Tài nguyên nước

Các nhà máy thủy điện ở Phú Yên tăng lưu lượng xả lũ, trong khi hạ du tiếp tục có mưa lớn, gây nguy cơ ngập lụt.

15h ngày 24.11, thủy điện Sông Hinh (Phú Yên) tăng lượng xả lũ. Hiện thủy điện đang xả lũ và chạy máy 1.554m3/s, tăng gần gấp ba lần so với lượng xả sáng cùng ngày. Trong khi đó, thủy điện Sông Ba Hạ cũng xả lũ và vận hành máy 1.200m3/s. Tổng lượng nước hai thủy điện đổ về hạ du sông Ba theo đó đạt 2.754m3/s.

Ông Trần Hữu Thế, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, cho biết hai nhà máy thủy điện Sông Hinh, Sông Ba Hạ đang xuống xả lũ xuống hạ du tỉnh này với tổng lưu lượng 2.754 m3/giây. Trong đó, riêng Nhà máy Thủy điện Sông Hinh xả 1.554 m3/giây. Chỉ trong một tiếng đồng hồ, Nhà máy Thủy điện Sông Hinh đã tăng lưu lượng xả lũ thêm 400 m3/giây.

“Với tổng lưu lượng xả lũ này, chưa có nguy cơ gây ngập vùng hạ du Phú Yên. Tuy nhiên, điều lo nhất hiện nay khu vực hạ du Phú Yên đang tiếp tục có mưa lớn, cùng với sóng biển dâng cao khiến nước bị úng, gây nguy cơ ngập lụt các vùng hạ du ven sông Ba”- ông Thế nhận định.

Xả lũ tại Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ. Ảnh: TẤN LỘC
Xả lũ tại Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ. Ảnh: TẤN LỘC

Trong khi đó, trao đổi với PV, ông Đặng Văn Tuần, Tổng giám đốc Công ty CP Thủy điện Sông Ba Hạ, cho biết hiện nước từ thượng nguồn Tây Nguyên đổ xuống hồ chứa nước Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ với lưu lượng 1.200 m3/giây và nhà máy xả xuống hạ du với lưu lượng tương ứng.

“Dự báo trong 12 giờ tới, nước từ thượng nguồn đổ xuống hồ chứa nước Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ có thể tăng lên 1.400-1.500 m3/giây nên chúng tôi sẽ tăng lưu lượng xả lũ với mức tương ứng lượng nước xuống”- ông Tuần thông tin.

Theo ông Trần Quốc Huy – trưởng Phòng NN&PTNT huyện Đồng Xuân, đến xế chiều 24.11, lũ trên sông Kỳ Lộ đã dâng cao trở lại, ở mức 8,21m, dưới báo động 2 khoảng 0,3m.

Theo dự báo, lũ trên sông Kỳ Lộ đạt đỉnh đêm 24.11, ở mức trên báo động 2.

Hiện ở huyện Đồng Xuân, hai xã Phú Mỡ, Xuân Sơn Bắc vẫn bị cô lập, một số địa phương khác bị chia cắt do các tuyến giao thông bị ngập lũ.

Tương tự, tại huyện Tuy An cũng có nhiều xã bị lũ chia cắt.

Ông Bùi Văn Thành – Chủ tịch UBND huyện Tuy An – cho biết đã huy động hàng trăm lượt người tổ chức tìm kiếm chị Nguyễn Thị Hồng Thắm (30 tuổi), bị nước cuốn mất tích khi trên đường về nhà tại xã An Định, nhưng đến 15h ngày 24-11 vẫn chưa tìm thấy.

Theo Dân Việt

Tại thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, hơn 18 năm nay, gần 280 hộ dân vẫn chưa có hệ thống nước sạch để sinh hoạt hàng ngày.

Khu phố 12, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận được tách ra từ khu phố 4 vào năm 1999 và hiện có trên 277 hộ với hơn 500 khẩu.

Điều đáng nói là tại đây, hệ thống điện được đầu tư bài bản kéo đến nhà dân, nhưng hệ thống nước sạch để sinh hoạt thì chưa có. Do chưa có hệ thống nước sạch để sinh hoạt, nên người dân chủ yếu sử dụng nước giếng, còn tắm giặt thì sử dụng nước của hệ thống kênh Nam, dễ phát sinh một số bệnh thường gặp như: đau mắt đỏ, viêm da dị ứng và một số bệnh về đường ruột.

Trước khó khăn của người dân, Ban Quản lý khu phố đã nhiều lần kiến nghị chính quyền các cấp và UBND tỉnh Ninh Thuận đã yêu cầu Phòng Kinh tế hạ tầng, Công ty cấp nước, Sở Xây dựng sớm khảo sát, có kế hoạch đầu tư hệ thống nước sạch cho người dân. Tuy nhiên, cho đến nay tình hình vẫn chưa được cải thiện.

Ông Lê Văn Toàn, Trưởng Khu phố 12 thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, Ninh Thuận cho biết: “Sau khi tiếp nhận thông tin từ người dân, tỉnh đã chỉ đạo và công ty cấp nước đã đi khảo sát và lập hồ sơ thiết kế, nộp hồ sơ xin cấp phép xây dựng đường ống vào ngày 17/7/2017. Nhưng tới bây giờ thì công ty cấp nước vẫn chưa nhận được giấy cấp phép để xây dựng đường ống đó”./.

Theo VOV

Sự kém hiệu quả của những công trình nước sạch công cộng đã xuống cấp, biến đổi khí hậu và tác hại của bão lũ, sự thờ ơ của chính quyền ở nhiều địa phương… đã đang khiến cho khu vực nông dân nông thôn, nơi chiếm gần 70% dân số cả nước đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt.

Thực trạng nhức nhối ấy ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người dân, tác động không nhỏ tới sự phát triển kinh tế, xã hội.

Chỉ 42% người dân nông thôn  có nước sạch

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNN), toàn quốc có khoảng 84,5% người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Trong đó, vùng có số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh cao nhất là Đông Nam bộ với 94,5%, đồng bằng sông Hồng với 91%, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với 88%.

Tỷ lệ số dân được tiếp cận nước hợp vệ sinh thấp nhất là vùng Bắc Trung bộ, là 81%, song đây lại là vùng có số dân nông thôn cao thứ 4/7 vùng trong toàn quốc.

Tuy nhiên, theo kết quả báo cáo của Chương trình mục tiêu quốc gia Nông thôn mới (NTM), mặc dù tỷ lệ 84,5% người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, song số hộ dân nông thôn thụ hưởng nước sạch đạt chuẩn của Bộ Y tế (QCVN 02/2009/BYT) mới chỉ chiếm 42%.

Cùng với đó, chỉ có khoảng 32% hộ dân được sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung, còn lại 68% là từ các công trình giếng đào, giếng khoan, bể chứa nước mưa…

Nguồn nước người dân sử dụng không đảm bảo an toàn, do biến đổi khí hậu và bão lũ, đặc biệt do sự phát triển kinh tế “bỏ quên” công tác bảo vệ môi trường, khiến nguồn nước bề mặt và dưới lòng đất bị ô nhiễm nặng.

Nước sạch đến với bà con huyện Trần Đề và thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (Ảnh: Văn Đức-C.X).
Nước sạch đến với bà con huyện Trần Đề và thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (Ảnh: Văn Đức-C.X).

Cụ thể, theo kết quả giám sát chất lượng nguồn nước sinh hoạt của người dân nông thôn ở nhiều vùng trong toàn quốc, do Bộ TNMT quan trắc cho thấy, chất lượng nguồn nước khai thác có sự ô nhiễm vi sinh cục bộ. Nhiều vùng có sự ô nhiễm kim loại nặng.

Tỉnh Thanh Hóa, qua kiểm tra có tới 61/74 xã trong khu vực điều tra nguồn nước sinh hoạt có hàm lượng asen vượt tiêu chuẩn cho phép, tập trung ở các huyện Hoằng Hóa, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Hậu Lộc, Yên Định.

Tại Bình Định, qua kiểm tra 95% các giếng khoan dân dụng bị nhiễm khuẩn với coliform và ecoli ở mức cao. Tại Hải Phòng, 56% số mẫu nước trên tổng số 100 mẫu trong khu vực có nồng độ clo dư không đạt tiêu chuẩn vệ sinh.

Tại Đông Nai, hơn 40% giếng khoan kiểm tra có nhiễm phèn. Đó là chưa kể ở hâu hết các khu công nghiệp, làng nghề, khai khoáng, điện than, phân bón… báo cáo của Bộ TNMT chỉ ra sự ô nhiễm nguồn nước đã có xu hướng mở rộng và cấp số nhân cho khu vực nông dân nông thôn.

Ông Hoàng Dương Tùng – Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ TNMT) cho biết, ô nhiễm nước sinh hoạt ở nông thôn đang thực sự nhức nhối do tác động của nhiều chuỗi hoạt động từ trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất công nghiệp, làng nghề, sự phát thải từ khu công nghiệp, sản xuất, các khu đô thị giáp ranh… thiếu kiểm soát khiến nguồn nước bị đe dọa.

Sức khỏe người dân luôn đặt trong tình trạng báo động. Đã xuất hiện “làng ung thư”, làng nhiều trẻ em bị mắc bệnh tiêu hóa, đường ruột. Nguy cơ thực sự tồn tại.

Theo thống kê của Bộ Y tế, gần 90% dân cư Việt Nam bị nhiễm các loại giun, sán đường tiêu hóa. Các bệnh tiêu chảy, hội chứng lỵ, lỵ trực khuẩn là 3 trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, trong đó tiêu chảy là bệnh đứng thứ 6 trong các bệnh có tỷ lệ tử vong lớn nhất. Điều đáng nói, số người mắc các bệnh này tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn.

“Cha chung không ai khóc”

Thống kê cho thấy, hiện toàn quốc có 14.991 công trình nước sạch nông thôn, với tổng giá trị khoảng 19.654 tỷ đồng được giao cho các đơn vị, doanh nghiệp quản lý. Cụ thể, UBND xã đang quản lý 12.614 công trình (chiếm 84,6%), đơn vị sự nghiệp công lập quản lý 1.860 công trình (chiếm 12,475), doanh nghiệp quản lý 437 công trình (chiếm 2,93%).

Tỷ lệ các công trình do địa phương quản lý chiếm 84,6%,  song 25% số công trình này hoạt động kém hiệu quả, thậm chí không hoạt động, tập trung chủ yếu ở 20 tỉnh thành thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên (số liệu của Ủy ban quốc gia về nước sạch và vệ sinh an toàn môi trường nông thôn).

Nguyên nhân của tình trạng này là các công trình nước nông thôn ở nhóm đối tượng “cha chung không ai khóc”. Nhà nước đầu tư giao cho cấp xã, song cơ quản quản lý trực tiếp lại luôn lúng túng cơ chế sửa chữa do không có kinh phí khi công trình xuống cấp.

Người dân đổi ngược không đóng tiền. Nhiều công trình bỏ hoang hóa, sản xuất cầm chừng được chăng hay chớ, nguồn nước vì thế ô nhiễm.

Kết quả kiểm tra của Trung tâm Y tế dự phòng TP Hải Phòng về chất lượng nước của 100 công trình nước sạch nông thôn trên địa bàn cho thấy, có tới 95 công trình có nguy cơ ô nhiễm nguồn nước.

Tại Quảng Bình, trong 103 công trình cấp nước sạch nông thôn có tới 26 công trình không hoạt động, 14 công trình hoạt động kém hiệu quả, 36 công trình hoạt động trung bình.

Tại Thanh Hóa, nhiều nơi người dân phải đi hàng km để chở nước sinh hoạt khi giếng khoan và cung cấp nước của nhiều xã không đảm bảo.

Tại Thái Bình, mặc dù đã có dự án đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước, cung cấp nước sinh hoạt cho 6 xã của huyện Đông Hưng nhưng hàng nghìn hộ dân vẫn chưa được sử dụng nước sạch…

Bà Hạ Thanh Hằng- phó Vụ trưởng Vụ Quản lý nguồn nước và nước sạch nông thôn, Tổng cục Thủy lợi, Bộ NNPTNT cho biết, trình độ dân trí, đặc biệt công tác quản lý địa phương có quá nhiều bất cập khiến các công trình nước sạch nông thôn nhiều nơi có như không.

Để khắc phục vấn đề này, Bộ Tài chính đã có văn bản hướng dẫn việc đấu thầu các công trình nước sạch phục vụ người dân khu vực nông thôn.

Tuy nhiên, vướng mắc địa phương và những chế tài “đặc thù” kiểu địa phương, đang khiến nhiều doanh nghiệp thiếu mặn mà đầu tư, đặc biệt người dân dường như chưa thích ứng với việc “phải đóng tiền” mới được dùng nước sạch.

Theo thống kê của Bộ Y tế, gần 90% dân cư Việt Nam bị nhiễm các loại giun, sán đường tiêu hóa. Các bệnh tiêu chảy, hội chứng lỵ, lỵ trực khuẩn là 3 trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, trong đó tiêu chảy là bệnh đứng thứ 6 trong các bệnh có tỷ lệ tử vong lớn nhất. Điều đáng nói, số người mắc các bệnh này tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn.

Theo Đại đoàn kết

Thông tin trên được đưa ra tại hội thảo về công tác xã hội hóa cấp nước sạch nông thôn các tỉnh đồng bằng sông Hồng do Bộ NN&PTNT tổ chức ngày 22/11.

Theo thống kê, tại 8 tỉnh đồng bằng sông Hồng triển khai Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vay vốn Ngân hàng Thế giới (Hà Nam, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Phú Thọ, Thanh Hóa, Quảng Ninh và Hà Nội) có tổng số 1.137 công trình cấp nước sạch nông thôn. Tuy nhiên, số công trình có sự tham gia quản lý, đầu tư của khu vực tư nhân (KVTN) là 171 công trình (tức chỉ chiếm khoảng 15%).

Tại Hà Nội, hiện cũng chỉ có 18/119 công trình có sự tham gia quản lý của KVTN. Dù số lượng công trình KVTN tham gia không lớn, nhưng tổng vốn đầu tư lại chiếm tỷ lệ lên tới 62% và góp phần mang nước sạch đến với gần 1,2 triệu người dân nông thôn.

Cũng theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, hiện trạng hoạt động của các công trình cấp nước sạch tại Bắc Ninh, Hưng Yên, Thanh Hóa, Quảng Ninh là tương đối tốt với tỷ lệ đạt trung bình trên 70% “bền vững” và “trung bình”. Tuy nhiên, tổng số công trình cấp nước sạch hoạt động “kém hiệu quả” và hiện đang “không hoạt động” tại 4 địa phương còn lại rất cao. Cụ thể, Hà Nam (51,5%), Vĩnh Phúc (46,2%), Phú Thọ (42%) và Hà Nội (42,8%).
Theo đại diện 8 tỉnh đồng bằng sông Hồng, công tác xã hội hóa cấp nước sạch nông thôn hiện vẫn còn rất nhiều khó khăn, chủ yếu liên quan tới cơ chế, chính sách hỗ trợ. Theo đó, hầu hết các ý kiến đề xuất, cần cấp thiết rà soát, nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi một số quy định tại Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg và Nghị định 117/2007/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ đầu tư, ưu đãi đất đai, cấp bù giá nước và việc chuyển giao, chuyển nhượng các công trình.

Bên cạnh đó, phát triển mạng lưới cấp nước cần theo xu thế cung cầu của thị trường, tránh nặng nề lồng ghép các chính sách an sinh xã hội khác, bảo đảm chính sách thực thi tập trung, không dàn trải trên nguyên tắc nhà đầu tư thu hồi được vốn và có lãi hợp lý.

Theo Ktđt

(TN&MT) – Tọa đàm “Vai trò tiềm năng của quy hoạch nước và năng lượng ở cấp độ hệ thống trong việc gìn giữ Đồng bằng Sông Cửu Long” do Trung tâm Nghiên cứu Stimson, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Học viện Ngoại giao Việt Nam tổ chức sẽ diễn ra tại TP.HCM và TP. Cần Thơ.

Lào hiện đang xây dựng hai đập thủy điện lớn trên dòng chính sông Mê Công và đang tổ chức tham vấn để xây dựng con đập thứ ba bất chấp những quan ngại về các tác động môi trường, xã hội cho các quốc gia hạ lưu và nỗ lực vận động của Campuchia và Việt Nam. Cùng lúc đó, Lào và Campuchia cũng đang lên kế hoạch xây dựng thêm 130 đập lớn (>50 MW) trên các dòng nhánh của sông Mê Công tới năm 2030.

Việt Nam vừa là quốc gia hạ nguồn phải gánh chịu các tác động tiêu cực của việc phát triển thủy điện ồ ạt vừa là quốc gia thượng nguồn đầu tư vào xây dựng thủy điện ở lưu vực 3S cần phải có một cách tiếp cận chiến lược để hợp tác với Lào và Campuchia trong quản lý nước – năng lượng nhằm giảm thiểu số lượng đập sẽ được xây dựng trong tương lai.

Địa điểm xây dựng đập Xayaburi ở Lào. Ảnh: IUCN
Địa điểm xây dựng đập Xayaburi ở Lào. Ảnh: IUCN

Tốc độ phát triển kinh tế nhanh sẽ khiến Việt Nam trở thành quốc gia nhập khẩu điện chính của khu vực. Và bởi vì các thỏa thuận mua bán điện sẽ có vai trò quyết định xem dự án thủy điện nào sẽ được xây dựng, nên Việt Nam cần tận dụng vị thế là người đi mua điện để đàm phán với các quốc gia láng giềng nên xây dựng đập nào nhằm hài hòa giữa phát triển kinh tế và giảm thiểu tác động lên môi trường và xã hội.

Hơn nữa, Việt Nam đang ngày càng có nhiều các sáng kiến ngoại giao với Lào và Campuchia cũng như với các đối tác bên ngoài khu vực như Hoa Kỳ. Đây là cơ sở để Việt Nam phát huy vai trò người đi dầu trong cải thiện đối thoại cấp khu vực.

Trước thực tế đó, nội dung tọa đàm “Vai trò tiềm năng của quy hoạch nước và năng lượng ở cấp độ hệ thống trong việc gìn giữ ĐBSCL”  sẽ thảo luận về Quy hoạch chiến lược Nước – năng lượng trên quy mô hệ thống thay vì dự án đơn lẻ; Năng lượng tái tạo và các cơ hội phát triển trong tương lai.

Tọa đàm sẽ diễn ra tại TP. HCM vào 18h – 21h ngày 29/11/2017; tại Cần Thơ vào 9h – 12h ngày 2/12/2017.

Tuyết Chinh

(TN&MT) – Bộ Xây dựng vừa có văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư về đề xuất dự án “Cấp nước an toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long”, vay vốn Ngân hàng Thế giới (WB).

Dự án Cấp nước an toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện tại Bộ Xây dựng và các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.

Dự án đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo an ninh cấp nước mang tính chiến lược, dài hạn đối với khu vực Tây Nam sông Hậu trong điều kiện biến đổi khí hậu. Đây là dự án cấp nước có tính chất liên vùng đầu tiên của Việt Nam, do vậy các vấn đề về mô hình thể chế, cơ chế tài chính của dự án sẽ được đề xuất trong báo cáo nghiên cứu khả thi để đảm bảo hiệu quả đầu tư và tính bền vững của dự án.

Hiện nay, Báo cáo nghiên cứu khả thi đang được Bộ Xây dựng phối hợp với UBND các tỉnh có liên quan và WB lập trên cơ sở Dự án chuẩn bị dự án Cấp nước an toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Trong khuôn khổ của Báo cáo nghiên cứu khả thi, việc xác định cụ thể chủ đầu tư, mô hình tổ chức của công ty cấp nước vùng sẽ được xác định đảm bảo phù hợp với các quy định hiện hành về quản lý tài chính, quản lý doanh nghiệp. Đồng thời, việc xác định cơ chế triển khai thực hiện hợp phần đầu tư mở rộng mạng cấp nước của các chủ đầu tư là công ty cấp nước các tỉnh cũng sẽ được nghiên cứu đề xuất cụ thể.

Báo cáo nghiên cứu khả thi, cũng nghiên cứu về khả năng tham gia của khu vực tư nhân, các hình thức hợp tác công tư, đảm bảo việc sử dụng vốn đầu tư Dự án phù hợp nhất.

Lộ trình và cách thức nghiên cứu các vấn đề này đã được Bộ Xây dựng thảo luận và thống nhất với WB trong quá trình lập kế hoạch chuẩn bị dự án. TBiên bản ghi nhớ của Phái đoàn chuẩn bị dự án của WB từ ngày 18-29/9/2017 đã nêu rõ “việc xác định mô hình của công ty cấp nước vùng sẽ được đề xuất trên cơ sở các đánh giá và phân tích cần thiết được thực hiện trong giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi”.

Theo kế hoạch, dự thảo báo cáo nghiên cứu khả thi của Dự án sẽ được hoàn thành trong tháng 9/2018. Do vậy, đối với vấn đề liên quan đến thể chế nói trên, Bộ Xây dựng xin tiếp thu ý kiến và sẽ đề xuất cụ thể trong nội dung Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Bộ Xây dựng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất dự án sửa đổi, đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ cho phép đưa Dự án cấp nước an toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long vào danh mục dự án vay vốn WB tài khóa 2019.

PV

(TN&MT) – Theo thông tin từ Công ty CP Cấp nước Sơn La, từ 14 giờ ngày 18/11, Trạm cấp nước số 2 tại bản Kham, xã Hua La, TP. Sơn La thuộc Xí nghiệp cấp nước TP. Sơn La đã phải ngừng cấp nước do bị ô nhiễm nguồn nước.

Trạm cấp nước số 2, có công suất 2.500 m3/ngày đêm, nguồn cấp nước là dòng suối Nậm La, bắt nguồn từ xã Mường Chanh, huyện Mai Sơn chảy qua xã Hua La, TP. Sơn La. Trạm cấp nước này cung cấp nước cho khoảng 30% hộ dân thuộc các phường Tô Hiệu, Chiềng Cơi và phường Quyết Tâm của TP. Sơn La.

Chiều ngày 18/11, sau khi phát hiện nước có hiện tượng bị ô nhiễm, có mùi khó chịu, Công ty đã ngừng sản xuất. Đồng thời, tiến hành kiểm tra, xác minh nguyên nhân ban đầu do hoạt động sơ chế cà phê trên đầu nguồn suối Nậm La. Nước từ các cơ sở sơ chế cà phê đã xả thải xuống suối Nậm Chanh, chảy vào suối Nậm La (nguồn nước cung cấp nước cho Nhà máy).

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Trước tình trạng ô nhiễm nguồn nước, Công ty cổ phần Cấp nước Sơn La đã cho dừng cấp nước, đồng thời báo cáo UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo cấp nước an toàn tỉnh và các cơ quan chức năng về tình hình ô nhiễm nguồn nước của Nhà máy.

Ông Bùi Văn Đính, Tổng Giám đốc Công ty CP Cấp nước Sơn La cho biết: Đến nay, Nhà máy cấp nước số 1 sử dụng nguồn nước hang Tát Tòng, xã Chiềng An cơ bản đã hoạt động bình thường trở lại. Do đó, việc ngừng cấp nước tại Trạm số 2 gây ảnh hưởng không lớn. Bên cạnh đó, Công ty sẽ huy động thêm nguồn nước từ một số nguồn khác để đảm bảo cấp nước ổn định cho người dân.

Trước đó, nguồn nước cấp tại Trạm cấp nước số 1 cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng do hoạt động sơ chế cà phê tại khu vực đầu nguồn thành phố. Hậu quả khiến 12.000 hộ dân thành phố Sơn La bị cắt nước sinh hoạt trong 10 ngày (4-14/11), 8.000 hộ dân bị ảnh hưởng do điều tiết nguồn nước từ ngày 7-14/11, gây xáo trộn và ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống sinh hoạt, kinh doanh của người dân.

Nguyễn Nga

(TN&MT) – Để giải quyết những vướng mắc tồn tại về công tác bồi thường, GPMB và tình hình đầu tư đối với các dự án thủy điện trên địa bàn ​huyện Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi). Mới đây, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Đặng Văn Minh chủ trì cuộc họp với các sở, ngành, huyện Sơn Tây và các chủ đầu tư các dự án thủy điện trên địa bàn ​huyện.

​Theo báo cáo của Sở Công thương tỉnh Quảng Ngãi, hiện nay, trên địa bàn huyện Sơn Tây có 8 dự án thủy điện với tổng công suất trên 260MW. Trong đó, có 2 dự án đã đi vào vận hành là thủy điện Đakđrinh với công suất 125 MW và thủy điện Huy Măng với công suất 1,8MW. Hai dự án đang triển khai thi công là thủy điện Sơn Tây có công suất 18MW và thủy điện Sơn Trà 1 có công suất 60MW.

Các dự án thủy điện còn lại (ĐakBa với công suất 19,5MW, Thượng Sơn Tây với công suất 10 MW, Sơn Trà 1C với công suất 9 MW, Đakđrinh 2 với công suất 17 MW) hiện đang triển khai thi công nhưng rất chậm so với kế hoạch, nguyên nhân là do  còn tồn tại một số vướng mắc trong công tác bồi thường, GPMB của dự án.

Ngoài ra, đề nghị của UBND tỉnh Kon Tum sẽ bổ sung vào quy hoạch 1 dự án thủy điện Đăk Robaye với công suất 10MW. Dự án này nằm trên địa bàn 02 tỉnh Kon Tum và Quảng Ngãi, trong đó Nhà máy xây dựng trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

Tại cuộc họp, Phó Chủ tịch Đặng Văn Minh chỉ đạo, phải quản lý chặt chẽ tại khu vực xây dựng nhà máy thủy điện, không để người dân tự ý xây nhà tạm, trồng cây trái phép nhằm mục đích trục lợi từ công tác bồi thường, GPMB
Phó Chủ tịch Đặng Văn Minh chỉ đạo phải quản lý chặt chẽ tại khu vực xây dựng nhà máy thủy điện, không để người dân tự ý xây nhà tạm, trồng cây trái phép nhằm mục đích trục lợi từ công tác bồi thường, GPMB

Phát biểu tại cuộc họp, Phó Chủ tịch Thường trực Đặng Văn Minh cho rằng, do điều kiện tự nhiên của huyện Sơn Tây thuận lợi trong việc phát triển thủy điện nên trong thời gian qua, tỉnh đã đồng ý chủ trương đầu tư nhiều dự án thủy điện trên địa bàn nhằm khai thác hết tiềm năng, lợi thế của huyện, góp phần thu ngân sách và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Tuy nhiên, việc triển khai nhiều dự án sẽ ảnh hưởng nhất định đến sự chỉ đạo điều hành, tỉnh sẽ có phương án phân bổ ngân sách hợp lý cho huyện để đầu tư cơ sở hạ tầng trong thời gian đến.

Bên cạnh đó, Phó Chủ tịch Đặng Văn Minh cũng yêu cầu các doanh nghiệp là nhà đầu tư thủy điện trên địa bàn huyện phải thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình đối với địa phương về đầu tư cơ sở hạ tầng bị hư hỏng, xuống cấp do quá trình triển khai thực hiện dự án và hỗ trợ an sinh xã hội; đồng thời, phải phối hợp chặt chẽ với địa phương trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Riêng đối với dự án thủy điện Đăkđrinh, Phó Chủ tịch yêu cầu chủ đầu tư phải khẩn trương chuyển trả tiền nợ bồi thường cho người dân, cũng như chuyển trả đủ tiền cho huyện Sơn Tây theo cam kết để huyện đầu tư các công trình hạ tầng, phục vụ sản xuất người dân trên địa bàn.

Phó Chủ tịch Đặng Văn Minh yêu cầu chủ đầu tư dự án thủy điện Đăkđrinh chuyển trả tiền nợ bồi thường cho người dân
Phó Chủ tịch Đặng Văn Minh yêu cầu chủ đầu tư dự án thủy điện Đăkđrinh chuyển trả tiền nợ bồi thường cho người dân

Để quản lý chặt chẽ tại khu vực xây dựng nhà máy thủy điện, không để người dân tự ý xây nhà tạm, trồng cây trái phép nhằm mục đích trục lợi từ công tác bồi thường, GPMB từ dự án thủy điện, Phó Chủ tịch yêu cầu UBND huyện Sơn Tây chỉ đạo UBND các xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền.

Đối với dự án thủy điện Đăk Robaye, Phó Chủ tịch đồng ý thỏa thuận với tỉnh Kon Tum đưa dự án này vào quy hoạch. Tuy nhiên, khi nào triển khai trên địa bàn Quảng Ngãi, yêu cầu Chủ đầu tư phải làm việc với huyện Sơn Tây, xã và người dân trong vùng, nếu đồng thuận thì triển khai thực hiện.

Võ Hà

(TN&MT) – UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 4063/QĐ-UBND về việc phê duyệt Danh mục vùng cấm khai thác nước dưới đất, vùng cấm xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất đối với các huyện: Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú và thị xã Long Khánh (Phụ lục: I, II, III, IV) và Bản đồ vùng cấm, vùng hạn chế, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất đối với các huyện: Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú và thị xã Long Khánh tỷ lệ 1:25.000 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Theo đó, UBND tỉnh Đồng Nai giao Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức công bố Danh mục vùng cấm khai thác nước dưới đất, vùng cấm xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất và Bản đồ vùng cấm, vùng hạn chế, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất đối với các huyện: Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú và thị xã Long Khánh tỷ lệ 1:25.000 trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Đồng thời, tổ chức tuyên truyền vận động tổ chức cá nhân khu vực nông thôn thực hiện quy định vùng cấm khai thác nước d

(TN&MT) – UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 4063/QĐ-UBND về việc phê duyệt Danh mục vùng cấm khai thác nước dưới đất, vùng cấm xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất đối với các huyện: Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú và thị xã Long Khánh (Phụ lục: I, II, III, IV) và Bản đồ vùng cấm, vùng hạn chế, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất đối với các huyện: Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú và thị xã Long Khánh tỷ lệ 1:25.000 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Theo đó, UBND tỉnh Đồng Nai giao Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức công bố Danh mục vùng cấm khai thác nước dưới đất, vùng cấm xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất và Bản đồ vùng cấm, vùng hạn chế, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất đối với các huyện: Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú và thị xã Long Khánh tỷ lệ 1:25.000 trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Đồng thời, tổ chức tuyên truyền vận động tổ chức cá nhân khu vực nông thôn thực hiện quy định vùng cấm khai thác nước dưới đất, vùng cấm xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất để sử dụng hệ thống cung cấp nước sạch do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cấp. UBND tỉnh Đồng Nai cũng giao các Sở, ban, ngành khác căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao tổ chức tuyên truyền vận động công chức, viên chức, các đơn vị thuộc quyền quản lý thực hiện vùng cấm khai thác nước dưới đất, vùng cấm xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất.

UBND tỉnh Đồng Nai còn giao UBND các huyện: Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú và thị xã Long Khánh tổ chức tuyên truyền thực hiện Danh mục vùng cấm khai thác nước dưới đất, vùng cấm xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất và Bản đồ vùng cấm, vùng hạn chế, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất đối với các huyện: Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú và thị xã Long Khánh tỷ lệ 1:25.000 trên địa bàn quản lý; định kỳ báo cáo UBND tỉnh Đồng Nai thông qua Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định; căn cứ Danh mục phải đăng ký nước dưới đất, chỉ đạo UBND cấp xã thuộc địa bàn quản lý tổ chức đăng ký theo quy định.

Tường Tú

ưới đất, vùng cấm xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất để sử dụng hệ thống cung cấp nước sạch do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cấp. UBND tỉnh Đồng Nai cũng giao các Sở, ban, ngành khác căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao tổ chức tuyên truyền vận động công chức, viên chức, các đơn vị thuộc quyền quản lý thực hiện vùng cấm khai thác nước dưới đất, vùng cấm xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất.

UBND tỉnh Đồng Nai còn giao UBND các huyện: Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú và thị xã Long Khánh tổ chức tuyên truyền thực hiện Danh mục vùng cấm khai thác nước dưới đất, vùng cấm xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất và Bản đồ vùng cấm, vùng hạn chế, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất đối với các huyện: Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú và thị xã Long Khánh tỷ lệ 1:25.000 trên địa bàn quản lý; định kỳ báo cáo UBND tỉnh Đồng Nai thông qua Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định; căn cứ Danh mục phải đăng ký nước dưới đất, chỉ đạo UBND cấp xã thuộc địa bàn quản lý tổ chức đăng ký theo quy định.

Tường Tú

(TN&MT) – Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 47/TT-BTNMT Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

Việc giám sát khai thác, sử dụng TNN phải đảm bảo khách quan, trung thực

Thông tư này áp dụng cho các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở cấp Trung ương và địa phương; các cơ sở sản xuất sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có công trình khai thác tài nguyên nước theo quy định.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Thông tư quy định, nguyên tắc giám sát phải bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan và thuận tiện cho việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu về khai thác, sử dụng tài nguyên nước; Bảo đảm tính hệ thống, kịp thời, đầy đủ và liên tục nhằm kiểm soát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước; Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ thông tin, dữ liệu về mặt không gian và thời gian; giữa trung ương, địa phương và trên từng lưu vực sông; Bảo đảm tính thống nhất giữa yêu cầu về giám sát với hoạt động quan trắc của cơ sở được cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

Thông tư cũng quy định rõ hình thức giám sát. Cu thể: Giám sát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước là việc kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thông qua việc theo dõi số liệu quan trắc của các cơ sở khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Việc giám sát quy định tại Thông tư được thực hiện thông qua việc giám sát tự động, trực tuyến: theo dõi số liệu đo đạc, quan trắc tự động, liên tục được kết nối và truyền trực tiếp vào hệ thống giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

Trạm quan trắc nước mặt tự động
Trạm quan trắc nước mặt tự động

Bên cạnh đó, giám sát bằng camera: theo dõi hình ảnh bằng camera được kết nối và truyền trực tiếp vào hệ thống giám sát. Ngoài ra, còn thực hiện việc giám sát định kỳ: theo dõi số liệu đo đạc, quan trắc được cập nhật định kỳ vào hệ thống giám sát.

Vẫn theo Thông tư trên đây, hệ thống giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước là một hệ thống thống nhất, đảm bảo kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu từ các cơ sở khai thác, sử dụng tài nguyên nước với cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, bao gồm: Hệ thống thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu và phần mềm quản lý, xử lý ở trung ương và địa phương; cơ sở dữ liệu của hệ thống giám sát; thiết bị đo đạc, kết nối, truyền trực tiếp, cập nhật số liệu từ cơ sở có công trình khai thác tài nguyên nước vào cơ sở dữ liệu của hệ thống giám sát.

Quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan giám sát

Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đầu tư xây dựng, lắp đặt thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu, phần mềm quản lý, xử lý dữ liệu ở Trung ương và cơ sở dữ liệu của hệ thống thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu và phần mềm quản lý, xử lý ở Trung ương; cơ sở dữ liệu của hệ thống giám sát.

UBND cấp tỉnh có trách nhiệm đầu tư xây dựng, lắp đặt thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu ở địa phương.

Cơ sở có công trình khai thác tài nguyên nước có trách nhiệm đầu tư, lắp đặt các thiết bị đo đạc, kết nối, truyền trực tiếp, cập nhật số liệu từ cơ sở có công trình khai thác tài nguyên nước vào cơ sở dữ liệu cảu hệ thống giám sát.

Thông tư nêu rõ, Thông tin dữ liệu từ hệ thống giám sát là một trong những căn cứ cho hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong việc tuân thủ quy định của giấy phép tài nguyên nước và các quy định khác của pháp luật về tài nguyên nước.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định cụ thể về yêu cầu đối với thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu và phần mềm quản lý, xử lý dữ liệu; các yêu cầu đối với cơ sở dữ liệu giám sát; yêu cầu đối với thiết bị đo đạc, kết nối, truyền số liệu của cơ sở có công trình;….

Về điều khoản chuyển tiếp, Thông tư quy định, đối với cơ sở đã được cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước trước ngày Thông tư này có hiệu lực (22/12/2017) phải hoàn thành việc lắp đặt thiết bị, kết nối, cung cấp thông tin, dữ liệu về hệ thống giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước trước ngày 31/12/2019.

Đối với giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước đã được cấp mà chưa quy định cụ thể về thông số, hình thức, chế độ quan trắc và cung cấp thông tin, số liệu phục vụ việc giám sát hoặc đã có quy định nhưng chưa phù hợp với quy định của Thông tư này thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép xem xét, quyết định điều chỉnh, bổ sung yêu cầu về quan trắc, giám sát theo quy định của Thông tư này khi điều chỉnh, gia hạn, cấp lại giấy phép. Trường hợp cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền cấp phép quyết định việc điều chỉnh, bổ sung quy định về quan trắc, giám sát cho phù hợp với Thông tư này.

Trong quá trình triển khai thực hiện Thông tư này, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Tài nguyên và Môi trường để xem xét, giải quyết.

Thúy Hằng 

Bài viết mới nhất