Tài nguyên nước

(TN&MT) – Được thành lập từ năm 2008, gần 10 năm qua, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chuyên môn, ngày càng vững mạnh trong công tác điều tra, đánh giá, quy hoạch, quan trắc, cảnh báo và dự báo tài nguyên nước, góp phần phục vụ hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước.

Xây dựng Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia vào năm 2020

Phấn đấu đến năm 2020 sẽ có quy hoạch tài nguyên nước quốc gia và quy hoạch tài nguyên nước các lưu vực sông lớn, Bộ TN&MT đề ra nhiệm vụ trọng tâm đẩy mạnh công tác quy hoạch tài nguyên nước.

Trên cơ sở đó, Bộ TN&MT chỉ đạo Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia triển khai kế hoạch trong năm 2017 phải tập trung nguồn lực thực hiện lập Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng – Thái Bình; lập quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Srêpốk; lập nhiệm vụ Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Cửu Long; Dự án “Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu Long.”

Đây là nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi cần được triển khai thực hiện hiệu quả công tác điều tra cơ bản cả về nước ngầm và nước mặt, kế hoạch điều tra cơ bản mang tính lâu dài, đặc biệt, có sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước với công tác quy hoạch tài nguyên nước. Cần củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy; tăng cường đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực; rà soát kiện toàn, nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo, quản lý các đơn vị trực thuộc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Công tác hợp tác quốc tế được chú trọng, đặc biệt, hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ phục vụ cho khai thác, xử lý nguồn nước.

Trong năm 2016, Trung tâm đã thực hiện triển khai lập Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng – Thái Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; thi công phục vụ chống hạn và xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, điển hình như Dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng cao, vùng khan hiếm nước”; Dự án “Điều tra, đánh giá tổng thể nguồn nước, cảnh báo, dự báo phòng chống khô hạn, xâm nhập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”; Dự án “Đầu tư xây dựng mới và nâng cấp mạng quan trắc nước dưới đất Đồng bằng sông Cửu Long”. Đây cũng là những nhiệm vụ quan trọng nhằm giải quyết triệt để tình trạng thiếu nước sinh hoạt luôn thường trực mỗi khi mùa khô đến, cũng như bảo đảm an ninh nguồn nước cho vùng khô hạn Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Ngoài các nhiệm vụ Bộ giao, Trung tâm đã phối hợp lập quy hoạch tài nguyên nước cho hơn 30 tỉnh, thành phố. Kết quả quy hoạch đã giúp các địa phương định hướng khai thác, sử dụng nước, bảo vệ nguồn nước.

Đẩy mạnh điều tra cơ bản tài nguyên nước

Công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước của Trung tâm được xem là nhiệm vụ trọng tâm, được triển khai thực hiện tương đối sâu rộng và đồng bộ. Trung tâm đã hoàn thành công tác biên hội, thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 và tổng hợp, xây dựng hồ sơ, sản phẩm kết quả điều tra, đánh giá cho 52 tỉnh, thành phố. Các kết quả của dự án giúp định hướng quy hoạch tài nguyên nước, xây dựng các kế hoạch dài hạn về điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất và phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước.

Điều tra, đánh giá tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 và 1:50.000 trên một số lưu vực sông lớn, liên tỉnh và các vùng kinh tế trọng điểm. Trung tâm đã hoàn thành đánh giá tổng quan tài nguyên nước dưới đất trên diện tích 15 tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ, vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, lưu vực các sông biên giới Việt Nam – Lào thuộc lưu vực sông Mã, sông Cả; lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn; vùng Thủ đô Hà Nội, vùng vành đai kinh tế biển ven vịnh Bắc Bộ, lưu vực sông Lô – Gâm, Bắc Sông Tiền…

Công tác điều tra, đánh giá phục vụ cung cấp nước cho vùng núi cao, vùng khan hiếm nước, phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và một số khu vực phía Bắc. Điều tra, đánh giá nguồn nước tại các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, vùng cao nguyên đá thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang; 5 đảo và cụm đảo Thanh Lân, Trà Bản, tỉnh Quảng Ninh; đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; đảo Hòn Tre, Hòn Chuối, tỉnh Kiên Giang và 40 vùng sâu thuộc 10 tỉnh Nam Bộ để phục vụ trực tiếp nhu cầu cấp nước của cộng đồng dân cư tại nhiều vùng lãnh thổ, góp phần ổn định chính trị xã hội, giữ vững an ninh và phát triển kinh tế.

Trung tâm đã và đang triển khai thực hiện Dự án số 1 “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng cao, vùng khan hiếm nước” để phòng, chống hạn, xâm nhập mặn ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả năm 2016, Trung tâm đã hoàn thành thi công 31/31 vùng với 100% lỗ khoan có nước với trữ lượng, chất lượng đảm bảo và đã kết cấu thành giếng khoan khai thác lâu dài, có thể xây dựng được 32 trạm cấp nước tập trung với công suất từ 300 – 1.300 m3/ngày đêm, nguồn nước đủ đáp ứng nhu cầu cấp nước sinh hoạt cho 325.745 người với mức 60 lít/ngày/người. Đồng thời, Trung tâm đã chủ trì, phối hợp cùng các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng để triển khai thực hiện dự án Điều tra, đánh giá tổng thể nguồn nước, cảnh báo, dự báo phòng chống khô hạn, xâm nhập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.

Chương trình “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước” là chương trình toàn diện, tổng thể, đồng thời, góp phần thu hẹp khoảng cách vùng, miền và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh và giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Trong đó, việc thực hiện thành công Dự án số 1 “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở vùng núi cao, vùng khan hiếm nước” sẽ có vai trò quyết định đến thành công của toàn bộ Chương trình.

Siết chặt bảo vệ tài nguyên nước

Thực hiện Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước tới năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006, hiện nay, Trung tâm đang triển khai Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” (giai đoạn I gồm 9 đô thị là: Hà Nội, Hải Dương, Thái Nguyên, Buôn Mê Thuật, Quy Nhơn, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Mỹ Tho). Đến nay, công tác thu thập, điều tra, phân tích tổng hợp dữ liệu để phục vụ xây dựng các phương án cũng như giải pháp bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất cơ bản đã hoàn thành ở các đô thị Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Buôn Mê Thuột và Hải Dương.

Ngoài ra, Trung tâm đang thực hiện điều tra xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất tầng Neogen từ Đà Nẵng đến Bình Thuận; Điều tra, đánh giá khả năng tự bảo vệ các tầng chứa nước vùng duyên hải đồng bằng Bắc Bộ (các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình).

Trung tâm đã hợp tác với Cộng hòa Liên bang Đức thực hiện dự án hỗ trợ kỹ thuật nguồn vốn ODA về Tăng cường năng lực quy hoạch và điều tra nước ngầm ở các khu đô thị tại Việt Nam (thực hiện ở một số tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Trung Bộ) và Tăng cường bảo vệ nước ngầm tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (khu vực bán đảo Cà Mau).

Trung tâm cũng đã đặc biệt quan tâm công tác hợp tác quốc tế và ngày càng mở rộng. Cho đến thời điểm này, Trung tâm đã chủ trì tổ chức được 26 Hội thảo khoa học trong nước, 6 Hội thảo quốc tế. Trung tâm đã và đang thực hiện 8 Dự án hợp tác quốc tế, tiêu biểu như: Ký thỏa thuận thực hiện Dự án “Tăng cường bảo vệ nước ngầm” do Đức tài trợ; Hội thảo tổng kết dự án IGPVN do Đức tài trợ; Hội thảo quốc tế pha 2 trong khuôn khổ Dự án “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam, dự án thí điểm tại lưu vực sông Đồng Nai” do Pháp tài trợ…

Xuất phát từ thực tế, cần có tài liệu hướng dẫn chuyên môn và sự thống nhất về nội dung, phương pháp, kỹ thuật thực hiện các nhiệm vụ điều tra, đánh giá, quan trắc, quy hoạch tài nguyên nước, Trung tâm QH&ĐTTNN đã tích cực tham gia, chủ trì xây dựng các Thông tư về lĩnh vực tài nguyên nước. Từ năm 2012 đến năm 2015, Trung tâm đã chủ trì xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ TN&MT ký ban hành 14 Thông tư về lĩnh vực tài nguyên nước. Đặc biệt, việc ban hành Thông tư số 42/2015/TT-BTNMT ngày 29/9/2015 của Bộ TN&MT quy định kỹ thuật quy hoạch tài nguyên nước có ý nghĩa quan trọng đối với công tác lập quy hoạch tài nguyên nước, một trong những nhiệm vụ cơ bản của Trung tâm. Theo đó, kể từ thời điểm Thông tư có hiệu lực, các dự án Quy hoạch tài nguyên nước được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ các quy trình kỹ thuật mà Thông tư đã quy định.

Bài và ảnh: Minh Trang – Hồng Nhung

(TN&MT) – Ủy hội sông Mê Công quốc tế và Ủy ban sông Mê Công các quốc gia đã và đang nỗ lực thực hiện Chiến lược phát triển lưu vực sông Mê Công để xây dựng một lưu vực kinh tế thịnh vượng và môi trường lành mạnh.

Sông Mê Công là một trong những con sông lớn trên thế giới, với diện tích lưu vực vào khoảng 795.000 km2, dài trên 4.800 km, tổng lượng dòng chảy hàng năm là 495 triệu m3. Lưu vực sông Mê Công trải rộng trên lãnh thổ của 6 quốc gia, bao gồm tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, một phần lãnh thổ Myanmar, 1/3 lãnh thổ Thái Lan, hầu hết lãnh thổ Lào và Campuchia và vùng Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Hạ lưu vực  sông Mê Công bao gồm các nước Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam là nơi sinh sống của hơn 70 triệu người dân, trong đó phần lớn sinh sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, dựa chủ yếu vào khai thác các nguốn tài nguyên thiên nhiên trong lưu vực, tỷ lệ đói nghèo rất cao (trên 40% ở Campuchia và Lào).

Dự báo dân số trong lưu vực sẽ tăng lên tới 77.8 triệu năm 2020. Sự gia tăng dân số được dự báo sẽ gia tăng áp lực lên nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên nước và đất và là nguyên nhân chủ yếu làm mất cân bằng sinh thái, và là các thách thức chủ yếu cho việc quản lý sử dụng tài nguyên nước, thực hiện các chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học trong lưu vực.

Tuyến Giao thông thủy TP. Cần Thơ
Tuyến Giao thông thủy TP. Cần Thơ

Từ đầu những năm 2000, đặc biệt là tốc độ phát triển trong lưu vực đã gia tăng một cách đáng kể. Các quốc gia ven sông đã điều chỉnh chiến lược và kế hoạch phát triển để nhanh chóng hồi phục nền kinh tế từ sau thời kỳ khủng hoảng cuối những năm 90 của thế kỷ trước. Hầu hết các hoạt động tập trung vào khai thác triệt để tiềm năng nguồn tài nguyên nước sông Mê Công cho mục tiêu phát triển kinh tế của các nước trong lưu vực, bao gồm phát triển thủy điện, chuyển nước từ lưu vực sông Mê Công sang bổ sung cho các lưu vực khác, mở rộng diện tích tưới cho sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, khai thác các tuyến giao thông thủy, cấp nước cho ngành sản xuất công nghiệp và nước cho sinh hoạt. Các quốc gia hạ lưu sông Mê Công coi phát triển tài nguyên nước là một trong những trọng tâm trong các chương trình quốc gia như xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.

Tuy vậy, kết quả từ nhiều nghiên cứu của Ủy hội cũng như các tổ chức quốc tế trong vùng đã cảnh báo tác động lũy tích của các hoạt động phát triển trong lưu vực sẽ là các nguyên nhân chính làm thay đổi đáng kể chế độ thủy văn dòng chính sông Mê Công trong vài thập kỷ tới, kéo theo các hệ lụy tác động về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái vùng hạ lưu, đặc biệt, trong bối cảnh ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn vùng.

Để phát huy tối đa lợi ích kinh tế của các hoạt động phát triển và giảm thiểu các tác động bất lợi đối với xã hội và môi trường trên toàn lưu vực, Ủy hội sông Mê Công quốc tế xác định việc xây dựng và thực hiện Quy hoạch phát triển lưu vực định hướng bền vững là việc làm cần thiết và cấp bách. Quy hoạch phát triển lưu vực là một quá trình xác định các giải pháp hài hòa các hoạt động phát triển trong lưu vực tuân thủ các nguyên tắc của quản lý tổng hợp tài nguyên nước, một mặt đảm bảo thúc đẩy phát triển và quản lý hiệu quả tài nguyên nước, đất và các tài nguyên khác; mặt khác tối ưu hóa các lợi ích kinh tế xã hội hài hòa với duy trì tính bền vững các hệ sinh thái quan trọng trong lưu vực; lồng ghép quản lý tài nguyên nước và tài nguyên đất; lồng ghép các sử dụng nước ngầm và nước mặt, giữa thượng lưu và hạ lưu; lồng ghép các cách tiếp cận đa ngành và đa mục tiêu, huy động sự tham gia của tất cả các thành phần liên quan, cả chính phủ và phi chính phủ. Một trong số các kết quả quan trọng từ xây dựng Quy hoạch phát triển lưu vực là đã xác lập và thống nhất một quy trình Quy hoạch phát triển lưu vực và làm căn cứ để Ủy hội xác định và kiến nghị các dự án và các chương trình phát triển quy mô lưu vực phù hợp

Từ kết quả của Quy hoạch phát triển lưu vực, Chiến lược Phát triển hạ lưu vực sông Mê Công dựa trên nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên nước thời kỳ 5 năm lần thứ nhất 2011 – 2015 đã được xác lập và hiện nay Ủy hội đang tiếp tục thực hiện Chiến lược Phát triển hạ lưu vực sông Mê Công giai đoạn 2016 – 2020. Mục tiêu của Chiến lược Phát triển lưu vực sông Mê Công là phát triển mọi tiềm năng vì lợi ích bền vững cho tất cả các quốc gia ven sông và ngăn ngừa sử dụng lãng phí nguồn nước lưu vực sông Mê Công, góp phần đạt được tầm nhìn chung cho lưu vực sông Mê Công là “một lưu vực sông Mê Công thịnh vượng về kinh tế, công bằng về xã hội và lành mạnh về môi trường”. Quy hoạch Phát triển lưu vực được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản là: Bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái; bình đẳng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; sử dụng nước công bằng và hợp lý; duy trì dòng chảy trên dòng chính; ngăn ngừa và ngừng các ảnh hưởng có hại; trách nhiệm của quốc  gia gây hại; tự do giao thông thuỷ và Ứng  phó với tình trạng khẩn cấp.

Sáu ưu tiên trong định hướng Chiến lược quản lý tổng hợp tài nguyên nước của Ủy hội đã được xác định và đã là các trọng tâm cho xác lập các chương trình hành động thực hiện Chiến lược qua các thời kỳ gồm: Tăng trưởng và phát triển kinh tế; thúc đẩy phát triển và thực hiện công bằng xã hội; xác lập các cơ sở pháp lý hỗ trợ cho quản lý TNN xuyên biên giới; bảo vệ môi trường; thực hiện công tác quản trị trong lưu vực và tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực trọng tâm của hợp tác Mê Công.

Kết quả quá trình xây dựng, đánh giá và lựa chọn các Kịch bản phát triển tối ưu không chỉ làm cơ sở cho các đàm phán đạt tới sự cân bằng tối ưu trong sử dụng tài nguyên và giảm thiểu các tác động về môi trường và xã hội, mà còn cung cấp những căn cứ quan trọng cho xây dựng Chiến lược Phát triển lưu vực dựa trên nguyên tắc của quản lý tổng hợp tài nguyên nước, khuyến cáo điều chỉnh các chương trình và kế hoạch phát triển của các quốc gia phù hợp với kịch bản toàn vùng, định hướng cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường cho tất cả các nước ven sông vùng hạ lưu vực cũng như cho toàn lưu vực sông Mê Công.

Quy hoạch Phát triển Lưu vực do Ủy hội sông Mê Công xây dựng đã phản ánh sự phù hợp trong phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo ở các quốc gia, xác định mục tiêu phát triển và các giá trị chung trên toàn lưu vực cần được bảo vệ. Quy hoạch Phát triển lưu vực sông Mê Công đã hỗ trợ thúc đẩy và tăng cường các mối liên kết trong quản lý tài nguyên nước giữa quốc gia và toàn lưu vực, chia sẻ các nhận thức về phát triển bền vững và thực hành các chỉ dẫn hành động trong tất cả các lĩnh vực của quản lý tổng hợp tài nguyên nước.

TRẦN ĐỨC CƯỜNG

Phó Chánh Văn phòng, Văn phòng thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam

Trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 46 dự án, công suất 1.403,6 MW được phê duyệt quy hoạch. Vừa qua, trong quá trình thực hiện rà soát quy hoạch, UBND tỉnh Nghệ An đã trình Bộ Công Thương loại khỏi quy hoạch 14 dự án thủy điện (35,15MW) có quy mô nhỏ, hiệu quả dự án không cao. Như vậy, hiện trên địa bàn tỉnh này có 32 dự án có tổng công suất 1.372,45 MW.

Đối với các dự án thủy điện vừa và nhỏ đã vận hành và đang được triển khai xây dựng ít có di dân tái định cư do đó ít ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân, công tác bồi thường GPMB thực hiện theo đúng quy định. Chỉ 3 dự án có số lượng di dân tương đối lớn với 5.009 hộ dân phải di dời là thủy điện Bản Vẽ: 3.022 hộ dân, Hủa Na: 1.402 hộ dân, Khe Bố: 585 hộ dân.

Có 11 dự án vận hành phát điện đã mang lại hiệu quả cung ứng sản lượng điện cho hệ thống điện quốc gia. Sản lượng điện phát từ các nhà máy thủy điện khoảng 2,1 tỷ kWh/năm. Đến thời điểm hiện nay, tổng sản lượng điện từ các nhà máy thủy điện phát lên hệ thống là 11,251 tỷ kWh; Cung ứng năng lượng để phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh; góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương (gần 600 lao động trực tiếp là các cán bộ kỹ sư, công nhân kỹ thuật); đóng góp một phần quan trọng vào ngân sách; (hàng năm thu các loại thuế khoảng 396 tỷ đồng).

Đoàn công tác của Bộ Công Thương kiểm tra tại thủy điện Nậm Mô (Kỳ Sơn)
Đoàn công tác của Bộ Công Thương kiểm tra tại thủy điện Nậm Mô (Kỳ Sơn)

Việc đầu tư các dự án thủy điện góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển thủy sản, phát triển nông nghiệp, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt, cải tạo khí hậu, phát triển du lịch… Đầu tư nâng cấp, xây mới các công trình giao thông, cấp điện, cấp nước phục vụ thi công các dự án thủy điện cũng góp phần nâng cao cơ sở hạ tầng kỹ thuật và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Ngoài những chế độ chính sách bồi thường, hỗ trợ mà người dân tái định cư các dự án thủy điện được hưởng theo các quy định của nhà nước, thời gian qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo các chủ đầu tư, các cấp, ngành, chính quyền địa phương quan tâm hỗ trợ cho đồng bào miền núi ổn định đời sống và sản xuất do ảnh hưởng từ các dự án thủy điện.

UBND tỉnh Nghệ An kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ về lương thực thời gian 36 tháng kể từ khi đến nơi ở mới mỗi khẩu 30kg/tháng. Hỗ trợ thêm 24 tháng lương thực cho đồng bào theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 627/TTg-KN ngày 11/5/2012. Các ngành lồng ghép các đề án, chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư, Chương trình 30A, áp dụng mô hình sản xuất mới để tăng thu nhập cho người dân vùng tái định cư như: chăn nuôi lợn rừng, trồng gừng dưới tán rừng, trồng cây rễ hương, trồng rau xanh, trồng cây trám ghép. Đến nay, các mô hình đã bước đầu phát huy hiệu quả, chăn nuôi lợn đã sinh sản, trồng rau, trồng rễ hương đã cho sản phẩm, đánh giá ban đầu khả năng dự án sẽ thành công.

Dự án “Đầu tư phát triển chè vùng tái định cư Nhà máy thủy điện Bản Vẽ” tại huyện Thanh Chương có tổng số vốn phê duyệt là 922 triệu đồng với diện tích 556ha. Đến nay, dự án đã trồng được 250ha, cây trồng phát triển tốt và bước đầu tạo thu nhập ổn định cho các hộ gia đình. Khi dự án đưa vào khai thác sẽ giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho đồng bào vùng tái định cư.

Theo Báo Công thương

Bài viết mới nhất