Tài nguyên nước

(TN&MT) – Vừa qua, UBND tỉnh Hậu Giang đã chấp thuận chủ trương cho Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hậu Giang thực hiện việc liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân để đầu tư vào lĩnh vực cấp nước sạch nông thôn tại những khu vực Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn có trạm cấp nước hiện hữu, đang có nhu cầu nâng cấp, mở rộng để cung cấp nước sạch cho người dân.

Giám đốc Trung tâm Nước sạch & Vệ sinh Môi trường Nông thôn- Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hậu Giang, Nguyễn Văn Lòng cho biết: Trong thời gian qua, do thời gian sử dụng đã lâu, một số trạm cấp nước min bị hư hỏng, xuống cấp, nhưng vì khó khăn về kinh phí, nên chưa kịp thời nâng cấp được đã ảnh hưởng đến việc cấp nước sinh hoạt cho người dân. Do đó, “Với chủ trương này của UBND tỉnh Hậu Giang trong thời gian tới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Trung tâm liên doanh liên kết thu hút nguồn vốn từ các doanh nghiệp, cá nhân để đầu tư khắc phục các trạm cấp nước bị hư hỏng, xuống cấp, đồng thời xây dựng các trạm cấp nước tập trung ở những xã được tỉnh chọn xây dựng nông thôn mới”- Giám đốc Trung tâm Nước sạch & Vệ sinh Môi trường Nông thôn- Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hậu Giang, Nguyễn Văn Lòng cho hay.

Được biết, hiện nay Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn Hậu Giang đang quản lý tổng cộng 205 trạm cấp nước tập trung ở các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, trong đó có 173 trạm cấp nước mini. Tính đến giữa tháng 6/2017, các trạm cấp nước này đã cung cấp nước sạch đạt Quy chuẩn 02 của Bộ Y tế cho khoảng 37.000 hộ dân ở khu vực nông thôn, chiếm trên 25% tổng số hộ dân nông thôn của tỉnh.

Liên quan đến phần đất đang sử dụng xây dựng các trạm cấp nước do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn Hậu Giang đang quản lý, trong tổng số 205 trạm cấp nước thì có tới 173 trạm cấp nước hiện đang nằm trên phần đất của dân hiến hoặc cho mượn, với diện tích gần 50m2/trạm…Ông Nguyễn Văn Lòng, Giám đốc Trung tâm Nước sạch & Vệ sinh Môi trường Nông thôn- Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hậu Giang cho biết thêm: Để phục vụ cho quá trình chuyển đổi từ đơn vị sự nghiệp công lập sang công ty cổ phần trong giai đoạn 2018-2019), trung tâm tiến hành thẩm định tài sản tại các trạm cấp nước mini, nhưng hiện nay có một số trạm bị người dân đòi lại đất. Do đó, trong thời gian tới trung tâm sẽ kết hợp với chính quyền địa phương làm việc từng hộ đã hiến đất để tiến hành làm thủ tục sang tên cho trung tâm. Đối với trường hợp người dân đòi lại đất thì trung tâm sẽ xem xét lập thủ tục mua lại đất.

Lê Hùng

Đây là kết quả được triển khai tại địa bàn 21 tỉnh, thành khu vực miền núi phía Bắc, Tây nguyên và Nam trung bộ từ năm 2016-2020 với tổng vốn đầu tư hơn 225 triệu USD.

Trong đó, vốn vay ODA của Ngân hàng Thế giới (WB) 200 triệu USD; vốn đối ứng Chính phủ Việt Nam 25,5 triệu USD. Nguồn vốn trên được phân bổ 187 triệu USD cho hợp phần cấp nước sạch nông thôn; 17 triệu USD thực hiện hợp phần vệ sinh nông thôn và 21 triệu USD dành xây dựng năng lực, truyền thông, giám sát, đánh giá thực hiện.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Riêng tại địa bàn tỉnh Hà Giang, Chương trình Mở rộng quy mô Vệ sinh – Nước sạch nông thôn dựa trên kết quả được triển khai với nguồn vốn 11,8 triệu USD gồm 10,9 triệu USD vốn WB, vốn đối ứng địa phương 969 nghìn USD.

Số kinh phí trên được bố trí thực hiện 11.300 đầu đấu nối, tối thiểu 35 xã đạt vệ sinh toàn xã, 60 công trình vệ sinh trạm y tế, 114 công trình vệ sinh trường học và 5.150 công trình vệ sinh gia đình được xây mới, cải tạo.

Theo Đại Đoàn kết

(TN&MT) – Chiều 17/8, Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai vừa gửi công điện khẩn yêu cầu Công ty CP Thủy điện Thác Bà mở 2 cửa xả đáy vào 7 giờ sáng mai, 18/8. Như vậy, sẽ có 4 hồ thủy điện xả lũ vào cùng thời điểm, gồm Sơn La, Thác Bà, Tuyên Quang, Hòa Bình.

anh minh hoa
ảnh minh họa

Hồi 13 giờ ngày 17/8, mực nước hồ Thác Bà ở cao trình 57,75m (dưới mực nước dâng bình thường 0,25m). Lưu lượng đến hồ 1.958 m3/giây; tổng lưu lượng phát điện 370 m3/giây.

Thực hiện quy trình vận hành quy trình liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng, BCĐ Trung ương về PCTT yêu cầu Thủy điện Thác Bà mở 2 cửa xả đáy, với độ mở đảm bảo tổng lượng xả không nhỏ hơn lưu lượng đến hồ để đưa mực nước thượng lưu hồ về cao trình +57m và liên tục phát tối đa các tổ máy phát điện. Ngoài ra, theo dõi chặt chẽ diễn biến lưu lượng đến hồ, mực nước thượng, hạ lưu đập để kịp thời báo.

Trước đó, BCĐ Trung ương về PCTT cũng đã gửi công điện khẩn yêu cầu 3 công ty thủy điện Sơn La, Tuyên Quang, Hòa Bình xả lũ vào thời điểm 7 giờ sáng mai.

BCĐ trung ương về PCTT cũng đã gửi công điện tới Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, yêu cầu theo dõi sát tình hình để chủ động ứng phó, hạn chế thiệt hại do xả lũ hồ chứa gây ra. Theo đó, các tỉnh, thành phố nhanh chóng thông báo đến các cấp chính quyền, người dân, các tổ chức có hoạt động trên sông, ven sông; cơ sở nuôi trồng thủy sản trên sông, phương tiện vận tải thủy; các bến đò ngang; các hoạt động sản xuất kinh doanh, khai thác cát sỏi biết thông tin xả lũ các hồ thủy điện để chủ động các biện pháp phòng tránh đảm bảo an toàn về người, tài sản. Cần rà soát phương án phòng chống lũ đảm bảo an toàn cho hạ du, đặc biệt là hệ thống đê điều, các khu tập trung dân cư ở bãi sông để sẵn sàng triển khai ứng phó.

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương cho biết, trong ngày và đêm nay (17/08), vùng xoáy thấp di chuyển sang khu vực Thượng Lào và suy yếu dần, ở Bắc bộ có mưa, mưa vừa, có nơi mưa to và rải rác có giông. Mưa lớn tập trung ở các tỉnh vùng núi và trung du Bắc bộ với lượng mưa 20-50mm, có nơi trên 70mm.

Tình hình mưa lũ thượng nguồn còn diễn biến phức tạp, tùy theo tình hình thực tế có thế tiếp tục phải mở thêm các cửa xả đáy. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai đề nghị Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các tỉnh, thành phố thông báo đến các cấp chính quyền, người dân, các tổ chức có hoạt động trên sông, ven sông; cơ sở nuôi trồng thủy sản trên sông, phương tiện vận tải thủy; các bến đò ngang; các hoạt động sản xuất kinh doanh, khai thác cát sỏi biết thông tin xả lũ các hồ thủy điện để chủ động các biện pháp phòng tránh đảm bảo an toàn về người, tài sản. Rà soát phương án phòng chống lũ đảm bảo an toàn cho hạ du, đặc biệt là hệ thống đê điều, các khu tập trung dân cư ở bãi sông để sẵn sàng triển khai ứng phó.

Yêu cầu các cơ quan thông tin, truyền thông tăng thời lượng và tần suất đưa tin trên các phương tiện, nhất là hệ thống phát thanh tại các phường, xã về việc xả lũ các hồ chứa. Đồng thời phối hợp với các cơ quan chuyên môn hướng dẫn kỹ năng phòng tránh lũ cho người dân và các cơ quan, đơn vị liên quan để triển khai ứng phó, giảm thiểu thiệt hại do xả lũ hồ chứa gây tránh.

K

(TN&MT) – Theo Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Hưng Yên, đến tháng 7-2017, tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (gồm QC VN01 và QC VN02) trên địa bàn tỉnh đạt 60,5%, tăng gần 6% so với cùng thời điểm năm 2016.

Nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trên địa bàn tỉnh hiện được cung cấp từ các trạm cấp nước sinh hoạt tập trung, có nguồn nước thô khai thác từ nước ngầm hoặc nước mặt của các sông lớn, qua hệ thống lắng lọc, xử lý hoá chất đáp ứng được các chỉ tiêu chất lượng, an toàn cho sức khỏe người sử dụng.

Trạm cấp nước sạch nông thôn ở huyện Phù Cừ.
Trạm cấp nước sạch nông thôn ở huyện Phù Cừ.

Với chính sách xã hội hoá, thu hút các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư cho nước sạch nông thôn, mỗi năm tỉnh Hưng Yên phấn đấu có thêm từ 8 đến 10% số hộ dân được lắp đặt, sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia.

                                                                                                    Trần Tuấn

(TN&MT) – Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đề nghị UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo nghiên cứu, quán triệt và tuyên truyền, phổ biến việc thực hiện Nghị định quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Từ 1/9, muốn khai thác tài nguyên nước dưới đât phải xin cấp quyền khai thác
Từ 1/9, muốn khai thác tài nguyên nước dưới đât phải xin cấp quyền khai thác

Để triển khai Nghị định số 82/2017/NĐ-CP  của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, ngày 4/8/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành công văn số 3972/BTNMT-TNN về việc đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo nghiên cứu, quán triệt và tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông hoặc các hình thức phù hợp khác để đảm bảo việc thực hiện Nghị định nêu trên ngay sau khi có hiệu lực thi hành (01/9/2017); đồng thời, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tập trung nghiên cứu kỹ nội dung quy định của Nghị định, có kế hoạch để tổ chức triển khai thực hiện, trước mắt tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Một là, chỉ đạo việc rà soát giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên trên địa bàn tỉnh làm cơ sở tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Trường hợp chưa có hoặc chưa đấy đủ thì chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục thuế tỉnh tham mưu để ban hành làm cơ sở để tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định của Nghị định nêu trên.

Hai là, chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát công tác cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh trên địa bàn và thực hiện một số công việc sau:

(i) Rà soát, lập danh sách các chủ giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất đã được cấp phép thuộc trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định tại Điều 3 của Nghị định. Trên cơ sở đó thông báo đến từng chủ giấy phép để yêu cầu thực hiện việc tính tiền theo quy định của Nghị định và nộp hồ sơ về Sở Tài nguyên và môi trường, bảo đảm hoàn thành trước ngày 30/8/2018.

(ii) Rà soát các hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất đang được Sở Tài nguyên và Môi trường xử lý, thông báo đến các tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định tại Điều 3 của Nghị định để thực hiện việc tính tiền theo quy định của Nghị định và nộp bổ sung hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước để lồng ghép việc thẩm định hồ sơ tính tiền cùng với hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

(iii) Kể từ sau ngày 01/9/2017, Sở Tài nguyên và Môi trường cần thực hiện việc tiếp nhận, tổ chức thẩm định đồng thời hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cùng với hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất theo quy định của Nghị định đối với các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất thuộc trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định tại Điều 3 của Nghị định.

Công văn cũng nêu rõ, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị UBND tỉnh phản ánh về Bộ Tài nguyên và Môi trường để xem xét, hướng dẫn.

Trang Phương

(TN&MT) – Đây là vấn đề được Bộ TN&MT chỉ ra tại Báo cáo Môi trường đô thị năm 2016, cho dù đã có cải thiện ít nhiều song ô nhiễm nước mặt tại các sông, ngòi chảy qua đô thị vẫn đang là vấn đề nổi cộm tại hầu hết các tỉnh, thành phố lớn. Các thông số đặc trưng cho ô nhiễm hữu cơ (BOD5, COD), chất dinh dưỡng (Amoni) đều vượt Quy chuẩn Việt Nam 08-MT:2015/BTNMT.

Nguyên nhân chủ yếu được chỉ ra tại Báo cáo môi trường đô thị 2016 cho thấy, do một lượng lớn nước thải sinh hoạt đô thị, nước thải từ mốt số cơ sở sản xuất trong nội đô… chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu thải trực tiếp ra các con sông, kênh, mương chảy qua nội đô. Đặc biệt, mức độ ô nhiễm đã trở nên nghiên trọng tại hai đô thị lớn nhất của cả nước là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Sở TN&MT Hà Nội cho biết, các hồ tại thủ đô Hà Nội luôn trong chế độ giàu dinh dưỡng do hàm lượng PO43+ và NH4+ trong nước xả vào hồ khá lớn (nồng độ PO43- từ 8 – 15 mg/l). Do hiện tượng nước nở hoa nên một lượng chất bẩn hữu cơ (theo BOD5) đáng kể bổ sung vào nước sông, hồ (từ 1,2 đến 5 mg/l). Hiện tại, mức ô nhiễm theo các chỉ tiêu chất lơ lửng và BOD5 gấp 5 – 20 lần so với tiêu chuẩn quy định đối với nguồn nước mặt. Tại TP. Đà Nẵng, toàn thành phố có 30 hồ phân bố không đồng đều trong phạm vi nội đô với tổng diện tích mặt nước 1.793.894 km2, trong đó, hồ Bàu Tràm ở quận Liên Chiều có diện tích lớn nhất (30% tổng diện tích), có 25 hồ có diện tích trên 10.000 m2, còn lại là các hồ nhỏ. Những năm qua, một số hồ bị thu hẹp do phát triển đô thị, bị lấn chiếm hoặc do bồi lắng đã ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát và XLNT. 28/30 hồ (ngoại trừ hồ Công viên 29/3 và Thạch Gián – Vĩnh Trung) chưa có hệ thống thu gom nước thải nên lượng nước thải đô thị xả trực tiếp vào hồ. Những năm qua, một số hồ bị thu hẹp do phát triển đô thị, bị lấn chiếm hoặc do bồi lắng đã ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát và XLNT. 28/30 hồ (ngoại trừ hồ Công viên 29/3 và Thạch Gián – Vĩnh Trung) chưa có hệ thống thu gom nước thải nên lượng nước thải đô thị xả trực tiếp vào hồ.

Sông Tô Lịch đen kịt. Ảnh: Hoàng Minh
Sông Tô Lịch đen kịt. Ảnh: Hoàng Minh

Theo số liệu của Tổng cục Môi trường năm 2016 giai đoạn 2012 – 2016 cũng cho thấy, tại tất cả các đô thị, hàm lượng BOD5 trong nước đều vượt ngưỡng rất cao so với QCVN 08- MT:2015 (B1). Thậm chí tại một số nơi như hồ Tam Bạc (Hải Phòng), Hồ Thành (Bắc Ninh) đều có hàm lượng vượt rất), Hồ Thành (Bắc Ninh) đều có hàm lượng vượt tới hơn 2 lần quy chuẩn cho phép. Tại nhiều đô thị, hồ đã trở thành nơi chứa nước thải, nước không có sự lưu thông. Phần lớn các hồ nội thành, nội thị ở các cấp loại đô thị đều bị ô nhiễm chất hữu cơ và chất dinh dưỡng ở mức độ khác nhau. Ô nhiễm nước hồ xảy ra không chỉ ở các thành phố lớn (loại đặc biệt, loại I) mà tại các đô thị nhỏ hơn (cấp II, cấp III). Đây cũng là vấn đề nổi cộm tại nhiều địa phương.

Tình trạng vứt rác bừa bãi, xả nước thải sản xuất chưa qua xử ly xuống lòng sông, kênh mương khá phổ biến. Bên cạnh đó, tình trạng lấn chiếm lòng sông, kênh mương xảy ra khắp nơi khiến diện tích mặt nước thu hẹp, cản trở dòng chảy.  Điển hình như tại TP. Hồ Chí Minh, kết quả quan trắc chất lượng nguồn nước vừa được Sở TN&MT công bố cho thấy, nguồn nước tại hệ thống kênh rạch ở TP. Hồ Chí Minh đang trong tình trạng ô nhiễm nặng nề. Các thành phần như BOD5 (nhu cầu oxy sinh học), COD (nhu cầu oxy hóa học), chỉ tiêu vi sinh (coliform), hàm lượng chất lơ lửng (SS), kim loại nặng… đều vượt tiêu chuẩn từ vài chục đến cả ngàn lần cho phép.

Bên cạnh đó, tình trạng lấn chiếm lòng sông, kênh mương xảy ra khắp nơi khiến diện tích mặt nước thu hẹp, cản trở dòng chảy. Tại 2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và TP. HCM, mức độ ô nhiễm hữu cơ và chất dinh dưỡng là vấn đề đã xảy ra nhiều năm và chưa có nhiều cải thiện, điển hình là một số sông, kênh như sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét (Hà Nội) và kênh Tân Hóa – Lò Gốm, kênh Ba Bò, kênh Tham Lương (TP. HCM). Nhiều tuyến kênh, đoạn sông sau cải tạo mức độ ô nhiễm đã giảm, song thời gian gần đây, mức độ ô nhiễm có xu hướng tăng trở lại. Tình trạng ô nhiễm sông, kênh mương nội thành đã trở thành vấn đề cần quan tâm giải quyết ở hầu hết các đô thị.

Hiện theo đánh giá của nhiều chuyên gia vấn đề ô nhiễm sông, hồ nội thị vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp, đòi hỏi các cơ quan liên quan đến môi trường cần phải có biện pháp căn cơ, giải pháp đồng bộ để đẩy lùi vấn đề này.

Linh Anh

(TN&MT) – Vừa qua, trên mạng xã hội có lan truyền thông tin về việc đáy sông Đồng Nai có dioxin, trong đó có ý kiến cho rằng, có những khu vực bãi bồi dưới sông Đồng Nai bị nhiễm chất độc da cam (dioxin) tích tụ thời trước năm 1975. Về việc này, Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai vừa có văn bản số 4515/STNMT-CCBVMT gửi các cơ quan chức năng, các cơ quan truyền thông về việc trả lời phản ánh trên mạng xã hội về “đáy sông Đồng Nai bị ô nhiễm dioxin”.

Chất lượng nước sông Đồng Nai vẫn đảm bảo an toàn về chất lượng nước cấp cho sinh hoạt của người dân
Chất lượng nước sông Đồng Nai vẫn đảm bảo an toàn về chất lượng nước cấp cho sinh hoạt của người dân

Theo đó, hàng năm Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai đều thực hiện việc quan trắc các thành phần môi trường (nước mặt, trầm tích, nước dưới đất, không khí và đất) trên địa bàn tỉnh Đồng Nai theo mạng lưới quan trắc môi trường đã được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt tại Quyết định số 1034/QĐ-UBND ngày 07/4/2016. Cụ thể, trong giai đoạn 2016 – 2020, thực hiện quan trắc chất lượng nước mặt tại 153 vị trí, quan trắc dòng chảy tại 20 vị trí, quan trắc trầm tích tại 45 vị trí, quan trắc nước dưới đất tại 105 công trình, quan trắc môi trường không khí tại 126 vị trí, quan trắc môi trường đất tại 91 vị trí.

Năm 2016, Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai cũng đã thực hiện nhiệm vụ quan trắc trầm tích tại các vị trí trên sông Đồng Nai theo Quyết định của UBND tỉnh Đồng Nai. Việc quan trắc các mẫu trầm tích đáy trên sông theo nhiệm vụ này được Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Đồng Nai phối hợp với Trung tâm Quan trắc Môi trường thuộc Tổng cục Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trung tâm Phân tích – Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, Trung tâm Môi trường và Sinh thái ứng dụng thực hiện theo QCVN 43:2012/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích, trong đó tiến hành phân tích 19 thông số, bao gồm cả thông số dioxin/furan.

Kết quả phân tích hàm lượng dioxin trong lõi trầm tích tại 7 vị trí trên sông Đồng Nai (Nhà máy nước Thiện Tân, Bến đò Biên Hòa – Bửu Long, Cầu Hóa An, Nhà máy nước Biên Hòa, các Cù lao: Cỏ, Hiệp Hòa, Baxê) theo nhiệm vụ này cho thấy có phát hiện sự hiện diện của dioxin/furan, với hàm lượng rất thấp, dao động từ 1,2 đến 3,7 ppt, thấp hơn nhiều lần so với ngưỡng giới hạn cho phép theo QCVN 43:2012/BTNMT là 21,5 ppt. Với kết quả phân tích như trên, không thể nói trầm tích sông Đồng Nai tại các khu vực này bị ô nhiễm dioxin như thông tin lan truyền trên mạng xã hội.

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai, việc tích tụ hàm lượng dioxin/furan trong trầm tích tại các khu vực này có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó không loại trừ nguyên nhân xuất phát từ việc phun rải hóa chất trừ cỏ do quân đội Mỹ đã thực hiện trong chiến tranh. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa được chứng minh rõ ràng.

Một trạm quan trắc nước mặt tự động của Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai theo dõi diễn biến chất lượng nước 24/24
Một trạm quan trắc nước mặt tự động của Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai theo dõi diễn biến chất lượng nước 24/24

Để theo dõi, giám sát chất lượng nước mặt sông Đồng Nai đoạn chảy qua khu vực lấy nước thô cấp nước cho các nhà máy cấp nước sinh hoạt, tỉnh Đồng Nai đã xây dựng mạng lưới quan trắc chất lượng nước mặt, tần suất quan trắc 02 tháng/lần với tất cả 28 thông số theo quy chuẩn nước mặt; đồng thời đầu tư lắp đặt các trạm quan trắc nước mặt tự động tại các vị trí: Xí nghiệp nước Vĩnh An, Nhà máy nước Biên Hòa – Trị An, Nhà máy nước Thiện Tân – huyện Vĩnh Cửu, Nhà máy nước Biên Hòa để theo dõi diễn biến chất lượng nước 24/24 và công bố quan trắc trên website của Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai.

Ngoài ra, tại khu vực bơm nước thô, các nhà máy xử lý nước cấp của TP.HCM và của Đồng Nai đều thực hiện lấy mẫu liên tục, thường xuyên để kiểm tra chất lượng nước thô và nước sau xử lý đảm bảo an toàn về chất lượng nước cấp cho sinh hoạt của người dân. Theo đó, chất lượng nước thô cấp cho các nhà máy cấp nước sinh hoạt tại các khu vực này đều ổn định và nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn cấp nước theo quy định.

Tường Tú

Số lượng nước sạch mà người dân huyện Củ Chi sử dụng khoảng 10.000m³/ngày, tương đương 53 triệu đồng. Trong 6 tháng đầu năm, Saigon Water lỗ hơn 91 tỷ đồng.

Ngày 3-8, UBND huyện Củ Chi, TPHCM tổ chức sơ kết công tác cung cấp nước sạch trên địa bàn huyện trong 6 tháng đầu năm 2017.

Ông Trương Khắc Hoành, Tổng Giám đốc Công ty CP Hạ tầng nước Sài Gòn (Saigon Water) cho biết, sau hơn 2 năm, công ty đã đầu tư lắp đặt hệ thống mạng lưới ống, bồn, đồng hồ nước với tổng vốn đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng nhưng người dân sử dụng nước sạch rất ít, gây lãng phí nguồn lực cũng như khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp.

Hiện tại, có hơn 70.000 đồng hồ nước đã lắp đặt đến nhà dân thì có đến 36.000 đồng hồ không sử dụng nước liên tục trong 6 tháng, chiếm tỷ lệ 51%.

Nhiều cơ quan nhà nước cũng không sử dụng nước hoặc sử dụng chỉ vài khối nước mỗi tháng.

Dù công ty có chính sách miễn phí 5 khối nước đầu tiên nhưng nhiều hộ chỉ dùng hết số lượng này rồi không sử dụng nữa.

Người dân mua nước sạch ở Củ Chi. Ảnh minh họa
Người dân mua nước sạch ở Củ Chi. Ảnh minh họa

Tại hội nghị, người dân cho rằng, nhiều xã mặc dù đã có mạng lưới ống cấp nước đi qua nhưng chưa được gắn đồng hồ. Bên cạnh đó, đơn vị cấp nước để đồng hồ cách xa nhà dân nên nhiều người không sử dụng vì bất tiện.

Nhiều người nêu ý kiến, tại sao cùng một tuyến hẻm mà chỉ gắn đồng hồ một bên, bên còn lại không gắn. Điều đáng nói là chất lượng đồng hồ không đảm bảo như khóa van dễ gãy, nhưng báo hư đơn vị khắc phục rất lâu. Bà con đề nghị đơn vị cấp nước khi chuyển nước vào bồn thì thông báo để người dân đến lấy chứ không biết lúc nào có nước.

Về việc cơ quan nhà nước và người dân sử dụng nước quá ít, ông Lê Đình Đức, Phó Chủ tịch UBND huyện Củ Chi cho biết, Huyện ủy và UBND đã có chỉ đạo cán bộ, đảng viên và các đơn vị trực thuộc phải sử dụng nước sạch và coi đó là tiêu chí để xét thi đua cuối năm.

Đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, UBND huyện đã giao phòng kinh tế thống kê danh sách để Saigon Water khảo sát lại.

Trong năm 2017, huyện Củ Chi đặt mục tiêu 98,5% hộ dân được cung cấp, tiếp cận và sử dụng nước sạch, trong đó số hộ dân đã được gắn đồng hồ sử dụng nước sạch là 80%.

Theo SGGP

Tổng cục Thủy lợi (Bộ NN&PTNT) yêu cầu các tỉnh từ Hà Giang đến Ninh Bình tập trung chỉ đạo bảo đảm an toàn cho hồ chứa thủy lợi và đề phòng ngập úng ở khu vực Bắc Bộ.

Tổng cục Thủy lợi vừa có công điện gửi Giám đốc Sở NN&PTNT các tỉnh từ Hà Giang đến Ninh Bình và Giám đốc các công ty khai thác công trình thủy lợi: Bắc Đuống, Bắc Hưng Hải, Sông Nhuệ, Bắc Nam Hà yêu cầu tập trung cao độ nhằm bảo đảm an toàn cho hồ chứa thủy lợi và đề phòng ngập úng trong đợt mưa lớn tại khu vực này từ ngày 3-6/8.

Tổng cục Thủy lợi cho biết, theo bản tin dự báo của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương, từ ngày 2/8 , khu vực Tây Bắc, Việt Bắc đã có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to. Dự báo, từ ngày 3-6/8 ở Bắc Bộ có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to (từ 100-250 mm) và dông. Do ảnh hưởng của lượng mưa tương đối lớn từ đầu mùa mưa đến nay, lượng nước trữ tại một số hồ chứa thủy lợi ở khu vực Bắc Bộ tương đối cao, nhiều hồ đã đầy nước, nếu có mưa lớn bổ sung thì nguy cơ cao xảy ra mất an toàn hồ chứa và ngập úng ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Để bảo đảm an toàn các hồ chứa nước thủy lợi và đề phòng ngập úng, Tổng cục Thủy lợi yêu cầu các đơn vị có liên quan tăng cường kiểm tra an toàn hồ chứa, đặc biệt các hồ chứa xung yếu; tổ chức trực ban tại công trình 24/24 giờ; theo dõi chặt chẽ mực nước và lưu lượng nước đến hồ, chủ động hạ thấp mực nước theo đúng quy định tại quy trình vận hành hoặc khi công trình có nguy cơ xảy ra sự cố.

Triển khai phương án bảo đảm an toàn cho các công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa nước; phương  án phòng, chống lũ, lụt vùng hạ du hồ chứa, đặc biệt  là các công trình đang thi công xây dựng mới và sửa chữa, nâng cấp.

Cùng với đó cần chủ động vận hành công trình để tiêu thoát nước đệm trong các hệ thống công trình thủy lợi ở Đồng bằng Bắc Bộ trong trường hợp có mưa lớn, khả năng xảy ra tình trạng ngập úng.

Cập nhật thường xuyên dự báo mưa, lũ của các cơ quan khí tượng thủy văn và chỉ đạo từ cấp có thẩm quyền; kịp thời điều chỉnh phương án vận hành hệ thống công trình thủy lợi phù hợp với tình hình thực tế.

Theo Chinhphu.vn

(TN&MT) – 15 năm qua, cùng với sự lớn mạnh, phát triển vượt bậc, Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ TN&MT) đã quản lý tốt nguồn nước và góp phần giúp cộng đồng xã hội hiểu tầm quan trọng của nguồn tài nguyên này. Nhìn lại chặng đường đã qua, phóng viên Báo Tài nguyên và Môi trường trao đổi với ông Hoàng Văn Bẩy (ảnh) – Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước xung quanh việc xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật tài nguyên nước.

Ông Hoàng Văn Bẩy - Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ TN&MT
Ông Hoàng Văn Bẩy – Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ TN&MT

PV: Những năm qua, hệ thống văn bản pháp luật về tài nguyên nước (TNN) đã được Bộ TN&MT tập trung xây dựng, từng bước hoàn thiện, tạo lập hành lang pháp lý cơ bản cho công tác quản lý TNN từ Trung ương đến địa phương. Ông có thể cho biết, một số kết quả nổi bật trong lĩnh vực TNN?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy: Ngay sau khi Luật Tài nguyên nước được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012, Bộ TN&MT đã tập trung chỉ đạo khẩn trương xây dựng, trình ban hành tổng số 38 văn bản bao gồm: 6 Nghị định của Chính phủ (Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước; Nghị định 43/2015/NĐ-CP quy định hành lang bảo vệ nguồn nước…), 14 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và ban hành 18 Thông tư.

Cơ chế tài chính, chủ trương kinh tế hóa trong lĩnh vực tài nguyên nước đã được thể chế hóa trong Luật Tài nguyên nước, Nghị định về thu tiền cấp quyền khai thác TNN và thông qua các văn bản đã được Bộ Tài chính ban hành như quy định về quản lý nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế trong quản lý TNN, quy định tăng thuế khai thác sử dụng TNN, tiền cấp quyền khai thác TNN và quy định về phí thẩm định hồ sơ cấp phép.

Bên cạnh đó, để bảo đảm quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ TNN theo phương thức tổng hợp, toàn diện và hiệu quả cao nhằm giữ vững an ninh nguồn nước quốc gia cho trước mắt và lâu dài, góp phần phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh trước diễn biến của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sự suy giảm nguồn nước, ngày 23/1/2014, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp TNN giai đoạn 2014 – 2020.

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện. Đến nay, Bộ TN&MT đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông lớn, quan trọng và đang phát huy tác dụng của cơ chế phối hợp vận hành liên hồ, điều tiết nước (bao gồm các lưu vực sông: Ba, Vu Gia – Thu Bồn, Sê San, Srepok, Mã, Cả, Kôn – Hà Thanh, Trà Khúc, sông Hồng, Đồng Nai và lưu vực sông Hương) nhằm giảm lũ cho hạ du, tăng hiệu quả sử dụng nước và đảm bảo nguồn nước cho sản xuất ở khu vực hạ du trong mùa cạn.

Công tác quản lý lưu vực sông, quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng TNN, điều hòa phân bổ nguồn nước trên các lưu vực sông, Cục đã trình Bộ để trình Thủ tướng Chính phủ thành lập các Ủy ban Lưu vực sông, phê duyệt Danh mục Lưu vực sông gồm 392 sông liên tỉnh làm căn cứ để triển khai các hoạt động quản lý lưu vực sông, phân công, phân cấp quản lý; Bộ đã ban hành Danh mục Lưu vực sông nội tỉnh gồm trên 3.045 sông nội tỉnh.

Công tác điều tra cơ bản về TNN đã được triển khai trên tất cả các mặt: điều tra đánh giá TNN mặt, nước dưới đất; tình hình khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước.

Công tác bảo vệ TNN đã được tích cực triển khai như: xây dựng và triển khai thực hiện các quy định pháp luật để bảo vệ hành lang bảo vệ nguồn nước, bảo vệ lòng, bờ bãi sông, phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; lập quy hoạch TNN,…

Về hợp tác quốc tế nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước liên quốc gia được quan tâm, chú trọng. Đặc biệt, việc gia nhập Công ước của Việt Nam vào đầu năm 2014, với tư cách là thành viên thứ 35, đã chính thức đưa Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho mục đích phi giao thông thủy sau 17 năm thông qua (từ năm 1997) chính thức có hiệu lực thi hành từ Quý III năm 2014.

Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng về TNN, từ năm 2011 đến nay, việc tổ chức Lễ mít tinh quốc gia và các hoạt động tuyên truyền hưởng ứng Ngày Nước thế giới 22/3 hàng năm đã thu hút được sự quan tâm và tham gia tích cực của toàn xã hội, có ý nghĩa và sức lan tỏa cao, góp phần làm thay đổi nhận thức, hành vi, thói quen và cách ứng xử với TNN ở hiện tại và tương lai;…

Bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ TNN trên lưu vực sông. Ảnh: MH
Bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ TNN trên lưu vực sông. Ảnh: MH

PV: Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý về TNN vẫn còn có nhiều khó khăn, tồn tại. Nguyên nhân có phải do còn “lỗ hổng” trong pháp luật về TNN không, thưa ông?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy: Có thể nói, công tác lập quy hoạch TNN còn chậm do đây là một công việc mới, phức tạp, liên quan đến nhiều ngành và nguồn kinh phí bố trí cho công tác này còn chưa đáp ứng được nhu cầu.

Việc điều hòa, phân bổ nguồn nước giữa các ngành, địa phương đòi hỏi phải có sự tính toán cụ thể và sự đồng thuận cao, trong khi chưa thành lập được tổ chức lưu vực sông; các công trình khai thác, sử dụng nước lớn cho các mục đích khác nhau hầu hết đã được xây dựng hoặc đã được phê duyệt quy hoạch, đang triển khai, do vậy việc điều chỉnh mục tiêu nhiệm vụ, phân bổ, điều tiết lại khai thác sử dụng nước của các công trình này là hết sức khó khăn và phức tạp.

Thông tin, dữ liệu, số liệu điều tra, đánh giá, quan trắc TNN còn phân tán và chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý TNN, nhất là phục vụ công tác chỉ đạo điều hành, công tác dự báo, thẩm định hồ sơ cấp phép ở cả cấp Trung ương và địa phương. Các vấn đề mang tính liên ngành, như: quy hoạch, phát triển, khôi phục rừng đầu nguồn, bảo vệ nguồn sinh thủy; bảo vệ nguồn nước trong quá trình thực hiện các dự án thủy điện, thủy lợi, nuôi trồng thủy sản… chưa có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa cơ quan quản lý TNN với các cơ quan, Bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh. Bộ máy quản lý Nhà nước về TNN ở địa phương còn nhiều bất cập, cho đến nay hầu hết tổ chức bộ máy quản lý TNN ở cấp Sở cũng như cấp huyện chưa đáp ứng yêu cầu để thực hiện các nhiệm vụ quản lý TNN theo quy định của Luật TNN năm 2012 và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; …

PV: Trong thời gian tới đây, Cục có định hướng các nhiệm vụ trọng tâm trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý TNN như thế nào, thưa ông?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy: Nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý TNN, trong thời gian tới, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về TNN, nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu của công tác quản lý TNN là tập trung triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách quản lý đã được thể chế hóa trong Luật TNN 2012 và các văn bản đã được ban hành trong thời gian qua. Cụ thể:

Một là, xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trọng tâm là rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định về cấp phép khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, xử lý, trám lấp giếng không sử dụng; bảo vệ NDĐ, các định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá… để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình mới; xây dựng các quy định, hướng dẫn xác định và công bố dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu hồ chứa để quản lý, giám sát chặt chẽ hơn các hoạt động vận hành hồ chứa.

Hai là, rà soát, tổng kết, đánh giá tình hình vận hành các hồ chứa, trên cơ sở đó điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các Quy trình vận hành liên hồ chứa nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp vận hành điều tiết nước đáp ứng yêu cầu về phòng, chống, giảm lũ, cấp nước mùa cạn và phát điện của các hồ chứa.

Ba là, chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai các quy định của pháp luật về TNN, trọng tâm là các quy định mới như: Ưu đãi đối với việc sử dụng nước tiết kiệm hiệu quả, lập và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước; triển khai thu tiền cấp quyền khai thác TNN; giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng TNN, xả nước thải vào nguồn nước trên cơ sở áp dụng hệ thống thông tin, công nghệ tự động trực tuyến; giám sát việc vận hành của các hồ chứa theo quy trình liên hồ và việc xả dòng chảy tối thiểu.

Bốn là, tập trung xây dựng quy hoạch TNN; xây dựng quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản TNN; đẩy mạnh công tác điều tra tìm kiếm nguồn nước dưới đất ở vùng khan hiếm nước, thiếu nước, hải đảo; nghiên cứu xây dựng để sớm đưa vào hệ thống giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng TNN, xả nước thải vào nguồn nước, giám sát việc vận hành của hệ thống liên hồ chứa, vận hành duy trì dòng chảy tối thiểu của các hồ chứa thủy điện… bằng công nghệ tự động, trực tuyến.

Năm là, tập trung kiểm tra, thanh tra và kiên quyết xử lý vi phạm đối với việc vận hành giảm lũ cho hạ du, điều tiết nước trong mùa cạn, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu của các hồ theo quy trình liên hồ chứa; bảo đảm khai thác sử dụng công bằng hợp lý nguồn nước chung của 6 quốc gia trên lưu vực sông Mê Công và bảo đảm sử dụng nước ở bất kỳ một quốc gia nào cũng không được gây hại đáng kể cho các quốc gia khác theo Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho mục đích phi giao thông thủy và thông lệ quốc tế.

Sáu là, tăng cường nguồn lực cho công tác quản lý TNN để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới, trọng tâm là nguồn lực để triển khai thực hiện, bao gồm cả kinh phí, tổ chức bộ máy và năng lực thực thi. Thành lập và sớm đưa vào hoạt động các Ủy ban LVS để tăng cường cơ chế điều phối, giám sát, phối hợp thực hiện, giải quyết các vấn đề liên vùng, liên ngành, liên địa phương trong khuôn khổ LVS, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ TNN trên LVS. Tuyên truyền phổ biến rộng rãi, hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

PV: Trân trọng cảm ơn Cục trưởng!

Thúy Hằng (thực hiện)

Bài viết mới nhất