Tài nguyên nước

(TN&MT) – Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Linh Ngọc đã chỉ đạo như vậy khi ông chủ trì cuộc họp Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ xác định Danh mục mở mới năm 2018 thuộc lĩnh vực tài nguyên nước diễn ra vào sáng 31/8, tại Hà Nội.

Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Linh Ngọc phát biểu tại cuộc họp. Ảnh CTTĐT
Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Linh Ngọc phát biểu tại cuộc họp. Ảnh CTTĐT

Phát biểu tại cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc đã nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc thực hiện các đề tài khoa học và công nghệ triển khai năm 2018 của lĩnh vực tài nguyên nước nhất là trong bối cảnh nhiễm mặn, hạn hán ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long đang ngày càng trở lên nghiêm trọng và khắc nghiệt, cần phải có những đề tài ứng dụng giải quyết những vấn đề thực tiễn đó.

Theo Thứ trưởng, trong các nhiệm vụ, đề tài được đề xuất triển khai cần phải được điều chỉnh, sửa chữa đảm bảo tính chất đề tài khoa học, trọng tâm quản lý nhà nước, điều tra cơ bản về lĩnh vực tài nguyên nước. Khi thực hiện, các sản phẩm của đề tài phải nêu bật được sự cần thiết ưu tiên phục vụ công tác quản lý nhà nước của ngành tài nguyên và môi trường. Đặc biệt cần xem xét tổng thể hài hòa giữa các đề tài thực hiện khi đứng chung với các đề tài thuộc các lĩnh vực khác nhằm tránh sự trùng lắp, gây lãng phí ngân sách khi triển khai.

Trước đó, báo cáo tại cuộc họp, ông Nguyễn Thạc Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ cho biết, trong những năm qua, hoạt động khoa học và công nghệ trong lĩnh vực tài nguyên nước đã được tích cực triển khai với nhiều đổi mới tích cực góp phần quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc đề xuất, xây dựng và hoàn thiện từng bước cơ chế, thể chế, chính sách quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Để tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công nghệ về lĩnh vực tài nguyên nước trong thời gian tới, danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ đề xuất triển khai năm 2018 thuộc lĩnh vực tài nguyên nước bám sát nội dung của Khung Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Bộ đối với lĩnh vực tài nguyên nước, tập trung vào các nhóm nhiệm vụ trọng tâm như: Ứng dụng được công nghệ thông tin, viễn thám, công cụ mô hình toán, tự động hóa và cải tiến công nghệ trong điều tra, đánh giá, dự báo, vận hành điều tiết nước, giám sát tài nguyên nước, kiểm soát các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; Xây dựng và nhân rộng các mô hình quản lý; sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; biện pháp trữ nước, bổ sung nhân tạo nước dưới đất; Nghiên cứu, cải tiến công nghệ phục vụ quản lý tổng hợp về tài nguyên nước; Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý; sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; biện pháp trữ nước, bổ sung nhân tạo nước dưới đất; …

Tại cuộc họp, ý kiến các đại biểu đóng góp đều nhất trí rằng danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ đề xuất triển khai năm 2018 thuộc lĩnh vực tài nguyên nước đã thể hiện rõ sự cần thiết để triển khai các nhiệm vụ, các mục tiêu, sản phẩm chính, địa chỉ sử dụng, ý nghĩa sử dụng rõ ràng. Đây chính là những cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng góp phần phục vụ đắc lực việc đề xuất, xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, thể chế, chính sách quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước trong thời gian tới.

PV

(TN&MT) – Nhiều điểm hút nước đầu vào để sản xuất nước sạch trên địa bàn tỉnh Hải Dương có cống xả thải, bến bãi sản xuất, kinh doanh, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản… là nguyên nhân gây ô nhiễm nước đầu vào để sản xuất nước sạch.

Nước đầu nguồn nhiều nơi ô nhiễm

Hiện nay, trên các tuyến sông lớn của tỉnh Hải Dương như các sông Thái Bình, Kinh Thầy, Đá Vách, sông Luộc…đang có trên 20 cơ sở sản xuất nước sạch cho cơ quan doanh nghiệp và người dân sử dụng. Trong vùng ranh giới bảo hộ, nhiều điểm có hàng loạt các công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, khu vực trồng trọt, chăn nuôi của doanh nghiệp, tổ chức và người dân đã tồn tại từ lâu gây ô nhiễm vùng nước đầu nguồn.

Khu vực vi phạm đáng lo ngại, tồn tại nhiều năm là 2 khu vực hút nước từ sông Thái Bình phục vụ cho 3 nhà máy sản xuất nước sạch (Nhà máy nước Cẩm Thượng, Nhà máy sản xuất nước sạch số 1 và số 5, Công ty cổ phần Kinh doanh nước sạch Hải Dương) thuộc phường Cẩm Thượng và phường Việt Hoà, TP Hải Dương. 3 nhà máy có tổng công suất 125.000 m3/ngày đêm, sản xuất nước phục vụ trên 50% dân số toàn tỉnh.

Theo quy định mới, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước mặt là 1.000 m về phía thượng lưu và 200 m về phía hạ lưu so với điểm hút nước. Trong hành lang này có gần chục bãi kinh doanh vật liệu xây dựng được UBND tỉnh cấp phép. Nhiều tàu thuyền neo đậu tùy tiện, đôi khi đỗ sát cửa mương hút nước, xả dầu nhớt xuống sông. Khu vực thượng nguồn, cách gần 300 m, nơi hút nước đầu vào thuộc phường Cẩm Thượng là cống xả nước thải qua đê, từ hàng chục năm nay đã kiến nghị nhiều nhưng chưa xử lý triệt để.

 Điểm kinh doanh vật liệu xây dựng ôm sát trạm hút nước, Nhà Máy nước sạch số 1, phường Việt Hoà, TP Hải Dương.
Điểm kinh doanh vật liệu xây dựng ôm sát trạm hút nước, Nhà Máy nước sạch số 1, phường Việt Hoà, TP Hải Dương.

Cũng vi phạm tương tự, khu vực thượng nguồn, hạ nguồn Nhà máy nước số 2, thị trấn Kinh Môn bị các lò vôi bao phủ. Trên thượng nguồn là hàng chục cơ sở kinh doanh than, quặng thép, quặng kẽm, bột đá và khu sản xuất thép của Tập đoàn Hoà Phát…Trời mưa lớn, nước than, nước quặng chảy xuống sông, gây ô nhiễm nguồn nước đầu vào.

Điểm hút nước đầu vào của Nhà máy nước thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành, thuộc sông Kinh Môn, Nhà máy nước sạch Thanh Miện thuộc sông Luộc cũng bị hàng chục điểm kinh doanh than, trồng rau, phun thuốc bảo vệ thực vật đã làm tăng sự ô nhiễm nguồn nước. Ngay sát khu vực hút nước, Nhà máy nước sạch Đồng Lạc, Thị xã Chí Linh, chính quyền đang cho thu hồi đất, làm bãi kinh doanh than và vật liệu xây dựng, nguy cơ ô nhiễm là không thể tránh khỏi.

Trên sông Lai Vu, cả 3 nhà máy sản xuất nước sạch đang có nguy cơ ô nhiễm, khi mà điểm xả thải của Khu công nghiệp Lai Vu, trong đó có Công ty TNHH dệt Pacific Crystal nhiều lần xả thải 5 loại hoá chất vượt giới hạn cho phép… Tăng cường quản lý, bảo vệ khu vực đầu nguồn của cơ sở sản xuất nước sạch là việc làm cấp thiết của các cấp chính quyền, các ngành chức năng tỉnh Hải Dương.

Tìm giải pháp tháo gỡ

Ngày 9/9/2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra Thông tư số 24/2016/TT-BTNMT (Thông tư 24), quy định việc xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, có hiệu lực từ 26/10/2016. Theo đó, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh của công trình khai thác nước mặt được mở rất rộng so với quy định trước đây.

Theo thông tư 24, hầu hết các cơ sở sản xuất nước sạch trên địa bàn tỉnh có phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt sử dụng nước mặt trên các tuyến sông là 800 m về phía thượng lưu và 200 m về phía hạ lưu so với điểm hút nước. Riêng khu vực lấy nước đầu vào từ sông Thái Bình phục vụ sản xuất nước sạch ở TP Hải Dương, vùng bảo vệ tới 1.000 m về phía thượng lưu, 200 m về phía hạ lưu.

Như vậy, về phía thượng lưu đã mở rộng gấp đôi so với quy định trước đây. Việc giải phóng các công trình, cơ sở sản xuất kinh doanh là một việc khó, cần có lộ trình cần được các cấp chính quyền, các ngành chức năng cùng chung tay vào cuộc.

Ông Phạm Minh Cường, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Kinh doanh nước sạch Hải Dương cho biết, để thực hiện Thông tư số 24, doanh nghiệp chúng tôi phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, lực lượng quản lý đường thuỷ nội địa và các địa phương sở tại xây dựng phương án, khoanh định và thực hiện việc cắm mốc, đặt biển báo vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt thuộc phạm vi công trình của mình. Đặc biệt là hành lang 3 nhà máy sản xuất nước sạch ở TP Hải Dương có tổng công suất 125.000 m3/ngày đêm, cung cấp cho hơn 50% dân số trong tỉnh. Mỗi khi có nguồn nước ô nhiễm, công ty đã gửi công văn cho cấp huyện, cấp xã, lực lượng Công an cùng phối hợp giải quyết.

Những quy định mới của Thông tư 24 là sự quan tâm của Chính phủ chăm lo cho sức khoẻ, vì cuộc sống lâu dài của mọi người. Việc bảo vệ nguồn nước đầu nguồn không chỉ trong ranh giới hành lang nơi hút nước mà là cả các tuyến sông. Vì thế tỉnh Hải Dương phải nghiêm túc thực hiện.

Khởi động cho việc thực hiện Thông tư 24, Sở Tài nguyên và Môi trường đã có công văn gửi các tổ chức, doanh nghiệp được phép khai thác, sử dụng nước mặt trên địa bàn tỉnh thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước đơn vị đang khai thác. Thành lập lực lượng liên ngành tổ chức kiểm tra, rà soát toàn bộ khu vực đầu nguồn của các cơ sở sản xuất nước sạch.

Đồng thời, rà soát các công trình nằm trong hành lang được cấp phép hoạt động từ trước, bàn phương án di rời doanh nghiệp trong vùng vi phạm hoặc di dời điểm hút nước trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của tập thể, doanh nghiệp và cá nhân các bên. Việc thực hiện Thông tư 24 cần được UBND tỉnh Hải Dương vào cuộc, quan tâm, chỉ đạo từng địa phương các cấp, các ngành liên quan, các doanh nghiệp, người dân trong vùng bảo vệ nguồn nước có trách nhiệm cùng thực hiện.

                                                                                      Trần Tuấn

(TN&MT) – Ngày 24/8, Sở TN&MT Sơn La tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền pháp luật về tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu năm 2017.

Quang cảnh buổi tập huấn
Quang cảnh buổi tập huấn

Tham  dự buổi tập huấn có lãnh đạo, chuyên viên Phòng TN&MT 12 huyện, thàn phố; cán bộ, công chức một số sở, ban, ngành trên địa bàn tỉnh.

Phát biểu khai mạc hội nghị, ông Nguyễn Đắc Lực, Phó Giám đốc Sở TN&MT Sơn La nhấn mạnh: Việc tập huấn nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức, vai trò, trách nhiệm về bảo vệ tài nguyên nước, BĐKH cho cán bộ phụ trách công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước, KTTV và BĐKH. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về tài nguyên nước, KTTV và BĐKH cho lãnh đạo các cấp, các ngành, để tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác chấp hành pháp luật; và vai trò, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân về tài nguyên nước, KTTV&BĐKH trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, quy định pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước đến các cấp, các ngành trong tỉnh.

Tại hội nghị, các đại biểu đã được lắng nghe các quy định pháp luật trong hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước/xả nước thải vào nguồn nước. Vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong công tác tham mưu, đề xuất, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về quản lý nhà nước với tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh.

Các quy định pháp luật về thực hiện lồng ghép kết quả giám sát biến đổi khí hậu, đồng thời với việc lồng ghép nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu trong thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch ngành, địa phương theo quy định tại Chương V Luật Khí tượng thủy văn 2015.

Phổ biến văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước, KTTV và BĐKH.

Đồng thời, trao đổi, hướng dẫn, giải đáp các thắc mắc liên quan đến quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước, KTTV&BĐKH tại địa phương.

Nguyễn Nga

Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước, để tỷ lệ dân cư được cấp nước sạch đạt 95% – 100%; thất thu, thất thoát nước sạch giảm dưới 18%… Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên Báo Hànộimới có cuộc trao đổi với ông Đồng Phước An, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội.

Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Đồng Phước An.
Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Đồng Phước An.

Chất lượng nước sạch chưa đồng đều

– Được biết, vào cao điểm nắng nóng, khu vực đô thị Hà Nội thiếu 60.000 – 90.000m3 nước sạch/ngày – đêm. Chưa kể, hệ thống cấp nước sông Đà tiềm ẩn nguy cơ sự cố, ảnh hưởng đến hàng chục nghìn khách hàng. Thực trạng hệ thống cấp nước đô thị trên địa bàn Hà Nội hiện nay như thế nào, thưa ông?

– Hiện hệ thống cấp nước tập trung của Hà Nội được giao cho 4 đơn vị là Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội, Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Đông, Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Kinh doanh nước sạch (Viwaco) và Công ty cổ phần Nước sạch Sơn Tây. Ngoài ra còn có Công ty cổ phần Nước sạch Vinaconex là đơn vị sản xuất, cung ứng nguồn nước mặt từ Nhà máy Nước sông Đà.

Trong 4 đơn vị phân phối nước, Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội quản lý, vận hành 12 nhà máy nước tập trung và 16 trạm cấp nước cục bộ, khai thác nguồn nước ngầm, cung ứng cho 10 quận: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, Long Biên, Bắc Từ Liêm, một phần Thanh Xuân, Hoàng Mai và các huyện: Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Mê Linh, Thanh Trì; với khoảng 668.900 khách hàng (tương đương 800.000 hộ gia đình, 3,2 triệu người). Hiện, công ty tự sản xuất khoảng 617.600m3 nước sạch/ngày – đêm và sử dụng khoảng 14.383m3/ngày – đêm từ nguồn nước sông Đà.

Đơn vị cung ứng nước lớn thứ 2 là Công ty Viwaco, sử dụng hơn 161.000 m3/ngày – đêm từ nguồn nước sông Đà và tự sản xuất khoảng 6.000m3/ngày – đêm, cung ứng nước sạch cho khoảng 127.000 khách hàng (tương đương 170.000 hộ gia đình, 680.000 người), thuộc khu vực quận Thanh Xuân, Nam Từ Liêm, một phần quận Hoàng Mai, huyện Thanh Trì. Tiếp đó, Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Đông cung ứng khoảng 90.000m3/ngày – đêm (trong đó sử dụng nguồn nước sạch sông Đà khoảng 30.629m3/ngày – đêm) cho 125.000 khách hàng (tương đương 150.000 hộ gia đình) thuộc khu vực quận Hà Đông và một phần Nam Từ Liêm, một số xã thuộc huyện Thanh Oai, Hoài Đức, Phú Xuyên. Còn Công ty cổ phần Nước sạch Sơn Tây cung ứng khoảng 30.000m3/ngày – đêm, cho khoảng 28.000 khách hàng thuộc khu vực thị xã Sơn Tây.

Công ty cổ phần Nước sạch Vinaconex là đơn vị vận hành Nhà máy Nước sông Đà, với công suất trung bình khoảng 220.000m3/ngày – đêm, bán buôn cho các đơn vị cấp nước, trong đó nhiều nhất là Công ty Viwaco. Nhìn chung, tại khu vực đô thị tỷ lệ các hộ dân được cấp nước sạch đạt khoảng 98%. Tỷ lệ nước thất thoát, thất thu chung trên hệ thống hiện nay khoảng 21,5%.

– Còn khu vực ngoại thành thì sao, thưa ông?

– Khu vực nông thôn gồm 416 đơn vị hành chính cấp xã, với tổng dân số hơn 4,3 triệu người, trong đó số dân được sử dụng nước sạch hơn 1,6 triệu người (tỷ lệ 37,2%), bao gồm cả một số xã, thị trấn thuộc huyện Thanh Trì, Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh Oai, Sơn Tây, Phúc Thọ, Ba Vì… được cấp từ hệ thống cấp nước tập trung của thành phố. Chất lượng nước sạch nông thôn không đồng đều, nước của một số trạm cấp nước nông thôn chưa thực sự bảo đảm chất lượng do công nghệ xử lý lạc hậu; chất lượng nước nguồn suy giảm, có nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng; công tác duy tu, duy trì không thực hiện thường xuyên…

Huy động mọi nguồn lực đầu tư

– Để giải quyết những tồn tại, mới đây, UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch 148/KH-UBND, ngày 23-6-2017 về cấp nước an toàn, chống thất thoát, thất thu nước sạch trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2016-2020. Xin ông cho biết những mục tiêu cụ thể của kế hoạch này?

– Theo Kế hoạch 148/KH-UBND, mục tiêu chính là huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước, đến năm 2020 phấn đấu tỷ lệ dân cư được cấp nước sạch đạt 95% – 100%. Đối với khu vực nông thôn đến năm 2020 phấn đấu 100% người dân được sử dụng nước sạch với chất lượng bảo đảm đạt tiêu chuẩn. Tỷ lệ nước thất thoát, thất thu bình quân toàn thành phố đến năm 2020 dưới 18%. Phấn đấu phát triển hệ thống cấp nước nông thôn từ nguồn tập trung của thành phố cho 235 xã, khoảng 2,2 triệu người (tương đương 551.445 hộ); xây dựng hệ thống cấp nước mô hình cục bộ thôn, liên thôn, xã, liên xã với công nghệ xử lý nước tiên tiến cho khoảng 513.571 người (tương đương 128.392 hộ) thuộc các khu vực khó khăn Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa, Chương Mỹ, Thường Tín, Phú Xuyên, chưa có điều kiện kết nối hệ thống cấp nước tập trung. Chủ trương của thành phố là xã hội hóa đầu tư cấp nước sạch khu vực nông thôn. UBND thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư, gồm 10 nhà đầu tư thực hiện 20 dự án cấp nước cho khu vực nông thôn, với phạm vi cấp nước cho 75 xã, khoảng 180.828 hộ, 729.312 người.

Đối với việc đầu tư phát triển mạng lưới cấp nước từ nguồn nước tập trung, thành phố sẽ xây dựng tuyến truyền dẫn nước sạch số 2 sông Đà; đường ống truyền dẫn dọc các trục quốc lộ 32, 21, 21B, đường nối Phúc Thọ – Chúc Sơn, đường Vành đai 4…; đầu tư hệ thống mạng lưới cấp nước phân phối, dịch vụ cho toàn bộ các xã sử dụng nguồn từ hệ thống cấp nước tập trung của thành phố và các trạm bơm tăng áp Tây Mỗ, Sóc Sơn, Xuân Mai, Phú Xuyên, Sơn Tây, Phúc Thọ, Kim Bài, Chúc Sơn, Ba Vì.

Để phát triển mạng lưới cấp nước tập trung và hệ thống cấp nước khu vực nông thôn, thành phố khuyến khích, kêu gọi các nhà đầu tư có kinh nghiệm, năng lực phát triển mạng lưới cấp nước đồng bộ; ưu tiên sử dụng nguồn nước mặt, hạn chế và tiến tới ngừng khai thác nước ngầm. Thành phố đã kết nối, giới thiệu ngân hàng cho vay vốn lãi suất ưu đãi cho các nhà đầu tư dự án cấp nước sạch đô thị, nông thôn và cam kết cải cách thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, bảo đảm thông thoáng, nhanh gọn.

– Cùng với hệ thống cung ứng nước, nguồn cấp nước sẽ được đầu tư thế nào để bảo đảm tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch như mục tiêu đặt ra?

– Thành phố đang tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án nước sạch. Trong đó, dự án đầu tư xây dựng Nhà máy Nước ngầm Dương Nội (Hà Đông) công suất 30.000m3/ngày – đêm dự kiến hoàn thành tháng 11-2017. Dự án đầu tư xây dựng mở rộng, nâng công suất Nhà máy Nước Bắc Thăng Long – Vân Trì lên 150.000m3/ngày – đêm, dự kiến hoàn thành đầu quý II-2018.

Dự án Nhà máy Nước mặt sông Hồng công suất 300.000m3/ngày – đêm; dự án Nhà máy Nước mặt sông Đuống công suất 300.000m3/ngày – đêm; tuyến đường ống truyền dẫn nước sông Đà số 2 và nâng công suất Nhà máy Nước mặt sông Đà lên 600.000m3/ngày – đêm, dự kiến hoàn thành trước năm 2020.

Cùng với đó, thành phố đang kêu gọi hợp tác đầu tư các dự án phát triển nguồn, như Nhà máy Nước Xuân Mai 600.000m3/ngày – đêm, Nhà máy Nước Quan Sơn 20.000m3/ngày – đêm, Nhà máy Nước Ba Vì 60.000m3/ngày – đêm…

– Các dự án đang được đầu tư phải sau một thời gian nữa mới hoàn thành. Vậy, biện pháp nào để khắc phục tình trạng mất nước cục bộ tại một số khu vực?

– Với các nhà máy xử lý nước ngầm hiện nay, thành phố yêu cầu các đơn vị vận hành chủ động kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị để bảo đảm đạt công suất quy định, trong trường hợp có sự cố phải tập trung khắc phục kịp thời trong thời gian 24 giờ; xây dựng chế độ vận hành tối ưu bảo đảm chất lượng nước, năng lực cấp nước để nâng cao mức độ dịch vụ trên toàn hệ thống, khắc phục và thu hẹp các điểm thiếu nước cục bộ.

Bộ phận quản lý – vận hành hệ thống mạng khi phát hiện sự cố phải nhanh chóng báo cho đơn vị cấp nước. Các đơn vị cấp nước phụ trách địa bàn cử cán bộ kỹ thuật, xác định nguyên nhân sự cố, đề ra giải pháp khắc phục. Khi xảy ra sự cố về nhà máy, mạng truyền dẫn, mất điện kéo dài dẫn đến mất nước trên diện rộng sẽ thông báo cho đơn vị cung cấp, phân phối biết, phối hợp trong công tác vận hành hòa mạng (nếu mất nguồn) và thông báo cho chính quyền sở tại, nhân dân khu vực chịu ảnh hưởng; tiến hành cấp nước theo giờ, hoặc cấp bằng xe stec. Chuẩn bị sẵn sàng thiết bị, xe máy, nhân lực, vật tư để sửa chữa trong thời gian nhanh nhất (tối đa không quá 12 giờ đối với mạng dịch vụ và 24 giờ đối với ống phân phối và truyền tải).

Các đơn vị cung cấp phải kiểm tra thường xuyên những điểm có nguy cơ xảy ra sự cố trong nhà máy, trên mạng truyền dẫn, phân phối, giếng nước ngầm, nguồn nước thô…; lập hồ sơ “điểm đen” về cấp nước, như cuối nguồn, thiếu hệ thống phân phối…

Vấn đề nữa là các nhà máy cần chủ động phối hợp với điện lực các quận, huyện để bảo đảm cung ứng điện ổn định phục vụ sản xuất và cấp nước. Đặc biệt, phối hợp với chính quyền địa phương trong việc bảo đảm an ninh nguồn nước trong khu vực nhà máy.Thành phố đã yêu cầu các công ty cấp nước xây dựng kế hoạch cải tạo, sửa chữa, thay thế thiết bị, bổ sung công nghệ, nâng cao chất lượng nước, bảo đảm đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn sử dụng và hoàn thành trước năm 2020. Đồng thời, rà soát ngừng hoạt động các trạm cấp nước cục bộ và chuyển thành trạm bơm tăng áp sau khi các nhà máy nước mặt theo quy hoạch được đầu tư xây dựng.

Đến năm 2020, khi các dự án phát triển nguồn hoàn thành, nâng công suất hệ thống cấp nước Hà Nội lên khoảng 2.000.000m3/ngày – đêm, cùng với việc đầu tư phát triển mạng lưới cấp nước, tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch với cùng một tiêu chuẩn nước đô thị sẽ đạt khoảng 100%.

– Cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Theo HNMO

(TN&MT) – Ông Đinh Xuân Duyên – Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Krông Pa (Gia Lai) cho biết: “Hiện toàn huyện có 61 công trình nước sạch phục vụ nhân dân của 12 xã. Mỗi công trình này được “rót” hàng trăm triệu đồng để đầu tư xây dựng và bảo dưỡng máy bơm, bể chứa nước…Tuy nhiên, đến nay có 27/62 công trình không hoạt động hoặc ngưng hoạt động (tức là bỏ hoang), và 6 công trình khác hoạt động kém hiệu quả. Chỉ có 28 công trình hoạt động hiệu quả, đây là những công trình hàng năm có nguồn kinh phí nâng cấp, sửa chữa, duy tu… chủ yếu là được bố trí từ vốn chương trình 755 của Trung ương để nâng cấp cải tạo lại)”. 

Bể nước bị bỏ hoang nhiều năm nay
Bể nước bị bỏ hoang nhiều năm nay

Xã Chư Đrăng là một trong những xã khó khăn của huyện Krông Pa, quanh năm người dân đồng bào phải sống nhờ các giọt nước (mạch ngầm) cách xa khu dân cư. Chính vì vậy UBND huyện này đã rất quan tâm và đầu tư nhiều công trình nước sạch. Cụ thể,  công trình nước sạch tại buôn H’Liết được xây dựng từ năm 2005 theo chương trình Trung tâm cụm xã. Năm 2008, buôn Chai và buôn H’Ngôm cũng được xây dựng công trình nước sạch từ nguồn vốn Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn 134, 135. Các thôn Mê Linh, Tam Đảo, buôn H’Liên cũng đều được “đồng bộ” các công trình này nhằm đảm bảo người dân có nước sạch dùng trong sinh hoạt.

Tuy nhiên, có rất nhiều công trình đến nay không mang lại hiệu quả như mong đợi. Hiện hầu hết các công trình nước sạch tại xã Chư Đrăng đều không thể sử dụng hoặc bị người dân “quay lưng” vì nước bị nhiễm phèn…Theo thời gian những công trình nước sạch không được chăm sóc, bảo dưỡng dẫn đến bị hư hỏng không sử dụng được. Các công trình nước sạch ngày càng xuống cấp nghiêm trọng, cỏ mọc um tùm.

Chị Nay H’Bia ở buôn H’Ngôm chia sẻ: “Thấy nước sạch về với buôn bà con vui lắm, vì không còn phải đi lấy nước ở xa nữa. Nhưng mấy cái vòi nước đấy chỉ hoạt động được mấy năm thì hư mất. Giờ dân làng lại phải đi mấy cây số lấy nước từ mấy cái hố đào ven sông, ven suối để uống, để nấu ăn. Tắm rửa cả làng cũng phải kéo nhau ra sông, suối. Cứ đến mùa khô, nước khan hiếm là phải dậy thật sớm mang can đi múc nước chứ không đợi lâu mà không có nước để uống nữa”.

Người dân phải đi rất xa mới lấy được nước để sinh hoạt
Người dân phải đi rất xa mới lấy được nước để sinh hoạt

Về vấn đề này, Ksor Rok – Phó chủ tịch UBND xã Chư Đrăng cho biết: “Người dân không sử dụng nước từ các bể tập trung, giếng khoan là do nước bị nhiễm phèn, lâu ngày các công trình cũng bị hư hỏng. Thực tế người dân không đồng ý trả tiền nước để vận hành các công trình (buôn Liên, buôn H’Ngôm, thôn Mê Linh, thôn Tam Đảo…) vì với tập quán từ lâu đời lấy nước giọt để sinh hoạt, không thích nước từ các công trình nước sạch. Cuối cùng là ý thức sử dụng, bảo vệ công trình của bà con chưa cao. Vì vậy mà nhiều công trình qua thời gian đã bị hư hại, xuống cấp thấy rõ, gây lãng phí tiền của của Nhà nước”.

Ông Đinh Xuân Duyên – Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Krông Pa cho biết thêm: Chúng tôi cũng đã kiến nghị với các cơ quan chức năng về thực trạng các công trình nước sinh hoạt hiện nay (trong đó có Đoàn giám sát Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai). Đối với các công trình đang hoạt động thì cần tổ chức vận động nhân dân sử dụng tiết kiệm tránh lãng phí nguồn tài nguyên nước, có chính sách hỗ trợ hợp lý để duy tu bảo dưỡng các hạng mục hư hỏng lớn, tiếp tục nâng cấp các hạng mục để xử lý nước nâng cao chất lượng nguồn nước đáp ứng các tiêu chuẩn về nước sạch nông thôn do chính phủ quy định. Đối với các công trình hoạt động kém hiệu quả thì tổ chức nâng cao nhận thức của người dân về việc sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh, cải tạo nâng cấp hệ thống mạng lưới và công trình đầu mối. Có chính sách hỗ trợ người nghèo và các hộ dân có nhu cầu sử dụng nước theo hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm để nâng trách nhiệm của người dân đối với công trình. Còn đối với các công trình không hoạt động thì tiếp tục vận động người dân sử dụng nước hợp vệ sinh từ công trình, hàng năm hỗ trợ kinh phí để tổ chức tập huấn tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước hợp vệ sinh. Đối với các công trình nhân dân không có nhu cầu sử dụng cho phép thanh lý công trình.

Vũ Đình Năm

(TN&MT) – Sau khi Nghị định 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 ngày 17/7/2017 của Chính phủ Quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước (có hiệu lực thi hành từ 1/9/2017) được ban hành, Sở TN&MT Sơn La đã chủ động chỉ đạo phòng chuyên môn tham mưu đề xuất triển khai thực hiện với UBND tỉnh Sơn La. Phối hợp với các sở, ban, ngành tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, công bố công khai nội dung Nghị định trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có liên quan dễ dàng tiếp cận thông tin và tổ chức thực hiện.

Thủy điện Sơn La là 1 trong 29 thủy điện đã được Bộ TN&MT cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Thủy điện Sơn La là 1 trong 29 thủy điện đã được Bộ TN&MT cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước trên địa bàn tỉnh Sơn La.

Cùng với đó, Sở TN&MT đã tiến hành rà soát, lập danh sách các tổ chức, cá nhân đã được UBND tỉnh cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước thuộc đối tượng phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, bao gồm 43 giấy phép khai thác nước dưới đất, 12 giấy phép khai thác nước mặt. Ban hành công văn 1395/STNTMT-TNN đôn đốc, hướng dẫn căn cứ tính, mức thu, công thức, sản lượng, giá, hệ số điều chỉnh; trình tự, thủ tục, mẫu tính tiền cấp quyền khai thác nước, thời điểm, thời hạn nộp hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác nước, cơ quan tiếp nhận hồ sơ, thời gian giải quyết thủ tục hành chính theo quy định tại NĐ 82.

Với các tổ chức, cá nhân chưa lập hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác nước, Sở TN&MT đã đề nghị UBND các huyện, thành phố chỉ đạo Phòng TN&MT các huyện, thành phố rà soát, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra, xử lý các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước thuộc đối tượng phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước khẩn trương lập hồ sơ đề nghị cấp phép, đồng thời với hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác nước đảm bảo tính đúng, tính đủ, đảm bảo tiến độ nộp hồ sơ theo quy định, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước.

Đồng thời, tham mưu trình UBND tỉnh ban hành văn bản 2376/UBND-KT gửi Bộ TN&MMT đề nghị phối hợp triển khai thực hiện NĐ 82. Theo đó, tỉnh Sơn La đề nghị Bộ TN&MT chỉ đạo Cục quản lý Tài nguyên nước tăng cường kiểm tra, thanh tra các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng phải lập hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ TN&MT, nhưng chưa lập hồ sơ đề nghị cấp phép (trong đó, có 21/50 thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh) để làm cơ sở tính, xác định mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tăng nguồn thu cho ngân sách. Ban hành văn bản đôn đốc các tổ chức, cá nhân đang khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh đã được Bộ TN&MT cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước sớm hoàn thiện việc xây dựng, nộp hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định tại NĐ 82 (có 29 thủy điện đã được cấp giấy phép khai thác nước trên địa bàn tỉnh).

Phối hợp với các sở, ngành có liên quan như Cục thuế tỉnh trong công tác thu, quản lý tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; Sở Tài chính hướng dẫn cách áp dụng khung giá tính thuế tài nguyên với một số mã, nhóm tài nguyên nước phục vụ công tác thẩm định giá tính thuế tài nguyên nước; Sở Tư pháp thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh, bổ sung, thay thế các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước phù hợp với quy định tại NĐ 82…

Nguyễn Nga

(TN&MT) – UBND tỉnh Quảng Nam và UBND thành phố Đà Nẵng vừa ký kết và công bố thành lập Ban điều phối quản lý tổng hợp lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam – Đà Nẵng.

Lãnh đạo TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam ký kết phối hợp bảo vệ lưu vực Vu Gia - Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam - Đà Nẵng
Lãnh đạo TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam ký kết phối hợp bảo vệ lưu vực Vu Gia – Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam – Đà Nẵng

Ban điều phối quản lý tổng hợp lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam – Đà Nẵng giai đoạn 2017 – 2020 do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh và Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh luân phiên làm Trưởng ban với thời gian là 6 tháng. Nhiệm kỳ Trưởng ban đầu tiên do Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh đảm nhận.

Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2017 – 2020, hai địa phương sẽ phối hợp nhằm đảm bảo định hướng phát triển bền vững lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam – Đà Nẵng; duy trì tổ chức đối thoại định kỳ (2 lần/năm) để trao đổi, giải quyết các vấn đề liên quan; thiết lập bộ cơ sở dữ liệu dùng chung liên quan đến quản lý tổng hợp lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn; và thiết lập mô hình có sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý tổng hợp lưu vực sông thông qua các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quản lý tổng hợp lưu vực sông và vùng bờ.

Lưu vực Vu Gia - Thu Bồn nằm ở thượng nguồn tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng
Lưu vực Vu Gia – Thu Bồn nằm ở thượng nguồn tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng

Dự kiến, từ nay đến tháng 6/2018, Quảng Nam và Đà Nẵng sẽ xây dựng được Bộ dữ liệu chung trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn để phục vụ công tác quản lý đô thị, khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường; các phương án nhằm tham gia điều tiết nước giữa mùa cạn và mùa lũ trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn (Quảng Huế, An Trạch); cơ chế phối hợp liên tỉnh để giám sát các thủy điện trên thượng nguồn Vu Gia – Thu Bồn trong việc chấp hành quy trình vận hành liên hồ chứa theo Quyết định 1537/QĐ-TTg ngày 7/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ.

Trong những năm tiếp theo, hai địa phương sẽ tổ chức đánh giá các hoạt động khai thác, sử dụng không gian lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam – Đà Nẵng; tính toán, xác định nhu cầu sử dụng nước lưu vực sông phục vụ cho cấp nước sinh hoạt và các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội của hai địa phương. Nghiên cứu đề xuất, hướng dẫn để lồng ghép, điều chỉnh các quy hoạch/kế hoạch phát triển KT-XH của TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam trên lưu vực sông và ở vùng bờ.

Cùng với đó, hai bên sẽ thúc đẩy sự phối hợp liên tỉnh và với cộng đồng trong công tác giám sát việc thực hiện các nội dung có liên quan đối với các hoạt động chung giữa 2 địa phương như khai thác, sử dụng không gian, tài nguyên trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam – Đà Nẵng.

Tin & ảnh: Yến Nhi

(TN&MT) – Hiện nay, tỷ lệ dân số khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch đạt thấp (38,6%); trong khi đó, tỷ lệ thất thu, thất thoát nước sạch toàn thành phố Hà Nội là 21%.

Vấn đề cấp thiết được đặt ra là phải có giải pháp đột phá mới có thể hoàn thành kế hoạch đến năm 2020, 100% dân số ngoại thành được sử dụng nước sạch. Nếu không có nước sạch, người dân sẽ tiếp tục đối diện tình trạng thiếu nước vào mùa hạn, phải sử dụng nguồn nước ô nhiễm để sinh hoạt…

Theo thống kê của thành phố, nguyên nhân chính trong triển khai chậm việc cấp nước sạch cho khu vực nông thôn thời gian qua là bởi, trước năm 2015, việc cấp nước sạch cho khu vực nông thôn chủ yếu là dùng nguồn ngân sách, việc thực hiện có khó khăn do nguồn ngân sách thành phố còn eo hẹp. Cùng với đó, việc cấp nước nông thôn mới thực hiện chủ yếu theo Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Những năm qua, Hà Nội đã triển khai xây dựng các trạm cấp nước nông thôn cho các địa phương nhưng nhiều công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn sử dụng chưa hiệu quả. Hình thức cấp nước nông thôn mới chỉ dừng lại ở các mô hình: từng hộ riêng rẽ, các hộ được cấp nước từ các công trình (trạm) cấp nước nông thôn, chưa được nối mạng từ hệ thống cấp nước tập trung của thành phố.

Nhiều công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn thành phố sử dụng chưa hiệu quả
Nhiều công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn thành phố sử dụng chưa hiệu quả

Để phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu đến năm 2020 đạt 100% dân cư nông thôn được cấp nước, giảm tỷ lệ thất thu, thất thoát nước sạch toàn thành phố. Thành phố đã tập trung phát triển mạng lưới cấp nước. Trong đó, kêu gọi xã hội hóa đầu tư cấp nước cho khu vực nông thôn.

Kết quả cho thấy, đến tháng 6/2017 đã lắp đặt bổ sung cấp nước cho khoảng 33.800 hộ, nâng tổng số người dân nông thôn được sử dụng nước sạch là khoảng 1.747.000 người tương đương khoảng 40%.

Thành phố cũng chấp thuận chủ trương đầu tư cho 16 dự án nước sạch nông thôn và dự kiến hoàn thành trong năm 2017, các dự án hoàn thành sẽ cung cấp nước sạch cho 102.321 hộ; 409.284 người, cho 59 xã (tăng thêm 9,4% nâng tỷ lệ cấp nước sạch khu vực nông thôn lên từ 40% lên 49,4%).

Đồng thời, UBND thành phố đã phê duyệt các dự án phát triển cấp nước đến năm 2020, với việc chấp thuận chủ trương đầu tư, sẽ cấp nước cho 30 xã… Chỉ đạo các công ty triển khai các nhà máy nước theo quy hoạch như: Công ty CP Nước mặt sông Hồng triển khai đảm bảo tiến độ Dự án đầu tư xây dựng hệ thống nhà máy nước mặt sông Hồng công suất 300.000m3/ngày đêm đến năm 2020 (giai đoạn 1 đến năm 2018 đạt 150.000m3/ngày đêm). Công ty CP Nước mặt sông Đuống đẩy nhanh tiến độ hoàn thành chuẩn bị đầu tư và triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựnghệ thống nhà máy nước mặt sông Đuống công suất 300.000m3/ngày đên đến năm 2020 (giai đoạn 1 đến năm 2018 đạt 150.000m3/ngày đêm)…

Bên cạnh đó, thành phố cũng chấp thuận chủ trương giao Tổng Công ty Cổ phần Thương mại Xây dựng Vietracimex nghiên cứu, lập Dự án đầu tư nhà máy cấp nước sạch tại huyện Ba Vì, công suất dự kiến 500.000m3/ngày đêm, sử dụng nguồn nước mặt sông Đà….

Mặt khác, giao Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước, thoát nước và môi trường TP. Hà Nội nghiên cứu triển khai dự án lắp đặt hệ thống lọc nước theo mô hình cụm hộ cho các xã không thể đấu nối với hệ thống cấp nước tập trung của thành phố tại Ba Vì, Chương Mỹ, Sóc Sơn… Cùng với đó, hỗ trợ các nhà đầu tư tham gia đầu tư nước sạch trên địa bàn việc lựa chọn công nghệ tiên tiến, hiện đại; kiểm soát về công nghệ, chất lượng nước…

Đối với dự án đầu tư nước sạch tại các vùng sâu, vùng xa như Ba Vì, Sơn Tây, Mỹ Đức…, thành phố sẽ hỗ trợ về công nghệ và cho phép khai thác nguồn nước ngầm. Và hỗ trợ thủ tục đầu tư, đảm bảo thông thoáng, nhanh gọn.

Bên cạnh các giải pháp để đảm bảo mục tiêu cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, Hà Nội cũng triển khai nhiều giải pháp giảm tỷ lệ thất thu, thất thoát nước sạch như cải tạo và thay thế các đường ống cũ nát, giám sát chặt chẽ công tác thi công, thử áp lực, giám sát chặt chẽ khi đưa vào sử dụng…

PV

(TN&MT) – Công ty cổ phần cấp nước Hải Phòng vừa khởi công xây dựng Nhà máy nước Hưng Đạo thuộc Gói thầu CW1 – Cải tạo, xây dựng hệ thống cấp nước khu vực Đồ Sơn và vùng phụ cận, Dự án Đầu tư mở rộng hệ thống cấp nước TP Hải Phòng giai đoạn 2.

Nhà máy nước Hưng Đạo được xây dựng trên diện tích 6,7ha đất thuộc phường Hưng Đạo, quận Dương Kinh, TP Hải Phòng. Công suất thiết kế của Nhà máy nước Hưng Đạo đến năm 2020 là 50.000m3/ngày; năm 2030 công suất là 100.000m3/ngày và đến năm 2050 công suất đạt 200.000m3/ngày.

Ngoài xây dựng Nhà máy nước Hưng Đạo, Gói thầu CW1 còn thực hiện thêm các hạng mục khác như: cải tạo Nhà máy nước Đồ Sơn hiện tại công suất 5.000m3/ngày thành Trạm tăng áp Đồ Sơn (tiếp nhận nước từ Nhà máy nước Hưng Đạo – bơm tăng áp cho lưới cung cấp) công suất 12.000m3/ngày; xây dựng 18.000m đường ống truyền tải cấp nước D900-300 cho khu vực các quận Đồ Sơn, Dương Kinh và một phần của huyện Kiến Thụy; lắp đặt, cải tạo mạng lưới tuyến ống phân phối cấp nước cho khoảng 20.000 khách hàng thuộc 8 phường quận Đồ Sơn và Dương Kinh với tổng chiều dài đường ống lắp đặt lên tới 300km.

Phối cảnh Nhà máy nước Hưng Đạo
Phối cảnh Nhà máy nước Hưng Đạo

Dự án do Liên danh nhà thầu Công ty cổ phần Viwaseen3 và Công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại Việt Pháp thi công; Cơ quan tư giám sát là Liên danh giữa Công ty cổ phần cấp nước và Môi trường Việt Nam với Công ty TNHH Tư vấn xây dựng Meinhardt Việt Nam.

Được biết, dự án có tổng mức đầu tư là 73,7 triệu USD (khoảng 1.500 tỷ đồng). Trong đó, vốn vay Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) là 56,8 triệu USD, vốn đối ứng trong nước là 16,9 triệu USD.

Theo kế hoạch ban đầu, gói thầu CW1 được thực hiện trong thời gian 30 tháng. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu cấp nước cho nhân dân; đặc biệt phục vụ cho các dự án trọng điểm của thành phố, chủ đầu tư và nhà thầu phấn đấu rút ngắn thời gian thi công từ 30 tháng xuống còn 18 tháng kể từ ngày khởi công.

Riêng Nhà máy nước Hưng Đạo dự kiến được hoàn thành trong thời gian từ 10 đến 12 tháng.

PV

.
.

(TN&MT) – Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa có công văn số 3973/BTNMT-TNN ngày 4/8/2017 về việc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các Bộ bổ sung tính toán để đánh giá cụ thể, đánh giá định lượng tác động của các dự án đến sông Đồng Nai.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng tại Văn bản số 7509/VPVP-NN ngày 18/7/2017 của Văn phòng Chính phủ về Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị UBND tỉnh Đồng Nai chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, theo các nội dung cụ thể.

Theo đó, Bộ Giao thông vận tải đề nghị bổ sung yêu cầu đối với UBND tỉnh Đồng Nai, cần rà soát phạm vi và các nội dung Dự án đảm bảo tuân thủ Nghị định số 24/2015/CĐ-CP ngày 27/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa.

Bộ Xây dựng cho rằng, việc kiểm tra, rà soát, đánh giá tác động bổ sung của Dự án đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các Bộ, ngành và đơn vị chuyên môn thực hiện từ tháng 5/2015. Đến nay, Báo cáo kết quả đánh giá bổ sung kết quả tác động của Dự án đến sông Đồng Nai đã được Hội đồng thẩm định thống nhất thông qua, Bộ Xây dựng cơ bản thống nhất với các nội dung trong Công văn số 62/BTNMT-TNN.m ngày 23/3/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Do đó, đề nghị chỉnh sửa Mục 2.1 như sau: “Tổ chức rà soát, điều chỉnh dự án đảm bảo phù hợp với đồ án Điều chỉnh tổng thể quy hoạch chung tỷ lệ 1/10.000 thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt tại Quyết định số 2302/QĐ-UBND ngày 25/7/2014 của UBND tỉnh Đồng Nai.

Sau khi hoàn thành, khu vực này sẽ hình thành khu khách sạn, nhà phố thương mại, siêu thị, chung cư, cao ốc văn phòng, công viên trên sông. Ảnh: Dân trí
Sau khi hoàn thành, khu vực này sẽ hình thành khu khách sạn, nhà phố thương mại, siêu thị, chung cư, cao ốc văn phòng, công viên trên sông. Ảnh: Dân trí

Về phía Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kiến nghị bổ sung tính toán và luận chứng cụ thể trên cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định tần suất lũ tính toán phù hợp với diễn biến lũ trong điều kiện biến đổi khí hậu và cơ sở hạ tầng trên sông, ven sông trong phạm vi tính toán.

Tính toán cụ thể ảnh hưởng trong các trường hợp lấn sông ứng với lũ tính toán, lũ lịch sử năm 1952 và lũ tháng 10/2000, so sánh với trường hợp chưa lấn sông về chiều sâu ngập, diện tích ngập, thời gian duy trì lũ để đề xuất giải pháp.

Đồng thời, bổ sung tính toán ứng với nhiều cấp lưu lượng, đặc biệt là đối lưu lượng tạo lòng, đây là cấp lưu lượng tác động rất lớn đến hình thái lòng dẫn. Cùng với đó, bổ sung phạm vi tính toán đối với các khu vực lân cận (thượng, hạ lưu khu vực lấn sông) để có cơ sở đánh giá toàn diện đến xói lở lòng dẫn, kể cả xói lở theo phương đứng và xói lở theo phương ngang.

Mặt khác, bổ sung tính toán các trường hợp lấn sông bằng mô hình vật lý để đảm bảo độ chính xác, phù hợp với Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8419:2010 về Công trình thủy lợi – Thiết kế công trình bảo vệ bờ sông để chống lũ.

Đối với việc di chuyển trạm thủy văn Biên Hòa: đề nghị xác định vị trí sẽ di dời, đồng thời tính toán, xây dựng mối quan hệ giữa chuỗi số liệu đã đo đạc của trạm thủy văn tại vị trí cũ với vị trí mới, đảm bảo tận dụng được chuỗi số liệu trong quá khứ, phục vụ hiệu quả công tác nghiên cứu, phòng chống thiên tai.

Đối với việc thực hiện khi chưa được Chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền cấp phép, đề nghị làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm các hành vi thực hiện lấn lòng sông, bãi sông, vi phạm Luật Đê điều và luật Phòng, chống thiên tai.

Kết quả nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các Bộ sẽ được bổ sung, hoàn chỉnh vào Báo cáo phân tích, tính toán đánh giá bổ sung chế độ dòng chảy, diễn biến lòng sông, sinh thái thủy vực sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến cầu Ghềnh và kèm theo Văn bản báo cáo việc tiếp thu, giải trình đề nghị gửi lại Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 15/9/2017.

Trang Phương – Khải Minh

.

Bài viết mới nhất