Tài nguyên nước

.

Hồ thủy lợi Triệu Thượng 2, huyện Triệu Phong (Quảng Trị) đang đứng trước nguy cơ mất an toàn rất cao. 4,3 triệu m3 nước của hồ chứa này đang đe dọa trực tiếp đến 3.000 người dân và 730 ha đất canh tác vùng hạ du.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Quảng Trị đã có tờ trình gửi UBND tỉnh, đề nghị ban bố tình trạng khẩn cấp đối với hồ chứa nước này.

Báo cáo ngày 5/12 của Công ty TNHHMTV Quản lý khai thác công trình thủy lợi Quảng Trị gửi Tổng cục Thủy Lợi (Bộ NN&PTNT) nêu rõ: Do ảnh hưởng của mưa bão năm 2017, đập Triệu Thượng 2 đã bị hư hỏng thêm, nếu không được sửa chữa kịp thời thì nguy cơ võ đập là rất lớn; ảnh hưởng trực tiếp đến 3.000 người dân, 730 ha đất canh tác cùng nhiều công trình dân sinh, hạ tầng kỹ thuật vùng hạ du.

Ngày 1/12/2017, Sở NN&PTNT Quảng Trị có tờ trình gửi UBND tỉnh này về việc công bố tình trạng khẩn cấp đập chính hồ Triệu Thượng 2. Theo đó,  từ cuối tháng 7 đến 25/10/2017, do mưa lũ phức tạp, hồ Triệu Thượng 2 đã tích nước đầy và tràn đã làm việc.

Đập đất hồ Triệu Thượng 2 đang đứng trước nguy cơ bị vỡ rất cao. Ảnh: Thanh Tùng.
Đập đất hồ Triệu Thượng 2 đang đứng trước nguy cơ bị vỡ rất cao. Ảnh: Thanh Tùng.

Theo kết quả giám định nguyên nhân sự cố, đây là thời điểm tiềm ẩn nhiều tác động bất lợi, gây mất an toàn đối với đập đất, dẫn đến nguy cơ mở rộng vết trượt mái hạ lưu đập chính hồ Triệu Thượng 2. Hiện cao trình vết trượt còn cách đỉnh đập 2,0 m, nguy cơ vỡ đập rất cao. Hồ chứa Triệu Thượng 2 được xây dựng từ năm 1989, là một trong 48 hồ chứa nước lão hóa, hư hỏng, xuống cấp, thường trực nguy cơ mất an toàn đối với vùng hạ du trong mùa mưa lũ.

Cùng với đó, tuy đã được phản ánh nhưng đến thời điểm này, Công trình đập dâng Nam Thạch Hãn, phục vụ tưới tiêu cho 15.000 ha lúa và đất đai canh tác của các huyện Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị vẫn không được cải thiện. Công trình thủy lợi này được xây từ năm 1978, sau nhiều năm sử dụng đã xuống cấp, thường trực nguy cơ mất an toàn. Tháng 10/2016, một trận lũ lớn đã cuốn phăng gần 1.000 m3 bê tông cốt thép kết cấu của con đập. Nước lũ cũng xói sâu tạo thành nhiều hốc rỗng trong thân đập khiến công trình đập dâng có tuổi đời gần 40 năm này thêm rệu rã.

Ông Nguyễn Sinh Công, Phó Tổng Giám đốc Công ty thủy lợi  Quảng Trị cho biết, khó khăn lớn nhất để duy trì nhiều hồ chứa được xây dựng từ  cách đây 30, 40 năm là kinh phí. Công ty được giao quản lý, khai thác 16 hồ chứa với tổng dung tích 190 triệu m3 nước, 8 đập ngăn mặn, 27 trạm bơm lớn nhỏ, phục vụ cho 31.000 ha lúa và đất canh tác của tỉnh Quảng Trị. Nhiều công trình đập, hồ chứa có tuổi thọ cao đã xuống cấp nhưng không có kinh phí đầu tư.

Theo quy định, các hồ, đập dâng có dung tích 10 triệu m3 trở lên, cứ sau 10 năm phải tiến hành kiểm định an toàn bằng phương pháp khoa học nhưng do thiếu kinh phí nên đơn vị được giao quản lý, khai thác chỉ có thể đánh giá bằng trực quan.

Theo Đại Đoàn Kết

(TN&MT) – Sáng 7/12, tại Hà Nội, Cục Quản lý tài nguyên nước tổ chức cuộc họp về Chương trình xây dựng Quy trình vận hành liên hồ chứa, định mức kinh tế – kỹ thuật quy chuẩn, tiêu chuẩn. Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên tham dự và phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp.
Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp
Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp
Báo cáo công tác xây dựng văn bản năm 2017, Cục trưởng Cục quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy cho biết: Cục Quản lý tài nguyên nước được giao nhiệm vụ xây dựng 10 Thông tư và 3 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, điều chỉnh bổ sung quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông và tham gia, phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung một số văn bản trong lĩnh vực tài nguyên nước.
Cụ thể, Cục đã thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung 3 Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng, sông Sê San và sông Mã trình Bộ để Bộ trình Thủ tướng Chính phủ tại các Tờ trình số: 95, 96, 97/TTr-BTNMT ngày 17/11/2017.
Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy đánh giá công tác xây dựng và ban hành văn bản năm 2017 vẫn còn tồn tại một số hạn chế như chậm tiến độ, lùi thời gian ban hành do có nội dung phức tạp, cần thêm thời gian để hoàn thiện.
Về nhiệm vụ, kế hoạch năm 2018, ông Hoàng Văn Bẩy cho biết Cục sẽ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trọng tâm là rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định về cấp phép khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, xử lý, trám lấp giếng không sử dụng; bảo vệ nước dưới đất, các định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá…để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới, xây dựng các quy định, hướng dẫn xác định và công bố dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu hồ chứa để quản lý, giám sát chặt chẽ hơn các hoạt động vận hành hồ chứa.
Cục trưởng Cục quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy báo cáo công tác xây dựng văn bản năm 2017 và nhiệm vụ, kế hoạch năm 2018
Cục trưởng Cục quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy báo cáo công tác xây dựng văn bản năm 2017 và nhiệm vụ, kế hoạch năm 2018
Năm 2018, Cục Quản lý tài nguyên nước cũng sẽ rà soát, tổng kết, đánh giá tình hình vận hành các hồ chứa, trên cơ sở đó, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các Quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp vận hành điều tiết nước đáp ứng yêu cầu về phòng, chống, giảm lũ, cấp nước mùa cạn và phát điện của các hồ chứa.
Đồng thời, Cục sẽ nghiêm túc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước; tiếp tục rà soát, thực hiện các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về tài nguyên nước theo Nghị quyết của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ, cập nhật các thủ tục hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch, chính xác.
Cục lên kế hoạch cụ thể là xây dựng Thông tư quy định nội dung, biểu mẫu, báo cáo trong lĩnh vực tài nguyên nước; Thông tư quy định về điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất; Quy chuẩn xây dựng các trạm quan trắc tài nguyên nước. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực các sông: sông Ba, sông Trà Khúc, sông Kôn – Hà Thanh, trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 3/2018.
Ông Hoàng Văn Bẩy kiến nghị tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước; tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về tài nguyên nước; nâng cao nhận thức cộng đồng về pháp luật tài nguyên nước, trong đó chú trọng nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử; tăng kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để có thể xin ý kiến tham vấn của các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học, tổ chức các buổi hội thảo để xây dựng được văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn triển khai; tăng kinh phí tuyên truyền, phổ biến pháp luật và công tác thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước; điều chỉnh thời gian trình Thủ tướng Chính phủ 3 Quyết định Sửa đổi, bổ sung quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba, Trà Khúc và sông Kôn – Hà Thanh.
Quang cảnh cuộc họp
Quang cảnh cuộc họp
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Thứ trưởng Trần Quý Kiên đánh giá, các văn bản quy phạm pháp luật năm 2017 mà Cục Quản lý tài nguyên nước xây dựng hoàn thành tiến độ trình Thủ tướng Chính phủ. Thứ trưởng lưu ý Cục phải bám sát văn phòng Chính phủ và phối hợp với Bộ NN&PTNT giải trình nhằm đảm bảo Thủ tướng ký ban hành các Quy trình vận hành liên hồ sớm nhất chứa để đảm bảo vận hành trong năm 2018.
Riêng các Thông tư, Thứ trưởng Trần Quý Kiên đề nghị Vụ Pháp chế chịu trách nhiệm tính hợp pháp, tính hiệu quả (tiến độ và chất lượng) và tính khả thi của Thông tư. Đặc biệt, đối với Thông tư quy định bảo vệ nước dưới đất và Thông tư quy định về việc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng, không được quy định dùng ngân sách nhà nước để trám lấp giếng vô chủ mà phải quy định chính quyền địa phương các cấp chịu trách nhiệm xử lý, trám lấp những giếng này cũng như xử lý các trường hợp khoan, khai thác giếng trái phép gây ô nhiễm môi trường.
Thứ trưởng Trần Quý Kiên yêu cầu những vấn đề cấp bách về tài nguyên nước chưa được giải quyết, cần dành thời gian nghiên cứu thời điểm thích hợp để sửa đổi cho phù hợp.
Về 3 Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba, Trà Khúc và sông Kôn – Hà Thanh, Thứ trưởng  Trần Quý Kiên chỉ đạo Cục Quản lý tài nguyên nước đến 30/6/2018 phải có Quy trình để gửi đến các Vụ chức năng trong Bộ trong tháng 7 và gửi đến Chính phủ trong tháng 8 để ban hành trước ngày 1/9/2018.
Riêng tiền cấp quyền, Thứ trưởng Trần Quý Kiên cho rằng Cục Quản lý tài nguyên nước cần xem kỹ quy định của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP, ngày 17/7/2017 của Chính phủ: Quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước để tính toán chi phí hợp lý cấp quyền khai thác tài nguyên nước và tiên lượng kinh phí hợp lý các phiên họp năm 2018.
“Cần chú trọng hợp tác quốc tế với các tổ chức chính phủ, phi chính phủ và các quốc gia, cố gắng khôi phục, đẩy mạnh hợp tác quốc tế để thể hiện vai trò to lớn của ngành tài nguyên nước” – Thứ trưởng Trần Quý Kiên chỉ đạo.
Tin & ảnh: Mai Đan

Mới đây, tại TP Rạch Giá (Kiên Giang), UBND 2 tỉnh Kiên Giang và An Giang đồng tổ chức hội thảo tổng kết thực hiện thỏa thuận quản lý nguồn nước giữa 2 tỉnh.

Thảo thuận hợp tác quản lý nước vùng Tứ giác Long Xuyên (TGLX) giữa 2 tỉnh được ký kết từ giữa năm 2013, với sự hỗ trợ của Tổ chức GIZ/ICMP (Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức/Chương trình quản lý tổng hợp vùng ven biển).

Theo đó, có 5 nội dung được 2 bên thống nhất hợp tác thực hiện, gồm: Những vấn đề quản lý nhà nước về tài nguyên nước, kiểm soát lũ, kiểm soát mặn, cấp nước sản xuất nông nghiệp và trách nhiệm các cấp chính quyền địa phương.

Các đại biểu tham gia hội thảo
Các đại biểu tham gia hội thảo

Từ thỏa thuận hợp tác, 2 bên cũng đã thống nhất các hoạt động triển khai cụ thể như: cập nhật, bổ sung, thiết lập cơ sở dữ liệu tài nguyên nước, công trình quản lý nước; xây dựng mô hình thủy văn – thủy lực phục vụ quản lý nước vùng TGLX; xây dựng quy trình vận hành hệ thống kiểm soát lũ vùng TGLX, kiểm soát mặn ven biển Tây; giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng về quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả và bảo vệ nguồn nước…

ThS Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái ĐBSCL cho rằng, tài nguyên nước, gồm cả nước ngọt, mặn và lợ, được xác định là vấn đề cốt lõi trong phát triển kinh tế ở ĐBSCL nói chung và và TGLX nói riêng. Vì vậy, rất cần có sự hợp tác, chia sẻ nguồn tài nguyên quý giá này, sao cho việc sử dụng phải hiệu quả, bền vững.

“Xu hướng hiện nay là tìm giải pháp thích ứng, thuận thiên là chính, tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên. Nên tiếp cận theo vùng nhưng phải có sự điều phối thống nhất để tạo sự iên kết vùng, theo nguyên tắc “không hối tiếc”, tức là cái gì chắc chắn, có tính khả thi cao thì ưu tiên làm trước, theo tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển tổng thể ĐBSCL”, ThS Thiện đề xuất.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lâm Quang Thi, khẳng định thỏa thuận hợp tác giữa 2 tỉnh mang lại liệu hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển kinh tế khá tốt. Thời gian tới, 2 bên sẽ tiếp tục triển khai thực hiện thỏa thuận, dù còn sự tài trợ của GIZ/ICMP nữa hay không. TGLX có tổng diện tích 498.141 ha, trong đó An Giang có 245.084 ha, Kiên Giang 237.879 ha, phần còn lại thuộc TP Cần Thơ. Vùng này trũng thấp nhưng bằng phẳng, thuận lợi trồng lúa, thủy sản nước ngọt và nuôi tôm nước lợ.

Theo Nông nghiệp VN

Liên quan đến việc công trình cấp nước sạch cho khu vực Phong Nha tại xã Sơn Trạch (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) xuống cấp do không vận hành hơn 10 năm qua. Trước nhu cầu cấp bách phục vụ dân sinh và du lịch, UBND tỉnh Quảng Bình đã giao cho Cty CP Cấp nước Quảng Bình làm chủ đầu tư dự án trên.

Hư hỏng toàn bộ

Sau khi liên hệ với chính quyền địa phương để nắm bắt sự việc. PV đã tìm tới công trình cấp nước sạch cho khu vực Phong Nha để kiểm tra hiện trường, xem xét sự xuống cấp.

Theo quan sát của PV, một số hạng mục của công trình đã bị hoen rỉ, bể chứa nước, chân móng tường bị nứt; đường ống dẫn nước cũng hư hỏng. Trong thời điểm này, nhân lực của Cty CP TV ĐTXD An Bình đang xây lắp nhà điều hành trạm tại cấp nước nói trên.

Ông Hoàng Triệu Dương – Phó Giám đốc Cty CP TV ĐTXD An Bình cho biết: “Vừa qua, đơn vị chúng tôi nhận tu sửa, thi công mới một số hạng mục thuộc công trình cấp nước sạch cho khu vực Phong Nha do phía Cty CP Cấp nước Quảng Bình làm chủ đầu tư.

Công trình cấp nước sạch khu vực Phong Nha, hiện đang được đầu tư mới
Công trình cấp nước sạch khu vực Phong Nha, hiện đang được đầu tư mới

Một số hạng mục cũ như bể chứa nước, tháp nước, đường ống cấp nước được làm mới gần như 100%. Trong đó, bể chứa nước do trước đây thi công với kết cấu không đảm bảo: xây gạch kết hợp lớp bê-tông gia cường mỏng nên bị thấm, không trữ được nước, thành bể bị nứt vỡ. Đường ống chính dẫn nước toàn tuyến dài 5.100m được lắp đặt lại.

Rút kinh nghiệm từ đơn vị thi công trước, các hạng mục được làm mới đợt này như nhà điều hành, bể hóa chất khử trùng bằng Clo và cải tạo bể chứa cũ, tu sửa tháp nước… chúng tôi sẽ cố gắng hoàn thiện ở mức cao nhất”.

PV cũng được thông tin thêm rằng: Với những công trình cấp nước kiểu xây lên rồi “đắp chiếu”: Sau khi hoàn thiện, tiến hành nghiệm thu bàn giao thì đơn vị thi công sẽ không chịu trách nhiệm trước các hư hỏng. Trách nhiệm sẽ gắn cho chủ đầu tư, do không khai thác, vận hành hiệu quả công trình.

Bể chứa cũ bị hư hỏng, không trữ được nước do nhiều nguyên nhân
Bể chứa cũ bị hư hỏng, không trữ được nước do nhiều nguyên nhân

Định giá và chuyển giao

Thời điểm khởi công Công trình cấp nước sạch khu vực Phong Nha vào cuối năm 2003, Sở Thương mại – Du lịch tỉnh Quảng Bình làm chủ đầu tư. Với quy mô công suất 3.000m³/ngày-đêm. Sau đó ít lâu, do nhiều nguyên nhân dẫn tới việc xây lên rồi vận hành kém hiệu quả. Công trình cứ thế đi vào quên lãng.

Thời điểm năm 2016, xác định du lịch hang động là hướng đi mũi nhọn để tăng trưởng kinh tế địa phương. Đồng thời, nhu cầu nhân dân khu vực Phong Nha cần nước sạch đã rất cao. Việc một công trình xây lên rồi bị “bỏ hoang” hơn 10 năm, hao phí ngân sách, bất bình dư luận, nên UBND tỉnh Quảng Bình đã giao cho Cty CP Cấp nước Quảng Bình phụ trách dự án trên, tái đầu tư.

Sau đó, đơn vị đã thuê Trung tâm Kiểm định Chất lượng Công trình Xây dựng Quảng Bình kiểm định, đánh giá chất lượng công trình cũ. Kết quả định giá tài sản cũ còn khoảng 2 tỷ đồng.

Nhà điều hành công trình cấp nước đang được nhân lực Cty CP TV ĐTXD An Bình xây lắp.
Nhà điều hành công trình cấp nước đang được nhân lực Cty CP TV ĐTXD An Bình xây lắp.

Từ thực tế đó, đơn vị đã bắt tay vào việc đầu tư mới. Với quy mô công suất 1.500m³/ngày-đêm. Tổng mức đầu tư hơn 11 tỷ đồng. Gồm các hạng mục chính: xây dựng công trình thu nước và trạm bơm cấp 1 bên sông Son; xây dựng cụm bể lắng lọc; xây dựng cụm khử nước cứng, khử trùng nước bằng Clo; xây dựng nhà quản lý điều hành; đầu tư lắp đặt lại mạng lưới đường ống phân phối dài 5.100m và hệ thống điện.

“Hiện khối lượng công việc đã hoàn thành một số. Thời gian thực hiện dự án đặt ra trong vòng 300 ngày. Dự kiến, mùa hè năm 2018 hệ thống cấp nước nói trên sẽ đi vào vận hành. Đảm bảo cấp đủ lượng nước sạch cho khu vực Phong Nha” – Ông Lê Văn Nghĩa – Phó Giám đốc Cty CP Cấp nước Quảng Bình chia sẻ.

Trông đợi làn gió mới

Anh Nguyễn Ngọc Điệp (thôn 1 Phong Nha, xã Sơn Trạch) từng chia sẻ với chúng tôi: Khi biết dự án nước sạch được đầu tư mới trở lại, chúng tôi rất mừng và mong chờ. Hệ thống đường ống dẫn nước đang được chủ đầu tư cho lắp đặt lại. Tuy vậy, chúng tôi vẫn quan ngại về chất lượng nước mặt từ sông Son. Không biết nhà máy nước sau khi bơm và xử lý có còn tình trạng nước bị nhiễm vôi, nhiễm hóa chất không?

Bởi những năm qua, thực trạng nước mặt nhiễm phèn, nước ngầm nhiễm vôi qua xử lý nhưng không khả quan, gây nên tâm lý ám ảnh cho nhân dân. Điều người dân đang băn khoăn, PV đã chuyển đến đơn vị cấp nước.

Mạng lưới đường ống dẫn nước được lắp đặt lại.
Mạng lưới đường ống dẫn nước được lắp đặt lại.

Ông Lê Anh Dũng – Chủ tịch HĐQT Cty CP Cấp nước Quảng Bình khẳng định: “Rút kinh nghiệm từ khâu thiết kế, thi công, vận hành Công trình cấp nước Phong Nha trước đây. Nên khi được chuyển giao, bắt tay vào đầu tư mới. Chúng tôi đã xác định nhu cầu thực tế tại địa phương để xây dựng dự án với quy mô công suất 1.500m³/ngày-đêm, đáp ứng đủ nhu cầu của dân cư.

Tiên lượng trước chỉ tiêu nước cứng tại sông Son nếu không xử lý tốt thì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm lý nhân dân. Cty đã đầu tư cụm xử lý khử nước cứng tại công trình lần này. Đường ống dẫn không sử dụng quá lâu, chúng tôi đã thay mới. Và giá bán nước thì chúng tôi sẽ bán với mức giá do UBND tỉnh quy định”.

Theo Báo Xây dựng

(TN&MT) – Đây là ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước tại buổi Tọa đàm “Vai trò tiềm năng của quy hoạch nước và năng lượng ở cấp độ hệ thống trong việc gìn giữ Đồng bằng Sông Cửu Long” được tổ chức tối ngày 29/11, tại TP.HCM. 

Đây là hoạt động đầu tiên trong chuỗi hội thảo và tọa đàm sẽ được tổ chức từ ngày 29/11 đến 2/12 tại TP.HCM  và Cần Thơ với nguồn vốn hỗ trợ của Tổng lãnh sự Mỹ tại Hồ Chí Minh, Quỹ Chino Cienega và Chương trình Ngoại giao nguồn Nước của Cơ quan Hợp tác Phát triển Thụy sỹ (SDC) thông qua Dự án “Xây dựng Đối thoại và Quản trị các Dòng Sông”.

Mục tiêu chính của hoạt động này là thúc đẩy cách tiếp cận quy hoạch tổng thể nước và năng lượng với sự tham gia của bên bên liên quan tại Mê Công; kết nối và chia sẻ thông tin giữa các viện nghiên cứu, các tổ chức quốc tế và các bên liên quan tại Việt Nam trong hợp tác nước – năng lượng xuyên biên giới; cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam và các bên liên quan về các cơ hội và các công cụ có thể áp dụng trong quy hoạch để tối ưu hóa việc sử dụng nước – năng lượng và giảm thiểu các tác động tiêu cực.

Quang cảnh buổi Tọa đàm
Quang cảnh buổi Tọa đàm

Theo các chuyên gia, ĐBSCL của  Việt Nam là nơi sinh sống của hơn 18 triệu dân, sản xuất hơn nửa sản lượng lúa của Việt Nam và cung cấp 75% lượng hoa quả và nguồn lợi thủy sản cho cả nước.

Tuy nhiên, năng suất nông nghiệp của khu vực này phụ thuộc rất nhiều và nguồn phù sa và dinh dưỡng thường xuyên mà dòng sông Mê Công đem đến. Và, các dự án phát triển thủy điện ở thượng nguồn đang gây ra những tác động đe dọa đến chu trình luân chuyển này.

Trong khi đó, Chính phủ Lào đang đặt ra mục tiêu phát triển trọng tâm đưa quốc gia này trở thành “Bình ác quy của Đông Nam Á”. Để đạt được mục tiêu này, các nhà hoạch định chính sách tiến hành xây dựng nhiều dự án thủy điện mới nhưng lại thiếu một quy hoạch chiến lược ở cấp lưu vực. Điều này sẽ khiến Lào không những sẽ không đạt được mục tiêu doanh thu như mong muốn mà còn gây ra các tác hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nông nghiệp và thủy sản ở hạ lưu tại Việt Nam và Campuchia.

Mặc dù  Việt Nam và nhiều tổ chức trên thế giới có nhiều động thái quan ngại về kế hoạch cảu Lào,  nhưng Chính phủ Lào hiện đang lên kế hoạch xây dựng hai đập lớn trên dòng chính của sông Mê-Công và đang tiến hành tham vấn để xây dựng đập thứ ba. Đồng thời, Lào và Campuchia đang lên kế hoạch xây dựng hơn 130 con đập lớn (công suất trên 50MW) trên các dòng nhánh của sông Mê-Công vào 2030.

Một công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công đang được Lào xây dựng
Một công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công đang được Lào xây dựng. Ảnh: NĐT

Với vị thế vừa là quốc gia phát triển thủy điện ở thượng nguồn tại lưu vực sông 3S (Sê San, Srêpôk và Se Công) và cũng là nạn nhân hạ nguồn chịu tác động từ việc phát triển thủy điện thiếu quy hoạch, Việt Nam cần thúc đẩy sự tham gia của Lào và Campuchia cùng tham gia tiếp cận quản lý tổng hợp nước và năng lượng một cách chiến lược, góp phần giảm tổng số lượng đập trong tương lai ở lưu vực sông Mê-Công.

Ông Jake Brunner,  Tổ chức Bảo tồn thiên nhien thế giới (IUCN)  cho biết: Lượng điện tiêu thụ của Việt Nam đang gia tăng ở mức 10 -12 % một năm. Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng mỗi năm Việt Nam cần thêm 7-10% điện năng từ nay đến 2030. Việt Nam không có đủ nguồn tài nguyên trong nước để đáp ứng được nhu cầu này, điều này cũng có nghĩa Việt Nam sẽ có thể trở thành thị trường tiêu thụ điện lớn nhất từ Lào và Campuchia.

TS. Eloise KENDY, Giám đốc chương trình Dòng chảy môi trường, tổ chức The Nature Conservancy cho rằng: các thỏa thuận mua điện thường đóng vai trò quyết định trong việc dự án nào được triển khai. Nhờ đó, Việt Nam sẽ có lợi thế hơn khi thương lượng với các quốc gia láng giềng trong việc phát triển sản xuất năng lượng.

Theo đó, Việt Nam có thể hợp tác với Lào trong việc lập quy hoạch cũng như phát triển các dự án phát triển thủy điện trên hệ thống sông Mê Công nhằm gia tăng khả năng kiểm soát dòng chảy từ thượng nguồn xông Mê Công  xuống phía hạ lưu khu vực ĐBSCL.

Nguyễn Thanh

(TN&MT) – Chương trình Kết nối Lưu vực Mê Công bao gồm Trung tâm Stimson phối hợp cùng Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), The Nature Conservation (TNC), Trường Đại học California Berkeley, Học viện Ngoại giao tổ chức buổi tọa đàm “Vai trò tiềm năng của quy hoạch nước và năng lượng ở cấp độ hệ thống trong việc giữ gìn đồng bằng sông Cửu Long”, tối ngày 29/11, tại TP.HCM.

Đây là hoạt động đầu tiên trong chuỗi hội thảo và tọa đàm sẽ được tổ chức từ ngày 29/11 đến 2/12 TP.HCM và Cần Thơ với nguồn vốn hỗ trợ của Tổng lãnh sự Mỹ tại Hồ Chí Minh, Quỹ Chino Cienega và Chương trình Ngoại giao nguồn Nước của Cơ quan Hợp tác Phát triển Thụy sỹ (SDC) thông qua Dự án “Xây dựng Đối thoại và Quản trị các Dòng Sông”.

Mục tiêu chính của hoạt động này nhằm thúc đẩy cách tiếp cận quy hoạch tổng thể nước và năng lượng với sự tham gia của bên bên liên quan tại Mê Công; kết nối và chia sẻ thông tin giữa các viện nghiên cứu, các tổ chức quốc tế và các bên liên quan tại Việt Nam trong hợp tác nước – năng lượng xuyên biên giới; cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam và các bên liên quan về các cơ hội và các công cụ có thể áp dụng trong quy hoạch để tối ưu hóa việc sử dụng nước – năng lượng và giảm thiểu các tác động tiêu cực.

Ông Brian Eyler (trái) Trung tâm Stimson Center điều hành thảo luận tại tọa đàm.
Ông Brian Eyler (trái) Trung tâm Stimson Center điều hành thảo luận tại tọa đàm. Ảnh: IUCN

Đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam) là nơi sinh sống của hơn 18 triệu dân, sản xuất hơn nửa sản lượng lúa của Việt Nam và cung cấp 75% lượng hoa quả và nguồn lợi thủy sản cho cả nước. Tuy nhiên, năng suất nông nghiệp của Đồng bằng phụ thuộc rất nhiều và nguồn phù sa và dinh dưỡng thường xuyên mà dòng sông Mê Công đem đến. Và, các dự án phát triển thủy điện ở thượng nguồn đang gây ra những tác động đe dọa đến chu trình luân chuyển này.

Trong khi đó, Chính phủ Lào đang đặt ra mục tiêu phát triển trọng tâm đưa quốc gia này trở thành “Bình ác quy của Đông Nam Á”. Để đạt được mục tiêu này, các nhà hoạch định chính sách tiến hành xây dựng nhiều dự án thủy điện mới nhưng lại thiếu một quy hoạch chiến lược ở cấp lưu vực. Điều này sẽ khiến Lào không những sẽ không đạt được mục tiêu doanh thu như mong muốn mà còn gây ra các tác hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nông nghiệp và thủy sản ở hạ lưu tại Việt Nam và Campuchia.

Bất chấp những phản đối về mặt ngoại giao từ phía Việt Nam, Chính phủ Lào hiện đang lên kế hoạch xây dựng hai đập lớn trên dòng chính của sông Mê Công và đang tiến hành tham vấn để xây dựng đập thứ ba. Đồng thời, Lào và Campuchia đang lên kế hoạch xây dựng hơn 130 con đập lớn (công suất trên 50MW) trên các dòng nhánh của sông Mê Công vào 2030.

Bất chấp những phản đối về mặt ngoại giao từ phía Việt Nam, Chính phủ Lào hiện đang lên kế hoạch xây dựng hai đập lớn và tham vấn để xây dựng đập thứ ba trên dòng chính của sông Mê Công và
Bất chấp những phản đối về mặt ngoại giao từ phía Việt Nam, Chính phủ Lào hiện đang lên kế hoạch xây dựng hai đập lớn và tham vấn để xây dựng đập thứ ba trên dòng chính của sông Mê Công. Ảnh: Quốc Việt

Với vị thế vừa là quốc gia phát triển thủy điện ở thượng nguồn tại lưu vực sông 3S (Sê San, Srêpôk và Se Công) và cũng là  nạn nhân hạ nguồn chịu tác động từ việc phát triển thủy điện thiếu quy hoạch, Việt Nam cần thúc đẩy sự tham gia của Lào và Campuchia cùng tham gia tiếp cận quản lý tổng hợp nước và năng lượng một cách chiến lược, góp phần giảm tổng số lượng đập trong tương lai ở lưu vực sông Mê-Công.

Lượng điện tiêu thụ của Việt Nam đang gia tăng ở mức 10 -12 % một năm. Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng, mỗi năm nước ta cần thêm 7-10% điện năng từ nay đến 2030. Việt Nam không có đủ nguồn tài nguyên trong nước để đáp ứng được nhu cầu này, đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ có thể trở thành thị trường tiêu thụ điện lớn nhất từ Lào và Campuchia. Các thỏa thuận mua điện thường đóng vai trò quyết định trong việc dự án nào được triển khai; nhờ đó, chúng ta sẽ có lợi thế hơn khi thương lượng với các quốc gia láng giềng trong việc phát triển sản xuất năng lượng.

Ngoài ra, các sáng kiến ngoại giao của Việt Nam đang kết nối với Lào và Campuchia, và các quan hệ chiến lược mới với các các đối tác bên ngoài như Hoa Kỳ sẽ tạo là nhân tố tạo sự thay đổi về mặt thể chế góp phần tăng cường đối thoại cấp khu vực.

Tuyết Chinh

(TN&MT) – Trước thềm cuộc họp Hội đồng lần thứ 24 của Uỷ hội sông Mê Kông, ngày 28/11/2017, Liên minh Cứu sông Mê Kông (Save the Mekong Coalition) đưa ra Bản Tuyên bố bày tỏ mối quan ngại sâu sắc  về việc phát triển các dự án thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông đang hủy hoại an ninh lương thực khu vực và gia tăng nghèo đói.

Các đập trên sông Mê Kông hủy hoại sự phát triển bền vững

Hiện này, hàng loạt các dự án đập thủy điện quy mô lớn hiện đang được đề xuất và xây dựng trên dòng chính sông Mê Công đang đe doạ nghề cá của khu vực, tác động đến nguồn cung thực phẩm của hàng triệu người. Nếu được xây dựng, những con đập này sẽ ngăn chặn luồng di cư chính, vốn cực kỳ thiết yếu trong vòng đời của khoảng 70% lượng cá đánh bắt thương mại trên sông Mê Kông. Điều này có thể dẫn đến tổng thiệt hại thủy sản ước tính từ 26 đến 42%, đặt hàng triệu người dân hạ lưu vực sông Mê Kông vào nguy cơ mất sinh kế và an ninh lương thực.

Bên cạnh đó, sông Mê Kông còn cung cấp nguồn nước sinh hoạt và duy trì năng suất nông nghiệp cho cả lưu vực, hỗ trợ tưới tiêu đồng ruộng. Sông Mê Kông cung cấp cho người dân trong khu vực tới 80% nhu cầu protein động vật. Viện Nghiên cứu và Phát triển Nghề cá Nội địa (IFReDI) thuộc Cục Quản lý Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Nghề cá Campuchia (MAFF) đã chỉ ra rằng các tác động cộng hưởng của các đập dòng chính ở Campuchia và tăng trưởng dân số có thể gây giảm tiêu thụ cá từ 49kg xuống còn 22kg/người/năm vào năm 2030, nghĩa là giảm 55%.

Mối nguy lớn từ thủy điện trên sông Mekong. Ảnh: theecologist.org
Mối nguy lớn từ thủy điện trên sông Mekong. Ảnh: theecologist.org

Ở Việt Nam, nông dân và ngư dân khu vực hạ nguồn cũng đang bị giảm năng suất nông nghiệp do tác động của các con đập ở dòng chính của sông Mê Kông, khiến nền xuất khẩu lương thực 10 tỷ USD hàng năm ở ĐBSCL có nguy cơ bị tổn thất. ĐBSCL, nơi sản xuất hơn một nửa lượng gạo của Việt Nam và cung cấp gạo cho hơn 145 triệu người ở Châu Á, sẽ bị ảnh hưởng nặng nề vì các con đập làm thay đổi chế độ dòng chảy và ngăn phù sa về khu vực này.

Trong khi đó, theo Liên minh Cứu sông Mê Kông, việc lập kế hoạch và ra quyết định phát triển các dự án thủy điện trên dòng chính hạ lưu sông Mê Công hiện nay đang được thực hiện trên cơ sở từng dự án, thiếu các dữ liệu nền phù hợp, thiếu các đánh giá tác động xuyên biên giới cũng như tác động tích lũy của các dự án đang được xây dựng. Hơn nữa, việc không có kế hoạch toàn diện để giám sát dài hạn các tác động của dự án và tác động toàn lưu vực cũng là một vấn đề.

Quá trình Tham vấn trước hiện nay vẫn chưa quan tâm đúng mức đến những mối quan ngại chính đáng của người dân địa phương, những người chịu thiệt hại nhiều nhất khi nguồn tài nguyên của con sông bị hủy hoại. Tất cả vấn đề này đã tồn tại suốt từ quá trình quy trình lập kế hoạch, phê duyệt và tham vấn trước của dự án Xayaburi, Don Sahong và Pak Beng.

Đầu tháng 11/2017, Toà án Hành chính Tối cao Thái Lan xác nhận việc sẽ xem xét kháng cáo trong vụ kiện về những thiệt hại do đập Pak Beng gây ra. Việc Tòa án chấp nhận xem xét vụ kiện là sự thừa nhận về trách nhiệm của các cơ quan chính phủ theo luật Thái Lan và Hiệp định Mê Công 1995 trong việc thông tin và tham vấn ý kiến của người dân về các tác động xuyên biên giới của các dự án như đập Pak Beng. Quyết định này cho thấy xu hướng gia tăng sự tham gia của công chúng, trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong việc lập kế hoạch, phát triển và phê duyệt các dự án cơ sở hạ tầng lớn.

Giải pháp thay thế cho đập Mê Kông

Các chính phủ Mê Kông cho rằng, các đập Mê Kông là cần thiết để đáp ứng nhu cầu năng lượng gia tăng trong khu vực. Tuy nhiên, trên thực tế, 11 dự án dòng chính chỉ cung cấp khoảng 8% dự báo nhu cầu điện hạ lưu sông Mê Công . Nếu các dự án dòng chính không được triển khai, rủi ro đối với an ninh điện ở các nước hạ lưu sông Mê Công cũng là vô cùng nhỏ và nhu cầu điện dự

Các giải pháp thay thế hiện có thể đáp ứng nhu cầu này một cách có trách nhiệm và bền vững hơn. Trong những năm tới, các dự án thủy điện mới của GMS sẽ phải cạnh tranh với các lựa chọn rẻ hơn, kể cả giá khí đốt tự nhiên cũng như các công nghệ năng lượng mặt trời và gió ngày càng có giá cả phải chăng và hiệu quả.

Các đập trên sông Mekong
Các đập trên sông Mekong

Trên thực tế, giá của các nguồn năng lượng tái tạo không phải là thủy điện đang giảm với tốc độ nhanh hơn dự kiến. Chỉ riêng trong giai đoạn 2015-2016, giá trung bình toàn cầu của điện mặt trời giảm 13% và điện gió giảm 10,75% . Chi phí giảm nhanh chóng đã đặt giá năng lượng mặt trời xuống mức gần với giá với thủy điện, trong khi lại ít gây ra tác động môi trường hoặc xã hội. Ngoài ra, cơ hội tiếp cận với các nguồn hỗ trợ phát triển điện gió và năng lượng mặt trời thông qua quỹ hỗ trợ tài chính khí hậu cho các nước đang phát triển hiện đang rộng mở.

Cuộc họp của Hội đồng MRC lần thứ 24 là cơ hội để MRC và chính phủ các nước hạ lưu sông Mê Kông thể hiện định hướng và tầm nhìn cho một tương lai bền vững và ưu tiên bảo tồn các nguồn lợi thủy sản phong phú của khu vực và các nguồn tài nguyên khác của sông.

Thay vì tiếp tục hỗ trợ các dự án đập thủy điện đang hủy hoại môi trường và xã hội, MRC cần thừa nhận tiềm năng của các công nghệ điện tái tạo và công nghệ năng lượng phi tập trung sẵn có với giá cả cạnh tranh.

Do vậy, Liên minh Cứu sông Mê Kông đề nghị Chính phủ các nước hạ lưu sông Mê Kông cam kết tạm dừng các dự án thủy điện quy mô lớn trong khi các chính sách khu vực và cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho phát triển năng lượng tái tạo đang tiến triển. Điều này sẽ giúp đảm bảo sự tăng trưởng bền vững thực sự mà không mất đi lợi ích mà một con sông trù phú có thể mang lại.

Tuyết Chinh

(TN&MT) – Chiều 28/11, tại Hà Nội, Ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội phối hợp với Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội đã tổ chức Hội nghị thông tin báo chí về phương án cải tạo hồ Hoàn Kiếm.

ông Võ Tiến Hùng, Tổng giám đốc Công ty Thoát nước thông tin trong Hội nghị giao ban báo chí
Ông Võ Tiến Hùng, Tổng giám đốc Công ty Thoát nước thông tin trong về tình hình cải tạo Hồ Gươm

Tại Hội nghị ông Võ Tiến Hùng – Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội cho biết: Thực hiện chủ trương cải tạo môi trường hồ Hoàn Kiếm, UBND thành phố Hà Nội đã giao Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội lập, thực hiện phương án cải tạo môi trường nước Hoàn Kiếm. Đến nay, công tác chuẩn bị này đã cơ bản hoàn thành.

Theo ông Hùng để thực hiện dự án, Công ty đã chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng các khâu, xin ý kiến các Bộ ngành Trung ương; các nhà khoa học, các hội nghề nghiệp; nhân dân Thủ đô… Cho đến thời điểm này đa số các ý kiến của các cơ quan, đơn vị nói trên đều đồng ý với phương án cải tạo do Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội đề xuất.

Bên cạnh đó, ý kiến tham vấn cộng đồng dân cư thời gian qua trực tiếp do UBND quận Hoàn Kiếm chủ trì cũng nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các nhà khoa học, đặc biệt là người dân sinh sống xung quanh khu vực hồ Gươm.

Ông Võ Tiến Hùng cho biết thêm phương án nạo vét cải tạo môi trường nước hồ Hoàn Kiếm sẽ được triển khai và cố gắng tập trung hoàn thành trước Tết nguyên đán Mậu Tuất 2018, từ 1/2/2017 đến 7/2/2018, với tổng kinh phí dự trù vào khoảng 29 tỷ đồng.

Cụ thể, trước khi tiến hành thi công nạo vét, Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội phối hợp với Tiểu đoàn 554, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội thực hiện việc rà phá bom mìn nhằm mục đích dò tìm và xử lý hết các loại bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh xung quanh hồ. Dự kiến, hạng mục nói trên sẽ diễn ra trong khoảng 20 ngày, chia làm 2 đội, mỗi đội 25 người thi công theo đúng quy trình kỹ thuật của Bộ Quốc phòng.

Trên cơ sở tính toán, khảo sát về cao độ mực nước và hiện trạng bùn dưới lòng hồ, Công ty sẽ triển khai nạo vét bùn với khối lượng dự kiến khoảng 57.400m3 theo phương án giữ nguyên mực nước không bơm cạn hồ, nạo vét toàn bộ lòng hồ đến cao độ +5.60m để đảm bảo không bị sạt lở kè xung quanh hồ, kè Tháp Rùa, kè đền Ngọc Sơn. Phạm vi nạo vét đảm bảo cách mép chân kè các công trình trên là 7m…

Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội  thi công nạo vét từ 21h – 5h  sáng hôm sau (từ thứ 2 đến thứ 5), từ 24h đến 5h sáng hôm sau (từ thứ 6 – Chủ  nhật). Trong quá trình thi công phải đảm bảo an toàn lao động, hạn chế tiếng ồn, dọn vệ sinh trước khi kết thúc ngày làm việc.

“Sau khi hoàn thành xong quá trình nạo vét hồ Hoàn Kiếm khoảng từ 3 đến 4 tháng, Công ty sẽ tiến hành lấy mẫu phân tích, đánh giá chất lượng nước để có phương án xử lý, duy trì chất lượng nước hồ bằng chế phẩm Redoxy – 3 C” – ông Võ Tiến Hùng, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội thông tin.

Huy An

(TN&MT) – UBND tỉnh Sơn La vừa ban hành kết luận thanh tra việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước với 21 thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh.

Do ảnh hưởng của mưa lũ, thủy điện Suối Sập 2 trên địa bàn huyện Phù Yên đang tạm ngừng hoạt động.
Do ảnh hưởng của mưa lũ, thủy điện Suối Sập 2 trên địa bàn huyện Phù Yên đang tạm ngừng hoạt động.

Theo đó, tại thời điểm thanh tra, 21 dự án này đều chưa có giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện theo quy định của pháp luật.

Được biết, trong 21 dự án thủy điện của 18 chủ đầu tư, có 10 dự án thủy điện đã đi vào vận hành, 11 dự án thủy điện đang trong quá trình thi công. Trong đó, 19 dự án thủy điện thuộc thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện của Bộ TN&MT; 2 dự án thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh Sơn La.

Kết luận thanh tra cũng cho thấy: Tới thời điểm hiện nay, mới có 5 dự án thủy điện đã có hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt nộp về Cục quản lý tài nguyên nước, gồm: Thủy điện Nậm Chiến; thủy điện Chiềng Ngàm Thượng; thủy điện Háng Đồng A; thủy điện Chiềng Ngàm; thủy điện Đông Khùa.

13 dự án đã ký hợp đồng với đơn vị tư vấn và đang trong quá trình triển khai lập hồ sơ, gồm: Thủy điện Suối Sập 2; thủy điện Suối Lừm 3; thủy điện Nậm Hóa 2; thủy điện Nậm Bú; thủy điện Keo Bắc;  thủy điện Nậm Chim 1A; thủy điện Nậm Hóa 1; thủy điện Mường Sang 2; thủy điện Nậm Trai 3; thủy điện Nậm Trai 4; thủy điện Nậm Pia 1; thủy điện Sơ Vin; thủy điện Nậm Chim 1B.

3 dự án đang hoàn thiện thủ tục hợp đồng để ký kết với đơn vị tư vấn lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước, gồm: Thủy điện Nậm Pàn 5; thủy điện Nậm Công 5; thủy điện Háng Đồng B.

Nhìn chung, ý thức chấp hành pháp luật trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước của đa số các đơn vị chưa cao, chưa nghiêm túc triển khai thực hiện kịp thời theo quy định. Một số chủ đầu tư lựa chọn đơn vị tư vấn không đủ năng lực, dẫn tới hồ sơ không đáp ứng các quy định pháp luật, cơ quan thẩm định yêu cầu bổ sung, chỉnh sửa nhiều lần hoặc trả lại hồ sơ. Bên cạnh đó, do giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện không phải là thành phần bắt buộc để được phép phát điện nên các chủ đầu tư chưa quan tâm thực hiện theo đúng quy định.

Trong thời gian tới, tỉnh Sơn La đã yêu cầu 19/21 thủy điện hoàn thành việc cấp Giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện trong vòng 60 ngày kể từ ngày Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La ban hành kết luận thanh tra. Riêng dự án thủy điện Háng Đồng B sẽ hoàn thành việc cấp Giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện sau khi được Bộ Công thương phê duyệt điều chỉnh quy hoạch dự án. Dự án thủy điện Suối Sập 2 đang trong quá trình tạm dừng vận hành do ảnh hưởng mưa lũ ngày 9-11/10 trên địa bàn huyện Phù Yên. Do đó, đơn vị này sẽ thực hiện thủ tục cấp Giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện trong thời gian khắc phục hậu quả mưa lũ, và sẽ hoàn thành việc cấp Giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện trước khi đưa nhà máy thủy điện vận hành trở lại.

Nếu không thực hiện, sẽ áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định pháp luật. Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La yêu cầu các đơn vị báo cáo kết quả thực hiện về UBND tỉnh trước ngày 15/1/2018. Giao Sở TN&MT hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc các đơn vị thực hiện kết luận thanh tra theo đúng quy định.

Tỉnh Sơn La cũng đề nghị Bộ TN&MT quan tâm xem xét, chỉ đạo các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ thẩm định các hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với các hồ sơ đã hợp lệ, đảm bảo thời gian theo đúng quy định.

Nguyễn Nga

(TN&MT) – Nghệ An hiện nay có 20 hồ đập thủy điện và 90 hồ đập thủy lợi nằm trong diện phải lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước. Thế nhưng, thực tế đến nay trên địa bàn tỉnh Nghệ An công việc này đang được triển khai khá chậm chạp, số đơn vị triển khai việc này hiện mới chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Quy định về lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước được Chính phủ ban hành tại Nghị định số 43/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 05 năm 2015. Nghị định này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2015.

Công tác lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước tại Nghệ An đang triển khai chậm
Công tác lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước tại Nghệ An đang triển khai chậm

Được biết, chức năng của hành lang bảo vệ nguồn nước bao gồm: Bảo vệ sự ổn định của bờ và phòng, chống lấn chiếm đất ven nguồn nước; Phòng, chống các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước; Bảo vệ, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái thủy sinh, các loài động, thực vật tự nhiên ven nguồn nước; Tạo không gian cho các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí, bảo tồn và phát triển các giá trị về lịch sử, văn hóa, du lịch, tín ngưỡng liên quan đến nguồn nước….

Thủy điện Châu Thắng (huyện Quỳ Châu) chưa triển khai công tác lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước
Thủy điện Châu Thắng (huyện Quỳ Châu) chưa triển khai công tác lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước

Theo Nghị định này, phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước đối với hồ chứa thủy điện, thủy lợi có dung tích lớn hơn một tỷ mét khối (1.000.000.000 m3) hoặc có dung tích từ mười triệu mét khối (10.000.000 m3) đến một tỷ mét khối (1.000.000.000 m3) nhưng nằm ở địa bàn dân cư tập trung, địa bàn có công trình quốc phòng, an ninh thì phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước là vùng tính từ đường biên có cao trình bằng mực nước cao nhất ứng với lũ thiết kế đến đường biên có cao trình bằng cao trình giải phóng mặt bằng lòng hồ. Đối với các loại hồ chứa thủy điện, thủy lợi khác, phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước là vùng tính từ đường biên có cao trình bằng cao trình đỉnh đập đến đường biên có cao trình bằng cao trình giải phóng mặt bằng lòng hồ.

Ngoài ra, Nghị định này cũng quy định phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước đối với sông, suối, kênh, rạch; hồ tự nhiên, hồ nhân tạo ở đô thị, khu dân cư tập trung và các nguồn nước khác.

Thủy điện Chi Khê (huyện Con Cuông) cũng chưa lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước
Thủy điện Chi Khê (huyện Con Cuông) cũng chưa lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước

Theo số liệu của Chi cục Thủy lợi tỉnh Nghệ An thì hiện nay trên địa bàn tỉnh này có 90 hồ đập có dung tích từ 1 triệu m3 trở lên; trong đó có 24 hồ đập lớn dung tích trên 3 triệu m3 nước. Lớn nhất là hồ Vực Mấu tại xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Lưu. Đây là con đập có diện tích lòng đập 215km2, dung tích hơn 40 triệu m3 nước. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 20 hồ đập thủy điện có dung tích trên 1 triệu m3 nước nằm trong diện phải lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước theo quy định.

Theo Sở TN&MT tỉnh Nghệ An, hiện nay mới chỉ có thủy điện Bản Vẽ lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước và đã cắm mốc hồ chứa từ trước đó. Ngoài ra, có một số thủy điện mới thực hiện xong việc này như thủy điện Canan 1 và 2; thủy điện Bản Ang; thủy điện Xoỏng Con. Ngoài ra các công trình còn lại vẫn chưa triển khai việc lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước.

Trong số 20 hồ đập thủy điện phải lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước thì mới chỉ có vài đơn vị triển khai
Trong số 20 hồ đập thủy điện phải lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước thì mới chỉ có vài đơn vị triển khai

Ông Bạch Hưng Cử – Trưởng phòng Nước, Khí tượng thủy văn, Biển và Hải đảo (Sở TN&MT tỉnh Nghệ An), cho biết: “Hiện nay trên địa bàn tỉnh Nghệ An số đơn vị triển khai lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước mới chỉ đếm được trên đầu ngón tay và đó là các hồ đập thủy điện. Riêng các hồ đập thủy lợi phải lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước thì rất nhiều nhưng đến nay chưa có đợn vị nào triển khai thực hiện việc này”.

Cũng theo ông Cử, việc lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước, nhất là việc cắm mốc thực địa đòi hỏi kinh phí tương đối nhiều, các công trình thủy điện thì họ có kinh phí nên triển khai được thuận lợi nhưng đối với các công trình hồ đập thủy lợi do các công ty thủy lợi hoặc chính quyền quản lý thì gặp khó khăn về nguồn kinh phí. “UBND tỉnh Nghệ An vừa có văn bản giao Sở NN&PTNT phối hợp với các đơn vị chủ hồ đập để xem xét, tham mưu UBND tỉnh Nghệ An có phương án xử lý tiếp theo” – Ông Cử cho biết thêm.

Thủy điện Khe Bố (huyện Tương Dương) là hồ đập thủy điện lớn nhưng cũng chưa lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước
Thủy điện Khe Bố (huyện Tương Dương) là hồ đập thủy điện lớn nhưng cũng chưa lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước

Ông Phạm Hữu Văn – Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Nghệ An, nói: “Hiện nay chúng tôi đang nghiên cứu phương án để trình UBND tỉnh giải quyết vấn đề lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước các hồ đập thủy lợi trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, với số lượng khoảng 90 hồ đập thuộc diện này thì kinh phí chắc cũng sẽ rất khó khăn”.

Bài & ảnh: Đình Tiệp

Bài viết mới nhất