển khai thực hiện 20 đề án, dự án nhằm đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra với tổng kinh phí khoảng 8.381 tỷ đồng.

Trong đó, vốn ngân sách của tỉnh Bình Dương là 173 tỷ đồng, các nguồn vốn khác như vốn vay, xã hội hóa, cổ phần hóa là 8.208 tỷ đồng. Cụ thể, được phân cho các nội dung Quy hoạch: phân bổ nguồn nước 8.335 tỷ đồng; bảo vệ tài nguyên nước 37 tỷ đồng; phòng, chống tác hại do nước 9 tỷ đồng.

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho các mục đích, Bình Dương sẽ tập trung bảo vệ số lượng nước mặt 24.349.54 triệu m3/năm; bảo vệ chất lượng nước các sông Sài Gòn, sông Thị Tính, sông Bé và sông Đồng Nai đạt cột A2 theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT: 2015/BTNMT và đạt cột A2 cho các sông suối còn lại.

Đối với việc bảo vệ tài nguyên nước dưới đất, tránh nguy cơ cạn kiệt, suy thoái, Bình Dương cũng sẽ tập trung bảo vệ số lượng nước dưới đất 645,36 triệu m3/năm; duy trì trữ lượng an toàn của các tầng chứa nước bằng cách giảm dần và đi đến chấm dứt việc khai thác nước dưới đất tại các KCN, khu đô thị, khu dân cư tập trung trong giai đoạn tới.

Cụ thể, đến năm 2020 giảm lượng khai thác xuống còn 141,38 triệu m3/năm, giảm so với hiện tại 55,3 triệu m3/năm; đến năm 2025 giảm lượng khai thác xuống còn 132,42 triệu m3/năm, giảm so với hiện tại 64,3 triệu m3/năm; đến năm 2035 giảm lượng khai thác xuống còn 114,4 triệu m3/năm, giảm so với hiện tại 71,0 triệu m3/năm.

Để bảo vệ chất lượng chất lượng nước dưới đất, Bình Dương sẽ có các giải pháp nhằm ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất tại các khu đô thị, các khu vực phát triển công nghiệp có hạ tầng thoát nước chưa hoàn chỉnh; giảm thiểu mức độ và khả năng lan rộng phạm vi ô nhiễm nước dưới đất tại các khu vực ô nhiễm đã được xác định

Đồng bộ các giải pháp

Để triển khai thực hiện hiệu quả Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 – 2025, tầm nhìn đến năm 2035, Bình Dương sẽ tiếp tục rà soát, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quản lý tài nguyên nước thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh Bình Dương; xây dựng quy chế phối hợp trong quản lý nguồn nước giữa các địa phương lân cận, giữa các ngành trong tỉnh; kiện toàn bộ máy, tăng cường năng lực quản lý tài nguyên nước đồng bộ từ cấp tỉnh, cấp huyện đến cấp xã.

Bên cạnh đó, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước tiết kiệm, hiệu quả. Đồng thời, nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc phòng, chống, khắc phục hậu quả thiệt hại do nước gây ra; tổ chức thực hiện việc điều tra hiện trạng, trám lấp giếng hư hỏng không sử dụng nhằm ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất; tăng cường công tác quản lý, cấp phép, đăng ký, thanh – kiểm tra các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên nước, hành nghề khoan nước dưới đất, xả nước thải vào nguồn nước.

Ngoài ra, đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong công tác quản lý tài nguyên nước như: Ứng dụng các phần mềm về quản lý cơ sở dữ liệu, các mô hình tính toán tiềm năng tài nguyên nước, kỹ thuật GIS, Mapinfo…; tiếp cận các kỹ thuật công nghệ mới trong đánh giá, giám sát tài nguyên nước; xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước; tăng cường đầu tư các trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên nước và giám sát tài nguyên nước.

Mặt khác, cân đối ngân sách địa phương, tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác điều tra cơ bảnvề tài nguyên nước; bố trí, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn quốc tế cho các dự án cải thiện môi trường nước; triển khai các chính sách thu phí tài nguyên nước nhằm tạo nguồn vốn phục vụ công tác quản lý; thực hiện các chủ trương kinh tế hoá tài nguyên nước, xã hội hóa các loại hình cấp nước tập trung; chủ động tìm kiếm, tham gia các chương trình hợp tác quốc tế nhằm tăng cường năng lực quản lý tài nguyên nước.

Nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước

Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước.

Bình Dương hiện có 28 KCN với tổng diện tích 9.073 ha và 8 CCN với tổng diện tích 600 ha. Các khu, CCN này đã phát huy hiệu quả, góp phần thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

Với quá trình phát triển công nghiệp, đô thị hóa và sự gia tăng dân số diễn ra nhanh trong thời gian qua đã gây sức ép lên nguồn tài nguyên nước. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt đã xảy ra trên sông Sài Gòn, sông Thị Tính và các kênh, rạch nhánh.

Đồng thời, dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tình trạng thiếu nước vào mùa khô đã xảy ra tại các huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo, Bắc Tân Uyên và tình trạng ngập úng vào mùa mưa đã diễn tại một số khu vực ven sông Sài Gòn, sông Thị Tính,…

Như vậy, quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa đã làm cho Bình Dương phải đối mặt với áp lực đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội. Đây là bài toán không chỉ cho riêng tỉnh Bình Dương mà còn là cho các tỉnh, thành thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai.

Trước thực trạng trên, để đảm bảo nguồn tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội bền vững trong thời gian tới, Bình Dương sẽ tập trung triển khai thực hiện theo Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 – 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

Qua đó, sẽ kịp thời điều hòa, phân bổ, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên nước; đồng thời, phòng chống tác hại do nước gây ra dưới tác động của quá trình biến đổi khí hậu… góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh.

Bài & ảnh: Tường Tú

(TN&MT) – Nhằm phân bổ và bảo vệ tài nguyên nước (TNN), hạn chế tới mức thấp nhất các nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước, đảm bảo an ninh về nước cho kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, năm 2017 Long An đã lập và triển khai Quy hoạch TNN mặt tỉnh Long An đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

Đảm bảo nhu cầu sử dụng nước

Quy hoạch TNN mặt tỉnh Long An đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 là định hướng, cơ sở cho công tác quản lý, thẩm định, cấp phép và triển khai thực hiện các quy hoạch chuyên ngành, các dự án hỗ trợ đầu tư có liên quan đến việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển TNN; bảo đảm cung cấp nước đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Mục tiêu của Quy hoạch là nhằm phân bổ, chia sẻ nguồn nước đảm bảo hài hòa giữa các lợi ích, ưu tiên nguồn nước cấp cho ăn uống sinh hoạt và sản xuất công nghiệp có giá trị cao, tiêu tốn ít nước và cho sản xuất nông nghiệp; khai thác, sử dụng nước phải đi đôi với bảo vệ nguồn nước, hạn chế tới mức thấp nhất các nguy cơ ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước.

Cụ thể, quản lý, bảo vệ để bảo đảm có thể khai thác hiệu quả, ổn định, lâu dài nguồn nước mặt với tổng lượng có thể khai thác khoảng 20.509 triệu m3/năm ứng với những năm trung bình nước (tần suất 50%) và khoảng 15.391 triệu m3/năm đối với những năm ít nước (tần suất 85%).

Đồng thời, quản lý, bảo vệ nguồn nước, xây dựng công trình để khai thác nước đáp ứng cho sinh hoạt và các nhu cầu khác trên phạm vi toàn tỉnh Long An đến năm 2020 đạt khoảng  2.809  triệu  m3/năm, đến  năm  2025  đạt  khoảng  2.722  triệu m3/năm và đến 2035 đạt khoảng 2.914 triệu m3/năm.

Theo nội dung Quy hoạch, tỉnh Long An được phân chia thành 5 tiểu vùng quy hoạch: Tiểu vùng Thượng sông Vàm     Cỏ Tây, Tiểu vùng Dương Văn Dương – Vàm Cỏ Tây, Tiểu vùng Thượng sông Vàm Cỏ Đông, Tiểu vùng Hạ sông Vàm Cỏ Tây và Tiểu vùng sông Cần Giuộc.

Trong điều kiện bình thường, tổng lượng nước mặt có thể khai thác sử dụng trong vùng quy hoạch ở thời điểm hiện tại khoảng 20.509 triệu m3/năm, đến năm 2020 khoảng 21.532 triệu m3/năm, đến năm 2025 khoảng 21.576 triệu m3/năm và đến năm 2035 khoảng 22.585 triệu m3/năm

Dự báo nhu cầu sử dụng nước cho các ngành, lĩnh vực khác nhau phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Long An đến năm 2020 khoảng 2.809 triệu m3/năm, đến năm 2025 khoảng 2.722 triệu m3/năm và đến năm 2035 khoảng 2.914 triệu m3/năm.

Để đảm bảo tính bền vững, linh hoạt, đảm bảo sự đồng thuận của các ngành sử dụng nước và chủ động ứng phó với các tình huống không lường trước do biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế – xã hội trung và dài hạn, Long An sẽ tập trung phân bổ nguồn nước cho các ngành trong các kỳ quy hoạch.

Theo đó, trong điều kiện bình thường, đáp ứng nhu cầu nước cho mục đích sinh hoạt, cấp nước tưới, sản suất công nghiệp. Trong trường hợp hạn hán, thiếu nước, đảm bảo đủ 100% nhu cầu sử dụng nước cho mục đích sinh hoạt và đáp ứng tối đa khả năng của nguồn nước cho các mục đích khác.

Long An ưu tiên phân bổ theo các mục đích sử dụng nước chính như: nước cho sinh hoạt; nước cho công nghiệp; nước cho nông nghiệp (tưới và chăn nuôi); nước cho nuôi trồng thủy sản; nước phục vụ dịch vụ, du lịch; nước phục vụ giao thông thủy; nước dành cho mục đích bảo tồn giá trị văn hóa, lịch sử, cải tạo môi trường.

Nguyên tắc bảo vệ TNN trong vùng quy hoạch, bảo vệ TNN lấy phòng ngừa là chính, bảo vệ chất lượng nước, hệ sinh thái thủy sinh, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa, cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ chất lượng nước gắn với mục địch sử dụng nước, ưu tiên nguồn nước có tầm quan trọng để ổn định an sinh xã hội…

Giải pháp bảo vệ và phát triển

Để thực hiện hiệu quả Quy hoạch TNN mặt tỉnh Long An đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, Long An sẽ tập trung triển khai các giải pháp: tăng cường công tác bảo vệ TNN, đặc biệt đối với các nguồn nước đang gia tăng về khai thác, sử dụng và tiếp nhận nguồn nước thải; thực hiện các biện pháp phòng, chống ô nhiễm, bảo vệ, phát triển bền vững TNN.

Khi lập quy hoạch và phê duyệt các quy hoạch đô thị, khu dân cư, khu du lịch, khu vui chơi, giải trí, khu công nghiệp, khu kinh tế,…, yêu cầu phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải phù hợp với quy mô xả nước thải, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước khi phê duyệt quy hoạch.

Đặc biệt, tại những khu vực có sử dụng nước mặt cấp cho sinh hoạt, tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp, đầu nguồn các sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây thì không đưa vào quy hoạch và không cấp phép ngành nghề có khả năng gây ô nhiễm môi trường và trong các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất.

Ưu tiên thực hiện các kế hoạch điều tra cơ bản đối với những vùng, những khu vực có nguy cơ ô nhiễm, khu vực khan hiếm nguồn nước và đang có nhu cầu khai thác tăng cao như: Tiểu vùng Cần Giuộc; Tiểu vùng  Thượng Vàm Cỏ Đông; Tiểu vùng Hạ Vàm Cỏ Tây.

Thanh tra, kiểm tra định kỳ hoạt động khai thác sử dụng nước và xả nước thải vào các nguồn nước, đặc biệt là khu vực có hoạt động sản xuất công nghiệp; yêu cầu thực hiện nghiêm túc các giải pháp bảo vệ môi trường, nhất là khai thác, sử dụng nước, xả nước thải trong các kế hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án sản xuất kinh doanh đã được phê duyệt.

Triển khai kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu để phòng, chống, giảm nhẹ các tác động của hạn hán, xâm nhập mặn; xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xử lý nước thải, chất thải gây ô nhiễm môi trường để bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ nguồn nước nói riêng.

Xây dựng các trạm, hệ thống cấp nước sinh hoạt theo tiêu chuẩn cấp nước sạch của Bộ Y tế để cấp nước sinh hoạt; xây dựng thêm các hồ chứa nước mặt có dung tích lớn trữ nước mặt để cấp nước sinh hoạt và chống hạn nông nghiệp vào mùa khô (hiện Long An đã có 1 dự án đang được nghiên cứu ở giai đoạn tiền khả thi tại xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường với diện tích dự kiến 100 ha).

Ứng dụng các công nghệ hiện đại trong quản lý, phân tích, đánh giá, giám sát tài nguyên nước như: định vị vệ tinh toàn cầu (GPS) kết hợp với các công cụ ứng dụng hệ thống thông tin địa lý, công nghệ khảo sát địa vật lý, công nghệ phân tích ảnh viễn thám; sử dụng công nghệ quan trắc và truyền số liệu kỹ thuật số tự động từ các trạm quan trắc về trung tâm quản lý dữ liệu.

Tăng cường huy động các nguồn lực để quản lý, bảo vệ nguồn nước, huy động từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước bao gồm cả Trung ương và địa phương, kết hợp huy động nguồn lực của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ và sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, từng bước thực hiện xã hội hoá công tác quản lý, khai thác và bảo vệ TNN.

Thực hiện chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư khai nước để giải quyết nước sinh hoạt, sản xuất cho nhân dân những khu vực vùng khan hiếm nước, vùng ảnh hưởng của xâm nhập mặn và vùng có điều kiện phát triển kinh tế – xã hội khó khăn; có giải pháp, quy định cụ thể khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến để quản lý, bảo vệ phát triển nguồn nước.

Xây dựng và thực hiện lồng ghép các nhiệm vụ liên quan đến bảo vệ và phát triển nguồn nước như: xây dựng các đê, cống ngăn mặn, lưu trữ nước ngọt; xây dựng hệ thống xử lý nước thải đối với các khu đô thị, khu dân cư và khu, cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung…

Nguồn kinh phí để thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm phục vụ công tác quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển TNN dự kiến khoảng 47,2 tỷ đồng. Trong đó, phân theo các giai đoạn: kinh phí thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2025 khoảng 17,2  tỷ đồng, kinh phí thực hiện trong giai đoạn 2026 – 2035 khoảng 30 tỷ đồng.

Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường Long An cho biết: Long An là tỉnh có tiềm năng nguồn nước, tuy nhiên theo dự báo đến năm 2020 bắt đầu có hiện tượng thiếu nước, nguồn nước mặt phân bố không đều theo không gian và thời gian, đòi hỏi phải có biện pháp phân bổ nguồn nước hợp lý, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của các ngành. Vì vậy, “Quy hoạch tài nguyên nước mặt tỉnh Long An đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035” sẽ đóng góp những yếu tố tích cực về kinh tế – xã hội, phục vụ cho các ngành liên quan đến quy hoạch và khai thác sử dụng nước, phục vụ công tác bảo vệ nguồn nước trước nguy cơ gây ô nhiễm, cạn kiệt, suy thoái nguồn nước trên địa bàn tỉnh Long An.

Tường Tú

Qua kiểm tra cho thấy, hàm lượng arsen trong các mẫu nước lấy từ công trình cấp nước tập trung đều vượt từ 2 – 7 lần giới hạn cho phép. Kết quả kiểm nghiệm mẫu nước tiểu của người dân trong vùng cho thấy tỷ lệ người nhiễm arsen rất cao.

Nguồn nước tại xã Đức Xuyên bị nhiễm arsen khiến người dân hoang mang.
Nguồn nước tại xã Đức Xuyên bị nhiễm arsen khiến người dân hoang mang.

Hầu hết nguồn nước đều nhiễm arsen

Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Đắk Nông vừa công bố kết quả xét nghiệm chất lượng nước tại công trình cấp nước tập trung xã Đức Xuyên, huyện Krông Nô (Đắk Nông). Kết quả này cho thấy nồng độ arsen trong các mẫu nước đều vượt giới hạn cho phép từ 2 – 7 lần, có mẫu vượt tới 20 lần so với quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT).

Theo Trung tâm Y tế dự phòng Đắk Nông, không chỉ nước tại công trình cấp nước sinh hoạt mà hầu hết nguồn nước sinh hoạt tại xã Đức Xuyên đều bị nhiễm arsen. Các mẫu nước lấy ở các giếng khoang, giếng đào… từ nhiều độ sâu khác nhau (từ 5 – trên 50m) đều ghi nhận nhiễm arsen.

Trước tình trạng này, ngành y tế Đắk Nông đã tổ chức khám sức khỏe miễn phí cho người dân xã Đức Xuyên, đồng thời lấy 350 mẫu nước tiểu gửi đi xét nghiệm. Hiện đơn vị kiểm nghiệm đã gửi về 35 mẫu đầu tiên trong đó cho thấy, có tới 32 mẫu có hàm lượng arsen vượt ngưỡng an toàn cho phép (tỷ lệ đến hơn 91%), trong đó cao nhất gần 8 lần. Về kết quả lâm sàng, đến nay chưa ghi nhận có trường hợp có biểu hiện rõ rệt của tình trạng bệnh lý do do nhiễm arsen cấp và mãn tính gây nên.

Ông Nguyễn Hùng, Phó Chủ tịch UBND xã Đức Xuyên cho biết, sau khi có kết quả nước bị nhiễm arsen, UBND xã Đức Xuyên đã cho súc rửa, cải tạo hệ thống lọc và tiến hành dọn dẹp, vệ sinh môi trường xung quanh công trình cấp nước.

Chính quyền cũng thông báo rộng rãi đến Ban Tự quản các thôn và trên hệ thống truyền thanh của xã, khuyến cáo người dân hạn chế sử dụng nguồn nước trực tiếp từ công trình cấp nước tập trung trong khi chờ đợi các cơ quan chức năng xử lý, cũng như nước các giếng khoan, giếng đào tại mỗi hộ gia đình, và nên sử dụng nước mưa, nước đã qua hệ thống lọc… Nhiều người dân tại xã Đức Xuyên hiện cũng chuyển sang dùng nước mưa hoặc mua nước bình để phục vụ ăn, uống.

Trong khi đó công trình cấp nước sạch lại bị lãng quên.
Trong khi đó công trình cấp nước sạch lại bị lãng quên.

Công trình 16 tỷ bị lãng quên

Theo tìm hiểu của chúng tôi, công trình cấp nước tập trung tại xã Đức Xuyên có tổng vốn đầu tư lên đến hơn 16 tỷ đồng, được thiết kế, xây dựng để cấp nước sạch cho gần 3.500 nhân khẩu (thực tế toàn xã chỉ có 1.500 nhân khẩu).

Kết quả phân tích mẫu nước tại công trình thời điểm đầu và cuối năm 2014 cho thấy cho thấy các tiêu chí đều đạt so với quy định. Tuy nhiên từ đó đến nay, đơn vị quản lý công trình nước sạch này không tổ chức lấy mẫu kiểm nghiệm thường xuyên. Theo Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Đắk Nông, việc này đã vi phạm Nghị định số 76/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực y tế.

Ông Hồ Quốc Sử, nhân viên vận hành nhà máy nước cho biết, thực tế thời gian qua nhiều hạng mục của công trình xử lý nước đã bị hỏng, không hoạt động hoặc hoạt động không thường xuyên từ tháng 4.2015. Trong đó, hệ thống bơm khử trùng (châm clo) và hệ thống đánh phèn (lắng cặn) đều không hoạt động và đã bị hư hỏng từ lâu.

Ông Sử cho rằng đây là hai hệ thống quan trọng đối với quá trình xử lý nước, vì có tác dụng khử trùng, vi sinh vật trong nước và lắng cặn, kết tủa sắt. Tổ quản lý nước đã nêu ý kiến với các đơn vị liên quan nhiều lần về vấn đề này nhưng lần nào cũng chỉ được trả lời là… “chờ đã, sẽ xử lý sau”.

Theo kết quả kiểm tra của Ban Quản lý dự án huyện Krông Nô, ngoài hệ thống khử trùng và hệ thống đánh phèn hư hỏng, không hoạt động, thì các hạng mục khác của công trình nước sạch này như: bể lắng, bể chứa đều không được súc rửa, vệ sinh nên đều không đạt yêu cầu.

Theo Trung tâm Y tế dự phòng Đắk Nông, không chỉ không thường xuyên đánh giá chất lượng nước, mà người trực tiếp vận hành hệ thống xử lý nước cũng  không được tập huấn, hướng dẫn về cấp nước an toàn cũng như nguyên lý vận hành công trình. Nhiều hạng mục liên quan trực tiếp đến quá trình xử lý nước không hoạt động, hư hỏng và mất vệ sinh…

Ông Nguyễn Hùng, Phó Chủ tịch UBND xã Đức Xuyên thừa nhận, sau bàn giao, cả đơn vị thi công, đơn vị chủ đầu tư đều chưa tổ chức tập huấn, chỉ dẫn về việc vận hành cho nhân viên tổ quản lý nước. Riêng đối với máy sục clo do bị hư đã lâu nên nhân viên trạm đổ thẳng clo vào bể chứa. Quá trình xử lý nước bị khuyết nhiều công đoạn, không tuân thủ quy trình xử lý theo thiết kế, xây dựng ban đầu.

Theo Ban Quản lý Dự án huyện Krông Nô, đơn vị chủ đầu tư, đã hoàn thành các thủ tục bàn giao cho đơn vị quản lý sử dụng là UBND xã Đức Xuyên và công trình được bảo hành 12 tháng theo quy định. Đơn vị cũng chỉ dẫn ban đầu cho Tổ quản lý nước. Việc tập huấn chưa thực hiện được là do chưa có lớp tập huấn (do cấp trên tổ chức) nên chưa gửi đi được.

Theo ngành chức năng tỉnh Đắk Nông, độc tính của arsen đối với con người là rất cao. Nếu ăn, uống phải lượng arsen từ 0,3 – 30mg sẽ xảy ra ngộ độc cấp tính trong vòng 30 – 60 phút, có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại nhiều di chứng nghiêm trọng, lâu dài. Khi sử dụng nguồn nước bị nhiễm arsen để ăn, uống có khả năng nhiễm độc arsen mãn tính, gây hại đến nhiều cơ quan như thần kinh, tim mạch, tiêu hóa, khả năng ung thư rất cao.

Theo Dân Việt

(TN&MT) – Do thiếu vốn, nhà máy nước sạch được đầu tư hơn 30 tỷ tại xã Hải Chánh (huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) “đắp chiếu” nhiều năm nay. Điều này không chỉ lãng phí tài nguyên đất mà còn khiến các hộ dân thiếu nước sinh hoạt một cách trầm trọng…

Công trình hơn 30 tỉ bỏ hoang

Theo tìm hiểu, công trình hệ thống cấp nước tại xã Hải Chánh (huyện Hải Lăng) có tổng vốn đầu tư hơn 30 tỉ đồng. Trong đó 19 tỉ từ vốn ngân sách, 3 tỉ đồng từ nguồn vốn của Công ty Cổ phần nước sạch Quảng Trị và 8,3 tỉ đồng còn lại là nguồn vốn viện trợ của Chính phủ Ý theo văn bản hợp tác tài trợ với Chính phủ Việt Nam. Mục tiêu đầu tư của dự án nhằm đảm bảo cấp nước sinh hoạt cho khoảng hơn 1.500 hộ dân thuộc xã Hải Chánh, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt cho bà con.

Vì chưa bố trí được nguồn vốn nên phải đến đầu năm 2014, dự án được điều chỉnh lại và bắt đầu thi công. Theo phản ánh của người dân địa phương, công trình khởi động cùng lúc với cầu vượt đường sắt trên tuyến QL1A, nhưng đến nay công trình trên đã đưa vào sử dụng, trong khi dự án nước sạch thi công được một số hạng mục rồi “án binh bất động” khoảng giữa năm 2015 đến nay.

Nhà máy nước sạch đã xây dựng gần như hoàn thiện các hạng mục hạ tầng cơ bản gồm nhà điều hàng, trạm bơm, công trình thu, bể xử lý bùn… diện tích khoảng 1ha, có tường rào kiên cố bao quanh. Từ khi bị ngưng trệ thì công trình không ai trông nom, rơi vào tình trạng bỏ hoang.

Theo quan sát của PV, khi đi qua cổng chính thì nhà máy được rào tạm thời bằng tre, không một bóng người nên trâu bò tự do ra vào, phóng uế bừa bãi. Trong các khu nhà, phân gia súc chất đầy dưới nền, bốc mùi hôi thối nông nặc…

Xung quanh khuôn viên thì cát đá vung vãi, cỏ dại mọc quá đầu người. Các hạng mục mới xây xong phần thô chưa được tô vữa, chưa có nền nhà và cửa và xuống cấp dần theo thời gian. Tại khu vực công trình thu và trạm bơm, bể xử lý bùn… cũng xây dựng gần xong nhưng không hề có nước, chỉ đọng lại ít nước mưa.

Bà Phạm Thị Huê (60 tuổi, sống gần công trình) cho rằng, lúc đầu thấy xây dựng nhà máy, nhiều bà con trong thôn phấn khởi và hi vọng sẽ có nước sạch sử dụng, nhiều nhà không khoan giếng để đợi nhà máy xây xong cung cấp nước cho bà con sử dụng. “Mấy năm nay mãi chỉ thấy công trình bị bỏ hoang không có ai trông nom, cỏ mọc um tùm. Không biết đến khi nào chúng tôi mới có nước sạch để dùng nữa, uổn quá…”, bà Huê xót xa nói.

Dân “khát” nước sạch

Ngay chính diện vách tường của toà nhà điều hành bị bỏ hoang có dòng chữ lớn: “Nhà máy đắp chiếu, vốn đâu?”. Câu hỏi ấy đã phần nào nói lên sự trăn trở của người dân địa phương.

Toàn bộ xã Hải Chánh có hơn 1.700 hộ gia đình với hơn 9.200 nhân khẩu nhưng hiện nay vẫn chưa có nguồn nước sạch để cung cấp cho người dân, đa số dân ở đây sử dụng nước bị nhiễm phèn.

Theo người dân Hải Chánh, cứ vào mỗi mùa hè (từ tháng 6- 9), vùng quê này rơi vào tình trạng khan hiếm nước một cách nghiêm trọng. Người dân nhiều khi phải vào tận huyện Phong Điền (tỉnh Thừa Thiên Huế) để mua nước sạch phục vụ cho ăn uống, còn sinh hoạt phải sử dụng nước sông, nước giếng tự đào. Biết là sử dụng nước bẩn có nguy cơ mắc bệnh nhưng vì nước sạch khan hiếm nên người dân nơi đây đành chấp nhận.

Bà Đoàn Thị Hạnh (79 tuổi, đội 9, thôn Mỹ Chánh, xã Hải Chánh) chia sẻ: “Nước ở đây thì hầu như bị nhiễm phèn, giờ không có nước sạch nên cũng phải dùng nước nhiễm phèn thôi. Chúng tôi cũng mong sao chính quyền địa phương nhanh chóng có giải pháp cung cấp nước sạch cho bà con yên tâm sinh sống…”.

Trao đổi với PV, ông Hồ Đình Thái- Chủ tịch xã Hải Chánh cho biết, ngoài 300 hộ dân thôn Mỹ Chánh không có nước sinh hoạt thường trực trong thời gian khoảng 6 tháng/năm, thì toàn xã có 8/11 thôn thiếu nước sạch sinh hoạt, phần do giếng đào không có nước, phần do nước giếng đào sâu bị nhiễm phèn, đục…

“Qua các kỳ họp, chính quyền xã cũng nhiều lần đề bạt ý kiến lên cấp trên với mong muốn công trình sẽ sớm hoàn thiện để cung cấp nước sạch cho bà con vì rất cấp thiết. Tuy nhiên, phía xã không phải là đơn vị quản lý nên cũng không biết khi nào công trình này mới hoàn thành…”, ông Thái cho hay.

Theo thông tin từ chủ đầu tư dự án là Công ty Cổ phần Nước sạch Quảng Trị thì theo hợp đồng, phía Chính phủ Italia sẽ tài trợ phần vật tư như đường ống, các thiết bị công nghệ cho nhà máy. Tuy nhiên, hiện phần vốn tài trợ này vẫn chưa được Bộ Tài chính phân bổ cho Quảng Trị nên chưa thể hoàn thiện các hạng mục khác. Riêng phần vốn hơn 22 tỷ đồng còn lại hiện cũng chỉ mới bố trí giải ngân được hơn 7,5 tỷ đồng. Đó là lý do vì sao việc thi công phải tạm dừng giữa chừng suốt thời qua.

Được biết, ngày 23/6/2017, UBND tỉnh Quảng Trị đã  ra công văn số 2734 đồng ý trong lúc chờ ý kiến Bộ Tài chính về việc thực hiện gói thầu mua sắm thiết bị do chính phủ Italia tài trợ, UBND tỉnh cho phép công ty Cổ phần Nước sạch Quảng Trị tái cấu trúc lại nguồn vốn thực hiện công trình hệ thống cung cấp nước sạch xã Hải Chánh.

Như đã đề xuất với Sở Kế hoạch và Đầu tư, công ty cổ phần nước sạch Quảng Trị hoàn chỉnh hồ sơ từ các cấp và thẩm quyền kiểm định điều chỉnh dự án làm cơ sở để triển khai dự án. Trong trường hợp chính phủ Italia không gia hạn kiểm định đồng nghĩa với việc nhà đầu tư này không cấp vốn. UBND tỉnh Quảng Trị cho phép Công ty Cổ phần nước sạch Quảng Trị sử dụng nguồn lợi tức cổ phần nhà nước (năm 2016/2017) do công ty nộp vào ngân sách để cấp vốn thi công các hạng mục còn lại nhằm hoàn thiện, đưa công trình vào hoạt động.

Bài, ảnh: Văn Dinh

(TN&MT) – Đó là sự chuyển biến trong thực thi các giải pháp sử dụng nước thông minh, nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo, ứng dụng giống để chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, duy trì, phát triển nghề trồng lúa nước kết hợp nuôi thủy sản, thích ứng với điều kiện xâm nhập mặn do tác động “kép” từ biến đổi khí hậu và tình hình thủy văn trên dòng Mê Công ngày càng phức tạp ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)…

Xâm nhập mặn tấn công vựa lúa…

Dẫu rằng còn nhiều trăn trở song nghề trồng lúa nước đã thành truyền thống, cái nôi văn hóa của cư dân châu thổ Cửu Long từ bao đời. Cây lúa đã và đang nuôi sống 18 triệu người sở tại, hơn 90 triệu con dân nước Việt và góp phần chống đói cho hàng triệu người trên thế giới. Tác động kép đã và sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến vùng đất 40.000km2 này cũng tức là đe dọa đến 1/5 lượng gạo thương mại quốc tế, đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức trong và ngoài nước.

Tại Hội nghị khoa học quy hoạch vùng ĐBSCL mới đây, Thứ trưởng Bộ TN&MT Chu Phạm Ngọc Hiển, đã bày tỏ quan ngại khi trong số 1,7 triệu ha đất nông nghiệp ở ĐBSCL đã có gần 700.000ha bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn và theo kịch bản BĐKH, đến cuối thế kỷ này, 40% diện tích ĐBSCL sẽ ngập gây ảnh hưởng trực tiếp tới gần 55% dân số trong vùng. Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ TN&MT), cũng đưa ra những con số chi tiết: Trong vòng 50 năm tới xâm nhiễm mặn 4%0 sẽ chiếm 47%, nhiễm mặn trên 1%0 sẽ chiếm 64% tổng diện tích vùng ĐBSCL.

“Tình trạng xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt sẽ ngày càng đi sâu hơn vào đất liền là một thực tế không cưỡng lại thiên nhiên được” – Giáo sư Võ Tòng Xuân, khẳng định. Trong khi đó, nông nghiệp hiện đang sử dụng 70% lượng tiêu thụ nước, bình quân 1kg thóc sử dụng tới 5m3 nước ngọt. Do đó, cùng với việc điều chỉnh, củng cố hệ thống thủy lợi hợp lý thì thực thi các giải pháp sử dụng nước thông minh và chọn lọc, lai tạo, ứng dụng các loại giống lúa mới có khả năng kháng hạn, ngập, mặn, nóng là nhu cầu bức thiết để vùng ĐBSCL duy trì phát triển bền vững nghề sản xuất lúa nước.

Các loại giống chịu hạn mặn được Viện lúa ĐBSCL nghiên cứu lai tạo thành công, tổ chức gian hàng triển lãm trong khuôn khổ Tuần lễ An ninh lương thực APEC diễn ra tại Cần Thơ
Các loại giống chịu hạn mặn được Viện lúa ĐBSCL nghiên cứu lai tạo thành công, tổ chức gian hàng triển lãm trong khuôn khổ Tuần lễ An ninh lương thực APEC diễn ra tại Cần Thơ

Cải tiến các giải pháp sử dụng nước thông minh…

Kiến giải vấn đề này, GS. Bùi Chí Bửu (nguyên Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL) cho rằng, phải cải tiến giống lúa thích ứng với BĐKH và cơ bản nhất vẫn là giải pháp thủy lợi trong quản lý nước ngọt; cộng thêm những kỹ thuật canh tác khôn ngoan và hệ thống canh tác (rice-based farming systems) linh hoạt cùng với sự chỉ đạo chặt chẽ thời vụ gieo trồng trên cơ sở dự báo thủy văn, đặc biệt thời điểm xâm nhập mặn nghiêm trọng.

“Trong thời điểm nước mặn xâm nhập vẫn có thể lấy được nước ngọt lúc thủy triều thấp ở ĐBSCL, tại một số địa điểm nhất định. Tận dụng hệ thống kênh mương chằng chịt có thể tạo nên các bễ dự trữ nước ngọt (water reservoirs) cho từng địa phương (trên cơ sở nghiên cứu khoa học), để giữ mực thủy cấp trong đồng ruộng, không cho tụt xuống sâu hơn tầng sinh phèn (pyrite), tăng cường quản lý biện pháp “ém phèn” trong mùa khô kiệt” – Gs Bùi Chí Bửu, nhấn mạnh.

Cũng theo GS. Bùi Chí Bửu, việc chấp hành tốt khuyến nghị của Cục Trồng trọt về lịch thời vụ gieo trồng mùa vụ Đông – Xuân là yếu tố mang tính chất quyết định, để giảm thiểu rủi ro ảnh hưởng xâm nhập mặn và khô hạn. Làm đúng nguyên tắc “một phải, năm giảm” là yếu tố thứ hai làm giảm thiểu rủi ro, tiết kiệm rất lớn nguồn tài nguyên nước ngọt. Trong nguyên tắc ấy có một nguyên tắc tiết kiệm nước tưới theo kỹ thuật “Tưới ngập khô xen kẽ” (AWD).

“Thay vì sử dụng 5m3 nước để sản xuất ra 1 kg thóc; kỹ thuật này giúp nông dân chỉ cần sử dụng 2 – 3 m3 nước. Nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng trồng lúa trong điều kiện canh tác không ngập nước (aerobic), với việc quản lý cỏ dại, phân bón bằng kỹ thuật tương thích và sử dụng giống lúa thích nghi có hệ thống rễ cải tiến” – Gs.  Bùi Chí Bửu nói.

Nghiên cứu, ứng dụng giống lúa thích ứng…

GS. Bùi Chí Bửu khuyến cáo nên ứng dụng các loại giống lúa có khả năng thích ứng với điều kiện hạn, mặn, ngập và nóng trong điều kiện tác động của BĐKH mà Viện lúa ĐBSCL đã tập trung nghiên cứu, lai tạo, tuyển chọn thành công. Điển hình, một số loại giống lúa thích nghi với khô hạn ở giai đoạn mạ, gồm có OM6162, OM7347, OM7341, OM7345, OM8900; giống lúa cao sản chống chịu mặn ở giai đoạn mạ, gồm có OM 5629, OM8108, OM6600, OM 90L, OM 8104, OM6328, OM 6677, OM 6377, OM 2395, OM 10252 và MNR4, OM 4900, OM 6162.

Ứng dụng giống lúa mới, tạo năng suất cao
Ứng dụng giống lúa mới, tạo năng suất cao

Cùng với Viện lúa ĐBSCL, thời gian qua Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng – Trường Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu, lai tạo, thực nghiệm thành công những giống lúa có thể chịu được mức xâm nhiễm mặn lên tới 10‰ và chịu được phèn. Theo PGS. TS Võ Công Thành, các lúa giống siêu chịu mặn này do các chuyên gia của Trường chọn lọc từ hàng trăm giống lúa cổ (thời gian sinh trưởng 180 ngày) thu thập được ở các vùng đất ngập nước ven biển thuộc các tỉnh ĐBSCL rồi nghiên cứu, cải tiến thành lúa cao sản (100 – 120 ngày).

Các loại giống chịu mặn của Đại học Cần Thơ đã được trồng khảo nghiệm nhiều năm tại trường, trồng thí điểm tại một số địa phương ven biển như huyện Cái Nước (Cà Mau), huyện Tân Phú Đông (Tiền Giang) chỉ cách Biển Đông khoảng 500m và các huyện Cần Đước, Châu Thành, Tân Trụ (Long An) trong điều kiện độ mặn giao động từ 8 – 10‰, cho năng suất ổn định, trên 4 tấn lúa khô/ha.

Nhân rộng mô hình lúa – thủy sản

Các loại giống lúa thích ứng điều kiện hạn mặn là điều kiện thuận lợi ứng dụng để thực hiện nhân rộng mô hình lúa – thủy sản ở các địa phương vùng ven biển vùng ĐBSCL. Thực tế, nông dân các địa phương ven biển vùng ĐBSCL đã có kinh nghiệm trồng lúa xen nuôi thủy sản – đặc biệt là nuôi tôm từ mấy chục năm qua. Thống kê của các cơ quan chức năng địa phương vùng bán đảo Cà Mau cho thấy, trong khoảng 17 năm gần đây, diện tích sản xuất theo mô hình lúa – tôm tiểu vùng này không ngừng gia tăng. Cụ thể, ở tỉnh Kiên Giang tăng từ 20.000ha lên trên 60.000ha, tỉnh Cà Mau tăng từ 15.000ha lên trên 25.000ha, tỉnh Bạc Liêu tăng từ 10.000ha lên trên 21.000ha. Mức lợi nhuận bình quân từ trồng lúa xen nuôi tôm đạt gần 30 triệu đồng/ha/năm.

Báo cáo của Tổng cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT) tháng 3/2017 cho biết, tiến độ thả nuôi tôm nước lợ nhanh hơn so với cùng kỳ năm ngoái, đặc biệt là tôm nuôi quản canh, quản canh cải tiến và nuôi tôm lúa. Vào thời điểm đó, các địa phương trong toàn vùng đã thả nuôi trên 536.400ha, sản lượng thu hoạch ước đạt trên 39.000 tấn, tăng 20% so cùng kỳ năm ngoái. Ước tính, năm nay, tổng diện tích tôm nước lợ toàn vùng sẽ đạt tới 700.000 ha, sản lượng đạt 660.000 tấn.

Việc bố trí một vụ lúa trong mùa mưa và khi dứt mưa thu hoạch lúa xong lúc ruộng lúa đang còn sình lầy, nông dân cho nước mặn lên ruộng để nuôi tôm, cá kèo, cua… tại các địa phương ven biển vùng ĐBSCL vốn thường xuyên bị nhiễm mặn trong mùa khô, theo GS. Võ Tòng Xuân là hoàn toàn phù hợp để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững vì lợi tức trên 3 lần lúa và không cần chống mặn bằng những biện pháp quá tốn kém.

Bài & ảnh: Hùng Long

(TN&MT) – Đó là sự chuyển biến trong thực thi các giải pháp sử dụng nước thông minh, nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo, ứng dụng giống để chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, duy trì, phát triển nghề trồng lúa nước kết hợp nuôi thủy sản, thích ứng với điều kiện xâm nhập mặn do tác động “kép” từ biến đổi khí hậu và tình hình thủy văn trên dòng Mê Công ngày càng phức tạp ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)…

Xâm nhập mặn tấn công vựa lúa…

Dẫu rằng còn nhiều trăn trở song nghề trồng lúa nước đã thành truyền thống, cái nôi văn hóa của cư dân châu thổ Cửu Long từ bao đời. Cây lúa đã và đang nuôi sống 18 triệu người sở tại, hơn 90 triệu con dân nước Việt và góp phần chống đói cho hàng triệu người trên thế giới. Tác động kép đã và sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến vùng đất 40.000km2 này cũng tức là đe dọa đến 1/5 lượng gạo thương mại quốc tế, đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức trong và ngoài nước.

Tại Hội nghị khoa học quy hoạch vùng ĐBSCL mới đây, Thứ trưởng Bộ TN&MT Chu Phạm Ngọc Hiển, đã bày tỏ quan ngại khi trong số 1,7 triệu ha đất nông nghiệp ở ĐBSCL đã có gần 700.000ha bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn và theo kịch bản BĐKH, đến cuối thế kỷ này, 40% diện tích ĐBSCL sẽ ngập gây ảnh hưởng trực tiếp tới gần 55% dân số trong vùng. Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ TN&MT), cũng đưa ra những con số chi tiết: Trong vòng 50 năm tới xâm nhiễm mặn 4%0 sẽ chiếm 47%, nhiễm mặn trên 1%0 sẽ chiếm 64% tổng diện tích vùng ĐBSCL.

“Tình trạng xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt sẽ ngày càng đi sâu hơn vào đất liền là một thực tế không cưỡng lại thiên nhiên được” – Giáo sư Võ Tòng Xuân, khẳng định. Trong khi đó, nông nghiệp hiện đang sử dụng 70% lượng tiêu thụ nước, bình quân 1kg thóc sử dụng tới 5m3 nước ngọt. Do đó, cùng với việc điều chỉnh, củng cố hệ thống thủy lợi hợp lý thì thực thi các giải pháp sử dụng nước thông minh và chọn lọc, lai tạo, ứng dụng các loại giống lúa mới có khả năng kháng hạn, ngập, mặn, nóng là nhu cầu bức thiết để vùng ĐBSCL duy trì phát triển bền vững nghề sản xuất lúa nước.

Các loại giống chịu hạn mặn được Viện lúa ĐBSCL nghiên cứu lai tạo thành công, tổ chức gian hàng triển lãm trong khuôn khổ Tuần lễ An ninh lương thực APEC diễn ra tại Cần Thơ
Các loại giống chịu hạn mặn được Viện lúa ĐBSCL nghiên cứu lai tạo thành công, tổ chức gian hàng triển lãm trong khuôn khổ Tuần lễ An ninh lương thực APEC diễn ra tại Cần Thơ

Cải tiến các giải pháp sử dụng nước thông minh…

Kiến giải vấn đề này, GS. Bùi Chí Bửu (nguyên Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL) cho rằng, phải cải tiến giống lúa thích ứng với BĐKH và cơ bản nhất vẫn là giải pháp thủy lợi trong quản lý nước ngọt; cộng thêm những kỹ thuật canh tác khôn ngoan và hệ thống canh tác (rice-based farming systems) linh hoạt cùng với sự chỉ đạo chặt chẽ thời vụ gieo trồng trên cơ sở dự báo thủy văn, đặc biệt thời điểm xâm nhập mặn nghiêm trọng.

“Trong thời điểm nước mặn xâm nhập vẫn có thể lấy được nước ngọt lúc thủy triều thấp ở ĐBSCL, tại một số địa điểm nhất định. Tận dụng hệ thống kênh mương chằng chịt có thể tạo nên các bễ dự trữ nước ngọt (water reservoirs) cho từng địa phương (trên cơ sở nghiên cứu khoa học), để giữ mực thủy cấp trong đồng ruộng, không cho tụt xuống sâu hơn tầng sinh phèn (pyrite), tăng cường quản lý biện pháp “ém phèn” trong mùa khô kiệt” – Gs Bùi Chí Bửu, nhấn mạnh.

Cũng theo GS. Bùi Chí Bửu, việc chấp hành tốt khuyến nghị của Cục Trồng trọt về lịch thời vụ gieo trồng mùa vụ Đông – Xuân là yếu tố mang tính chất quyết định, để giảm thiểu rủi ro ảnh hưởng xâm nhập mặn và khô hạn. Làm đúng nguyên tắc “một phải, năm giảm” là yếu tố thứ hai làm giảm thiểu rủi ro, tiết kiệm rất lớn nguồn tài nguyên nước ngọt. Trong nguyên tắc ấy có một nguyên tắc tiết kiệm nước tưới theo kỹ thuật “Tưới ngập khô xen kẽ” (AWD).

“Thay vì sử dụng 5m3 nước để sản xuất ra 1 kg thóc; kỹ thuật này giúp nông dân chỉ cần sử dụng 2 – 3 m3 nước. Nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng trồng lúa trong điều kiện canh tác không ngập nước (aerobic), với việc quản lý cỏ dại, phân bón bằng kỹ thuật tương thích và sử dụng giống lúa thích nghi có hệ thống rễ cải tiến” – Gs.  Bùi Chí Bửu nói.

Nghiên cứu, ứng dụng giống lúa thích ứng…

GS. Bùi Chí Bửu khuyến cáo nên ứng dụng các loại giống lúa có khả năng thích ứng với điều kiện hạn, mặn, ngập và nóng trong điều kiện tác động của BĐKH mà Viện lúa ĐBSCL đã tập trung nghiên cứu, lai tạo, tuyển chọn thành công. Điển hình, một số loại giống lúa thích nghi với khô hạn ở giai đoạn mạ, gồm có OM6162, OM7347, OM7341, OM7345, OM8900; giống lúa cao sản chống chịu mặn ở giai đoạn mạ, gồm có OM 5629, OM8108, OM6600, OM 90L, OM 8104, OM6328, OM 6677, OM 6377, OM 2395, OM 10252 và MNR4, OM 4900, OM 6162.

Ứng dụng giống lúa mới, tạo năng suất cao
Ứng dụng giống lúa mới, tạo năng suất cao

Cùng với Viện lúa ĐBSCL, thời gian qua Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng – Trường Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu, lai tạo, thực nghiệm thành công những giống lúa có thể chịu được mức xâm nhiễm mặn lên tới 10‰ và chịu được phèn. Theo PGS. TS Võ Công Thành, các lúa giống siêu chịu mặn này do các chuyên gia của Trường chọn lọc từ hàng trăm giống lúa cổ (thời gian sinh trưởng 180 ngày) thu thập được ở các vùng đất ngập nước ven biển thuộc các tỉnh ĐBSCL rồi nghiên cứu, cải tiến thành lúa cao sản (100 – 120 ngày).

Các loại giống chịu mặn của Đại học Cần Thơ đã được trồng khảo nghiệm nhiều năm tại trường, trồng thí điểm tại một số địa phương ven biển như huyện Cái Nước (Cà Mau), huyện Tân Phú Đông (Tiền Giang) chỉ cách Biển Đông khoảng 500m và các huyện Cần Đước, Châu Thành, Tân Trụ (Long An) trong điều kiện độ mặn giao động từ 8 – 10‰, cho năng suất ổn định, trên 4 tấn lúa khô/ha.

Nhân rộng mô hình lúa – thủy sản

Các loại giống lúa thích ứng điều kiện hạn mặn là điều kiện thuận lợi ứng dụng để thực hiện nhân rộng mô hình lúa – thủy sản ở các địa phương vùng ven biển vùng ĐBSCL. Thực tế, nông dân các địa phương ven biển vùng ĐBSCL đã có kinh nghiệm trồng lúa xen nuôi thủy sản – đặc biệt là nuôi tôm từ mấy chục năm qua. Thống kê của các cơ quan chức năng địa phương vùng bán đảo Cà Mau cho thấy, trong khoảng 17 năm gần đây, diện tích sản xuất theo mô hình lúa – tôm tiểu vùng này không ngừng gia tăng. Cụ thể, ở tỉnh Kiên Giang tăng từ 20.000ha lên trên 60.000ha, tỉnh Cà Mau tăng từ 15.000ha lên trên 25.000ha, tỉnh Bạc Liêu tăng từ 10.000ha lên trên 21.000ha. Mức lợi nhuận bình quân từ trồng lúa xen nuôi tôm đạt gần 30 triệu đồng/ha/năm.

Báo cáo của Tổng cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT) tháng 3/2017 cho biết, tiến độ thả nuôi tôm nước lợ nhanh hơn so với cùng kỳ năm ngoái, đặc biệt là tôm nuôi quản canh, quản canh cải tiến và nuôi tôm lúa. Vào thời điểm đó, các địa phương trong toàn vùng đã thả nuôi trên 536.400ha, sản lượng thu hoạch ước đạt trên 39.000 tấn, tăng 20% so cùng kỳ năm ngoái. Ước tính, năm nay, tổng diện tích tôm nước lợ toàn vùng sẽ đạt tới 700.000 ha, sản lượng đạt 660.000 tấn.

Việc bố trí một vụ lúa trong mùa mưa và khi dứt mưa thu hoạch lúa xong lúc ruộng lúa đang còn sình lầy, nông dân cho nước mặn lên ruộng để nuôi tôm, cá kèo, cua… tại các địa phương ven biển vùng ĐBSCL vốn thường xuyên bị nhiễm mặn trong mùa khô, theo GS. Võ Tòng Xuân là hoàn toàn phù hợp để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững vì lợi tức trên 3 lần lúa và không cần chống mặn bằng những biện pháp quá tốn kém.

Bài & ảnh: Hùng Long

(TN&MT) – Sống giữa lòng thành phố, thế nhưng nhiều năm qua gần 1000 hộ dân phường Đông Hải (TP. Thanh Hóa) vẫn phải dùng nước giếng khoan bị ô nhiễm. Nhiều hộ gia đình phải xây bể chứa nước mưa, nhưng cũng chỉ là phương án tạm thời, người dân vẫn đang từng ngày ngóng chờ nước sạch.

Người dân sinh sống tại 5 khu phố (Ái Sơn 1, Ái Sơn 2, Sơn Vạn, Xuân Minh, Xuân Lộc), phường Đông Hải (TP.Thanh Hóa) cho biết: Mặc dù dự án nước sạch được triển khai đã 2 năm, từng nhà dân đã được dẫn đường ống tới tận nhà, thế nhưng cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có nước sạch để dùng.

Được biết, dự án nước sạch tại phường Đông Hải được triển khai từ nguồn vốn của nhà nước đầu tư và người dân đóng góp. Dự án công trình hệ thống cấp thoát nước sinh hoạt cho 5 phố trên địa bàn phường Đông Hải được UBND thành phố Thanh Hóa phê duyệt ngày 22/1/2015 với tổng mức đầu tư ban đầu là hơn 8,3 tỷ đồng, thời hạn hoàn thành dự án ngày 30/7/2017.

Hiện đã có hơn 600/1000 hộ dân đóng phí ban đầu cho UBND phường Đông Hải với tổng số tiền hơn 2,2 tỷ đồng và UBND Thành phố hỗ trợ 1,5 tỷ đồng. Nhà thầu cũng đã tiến hành thi công lắp đặt 100% đường ống.

Bình nước inox của người dân mới mua sử dụng được 3 tháng đã bị hoen gỉ vì nước nhiễm phèn.
Bình nước inox của người dân mới mua sử dụng được 3 tháng đã bị hoen gỉ vì nước nhiễm phèn.

Mỗi hộ dân có nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt sẽ đóng góp từ 2 đến 4 triệu đồng. Mặc dù, tiền người dân đã đóng góp từ lâu, ai cũng khấp khởi hi vọng bỏ ra số tiền lớn sẽ được dùng nước sạch sinh hoạt đảm bảo vệ sinh; thế nhưng lại phải chờ đợi, mong ngóng, mòn mỏi chờ nước sạch từng ngày. Trong các cuộc tiếp xúc cử tri, người dân liên tục phản ánh, nhưng đã 2 năm trôi qua dự án vẫn dậm chân tại chỗ, nước sạch vẫn chưa về với người dân.

Ông Nguyễn Xuân Doãn, trú tại phố Sơn Vạn bức xúc: “Từ những năm 2015, lúc đến triển khai dự án, chính quyền và công ty công bố, cuối năm sẽ có nước sạch cho người dân. Tuy nhiên, nhiều năm nay chúng tôi vẫn phải mòn mỏi chờ đợi. Trong khi đó, dùng nước giếng rất nhiều phèn và đá vôi, rất dễ sinh bệnh sỏi và ung thư”.

Trong khi chờ đợi nước sạch, người dân phải xây tạm bể lắng để dùng, nhưng nhiều cặn bã không đảm bảo vệ sinh.
Trong khi chờ đợi nước sạch, người dân phải xây tạm bể lắng để dùng, nhưng nhiều cặn bã không đảm bảo vệ sinh.

Cùng chung những bức xúc đó, anh Lê Xuân Đức (34 tuổi, phố Sơn Vạn) chia sẻ: “Năm 2015, nhận được thông báo dự án nước sạch về địa phương, chúng tôi cũng đồng thuận đóng góp. Ngày dự án được triển khai chúng tôi rất phấn khởi, vui mừng vì sắp có nước sạch để dùng. Nhưng không hiểu sao đã 2 năm mà dự án vẫn chưa đưa vào hoạt động. Hiện nay, nước giếng khoan tại địa phương đã nhiễm phèn không thể sử dụng được, các thiết bị vệ sinh, vòi tắm sử dụng được một thời gian thì có dấu hiệu hoen rỉ. Sống giữa lòng thành phố nhưng lại khát nước sạch thật là trớ trêu…”

Trao đổi với PV, ông Nguyễn Trung Thành – Chủ tịch UBND phường Đông Hải cho biết: “Chúng tôi đã nhận được phản ánh của người dân. Hiện tại, nước sạch đã có và về từng đường ống. Nhưng vì nhà thầu thi công đã bỏ ra gần 10 tỷ đồng, trong khi nhà nước mới hỗ trợ được 30% tiền theo dự án, người dân đóng góp cũng chỉ được 600/1000 hộ.

Chúng tôi sẽ huy động người dân nhanh chóng đóng góp để đưa dự án đi vào hoạt động. Đồng thời, vận động nhà thầu hoàn thiện lắp đặt đồng hồ và đóng nước để người dân sử dụng – ông Thành cho biết thêm.

Người dân vẫn đang từng ngày trông chờ có nước sạch để sử dụng sinh hoạt cho đảm bảo. Bức xúc và liên tục phản ánh lên chính quyền địa phương cũng là nhu cầu chính đáng của họ.

Thanh Tâm

.
.

Bài viết mới nhất