Tài nguyên nước

Qua khảo sát, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc mới đây đã tìm được thêm mạch nước ngọt trên đảo Bạch Long Vỹ (thuộc địa bàn Tp Hải Phòng).

Hai mạch nước này có lưu lượng tới 75 m3/ngày. Ngay sau khi tìm được mạch nước, đoàn đã khẩn trương xây dựng trạm xử lý cấp nước để phục vụ nhân dân trên đảo. Cộng thêm 2 giếng khoan có độ sâu 80m, lưu lượng 15m3/ngày, đến nay đảo Bạch Long Vỹ đã có 4 giếng nước ngọt phục vụ đời sống người dân trên đảo. Với 4 giếng khoan hiện có có thể đáp ứng được 90 m3/ngày và còn thiếu khoảng 120 m3/ngày. Cùng với đó, sau hơn 4 năm xây dựng, dự kiến hai hồ chứa nước ngọt với dung tích 48.000 m3 sẽ được hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm 2018.

Những năm qua, đảo luôn trong tình trạng thiếu nước ngọt. Bình quân trên đảo có khoảng 1.000 người, nhiều thời điểm do phải tránh bão, lượng người trên đảo lên đến hơn 2.000 người. Nhu cầu nước ngọt trên đảo bình quân là khoảng 210 m3/ngày. Trong khi trước đây, lượng nước chỉ đáp ứng một phần nhu cầu của nhân dân trên đảo.

P.V

Nghệ An là một trong các tỉnh có nguồn tài nguyên nước phong phú. Để đảm bảo nguồn tài nguyên này luôn dồi dào, tỉnh Nghệ An đã xây dựng các phương án bảo vệ, sử dụng hợp lý.

Nghệ An có trữ lượng nước mặt rất dồi dào. Tổng trữ lượng nước mặt trên 20 tỷ m3, bình quân trên 1ha đất tự nhiên có 13.064m3 nước mặt. Tổng lượng nước mặt vận chuyển qua tỉnh khoảng 28.109m3/năm, trung bình 76.721.328m3/ngày, bao gồm nước sông, suối, hồ, đập, kênh…. Nước mặt được cung cấp chủ yếu từ nước mưa (về mùa mưa) và một phần nước dưới đất. Đây là nguồn nước quan trọng cho sự phát triển của thảm thực vật và cũng chính là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến vi khí hậu, là một trong những nguồn nước chính cung cấp cho nước sinh hoạt và phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp trong tỉnh.

Bên cạnh những tiềm năng sẵn có về tài nguyên nước, công tác khai thác, quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh cũng được quan tâm.

Ông Bạch Hưng Cử – Trưởng phòng Nước, Khí tượng thủy văn, Biển và Hải đảo (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An) cho biết: Trong thời gian qua, lĩnh vực tài nguyên nước được thực hiện quản lý thống nhất tại một cơ quan chuyên trách, công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước có nhiều chuyển biến rõ rệt.

Cụ thể: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước dần được hoàn thiện; nhiều chương trình, mục tiêu lớn về tài nguyên nước được hoạch định, xây dựng và triển khai thực hiện; cơ cấu tổ chức quản lý ngày được kiện toàn; công tác quy hoạch, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước cũng được chú trọng triển khai thực hiện.

Tuy nhiên, cùng với quá trình công nghiệp hóa, khai thác đất rừng chưa theo quy hoạch, sự biến đổi khí hậu đang làm nghèo dần các nguồn nước, hệ thống thủy văn bị cạn kiệt đang làm cho chất lượng môi trường các hồ nước mặt, các nguồn nước mặt khác đang ngày càng suy giảm, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và sức khỏe của người dân. Do đó, để bảo vệ tài nguyên nước không bị ô nhiễm, suy thoái cần sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, ngành và sự chung tay của mỗi cá nhân cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.

PV

Trong khổ chương trình “1 phút tiết kiệm triệu niềm vui”, Trung tâm cấp nước đô thị TP Hồ Chí Minh và Heineken Việt Nam vừa triển khai trang trí 100 nắp cống trên các tuyến đường trung tâm thành phố. Mục đích của chương trình này nhằm chung tay lan tỏa và kêu gọi cộng đồng bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường,

Được phát động từ tháng 10/2017 bằng Cuộc thi vẽ tranh trang trí nắp cống được tổ chức tại fanpage www.facebook.com/1phuttietkiemtrieuniemvui, chương trình nhận được sự hưởng ứng của các bạn trẻ yêu thích hoạt động xã hội cùng tham gia.

Từ cuộc thi này, 10 bức tranh xuất sắc đoạt giải theo tiêu chí của Ban Tổ chức được chọn trang trí trên các nắp cống thuộc các tuyến đường Alexandre de Rhodes, Lê Lợi, Phạm Ngũ Lão… với kỳ vọng góp phần nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường và có thể nhân rộng đến các khu vực khác.

PV


Ảnh minh họa

Nước – một phần tất yếu của cuộc sống con người. Ở Việt Nam, nhiều giải pháp đã được triển khai song vẫn cần hệ thống giải pháp mang tính triệt để nào bảo vệ nguồn nước trước vấn nạn ô nhiễm gây ra.

* Ô nhiễm bủa vây nước

Chia sẻ thông tin với báo giới gần đây, Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên nhận định, ô nhiễm nguồn nước là chủ để “cực nóng” ở Việt Nam hiện nay, đòi hỏi nhiều giải pháp cấp bách.

Trên thực tế, nhiều giải pháp tăng cường quản trị tài nguyên nước đã được xây dựng như chính sách pháp luật, chiến lược về tài nguyên nước, chủ động thích ứng với diễn biến thời tiết cực đoan và việc phụ thuộc vào các quốc gia sử dụng nước ở thượng nguồn. Đẩy mạnh công tác quan trắc, giám sát và bảo vệ tài nguyên nước, đặc biệt là các nguồn nước liên quốc gia…

Giải pháp là vậy nhưng thực hiện lại không đồng nhất, kém hiệu quả. Đơn cử như việc xây dựng thủy điện khu vực phía Bắc mọc lên như nấm, khiến dòng chảy và chất lượng dòng chảy bị biến hình hay lũ lụt Tây Bắc thời gian vừa qua, sự tàn phá cây rừng, khiến sự khốc liệt càng tăng cường, nguồn nước vì thế bị thay đổi.

PGS.TS Nguyễn Thế Chinh – Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (Bộ TN&MT) cho biết,  đảm bảo mục tiêu sử dụng nước bền vững, nước cần được công nhận như một thứ hàng hóa kinh tế đầu vào có giá trị kinh tế trong mọi cạnh tranh.

“Nguồn nước là loại vốn tự nhiên thuộc sở hữu chung, chính vì vậy nếu không phân định rõ quyền tài sản về nước, cũng như phân bổ lợi ích cho các bên liên quan một cách hợp lý, sẽ dễ dẫn đến xung đột về nguồn nước. Do vậy, khai thác sử dụng tài nguyên nước trước hết phải bảo đảm hiệu quả và công bằng”- PGS Chinh nhấn mạnh.

* Nước sạch luôn thiếu

Nguồn cung cấp nước sạch được dự báo sẽ giống như tình trạng khan hiếm dầu hiện nay. Các biện pháp bổ sung nguồn nước thiếu hụt trên toàn cầu cần chi phí 124 tỷ EUR hàng năm. Nhưng khoản chi phí này sẽ chỉ còn từ 31 – 37 tỷ EUR nếu người dân các nước được giáo dục cách tiết kiệm nước. Giải pháp cấp bách là quản trị nguồn nước hiệu quả.

Các chuyên gia về lĩnh vực này cũng đặc biệt lưu ý đến ý thức về sử dụng nguồn nước của các chủ hộ gia đình tại những đô thị lớn. Đã có rất nhiều chương trình hành động, tuyên truyền nhằm tác động đến ý thức của đối tượng sử dụng này. Song dường như hiệu quả thực tế chưa được như mong muốn. Nhiều nghiên cứu trực tiếp đã cho thấy, nếu biết tận dụng, dự trữ nguồn nước mưa cho để dội toa-lét, giặt quần áo và tưới cây thì nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt có thể giảm đến 70% khi người ta nhận ra vấn đề.

Các dự báo về tình hình cạn kiệt tài nguyên nước trên thế giới hàng năm vẫn liên tiếp được đưa ra. Có nhà khoa học còn dự báo, thảm họa tự nhiên kiểu như lũ lụt ở Pakistan, Úc, Việt Nam, Trung Quốc… được dự báo sẽ xảy ra thường xuyên hơn trong những năm tới. Những trận lụt lịch sử 100 năm đang diễn ra với tần số dày hơn – mỗi 20 năm. Và tình trạng thiếu hụt nước sạch, những căn bệnh liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm sẽ càng thêm trầm trọng khi các thành phố lớn ngày càng một phình rộng.

PV


Quang cảnh buổi lễ mít tinh hưởng ứng Ngày Nước thế giới 2018 tại Đồng Nai

Ngày 20/3, tại sân vận động Thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, Tỉnh Đoàn Nam Định phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), Huyện Đoàn Giao Thủy tổ chức mít tinh hưởng ứng Ngày Nước thế giới và Ngày Khí tượng thế giới năm 2018. Lãnh đạo Tỉnh Đoàn, Sở TN&MT, huyện Giao Thủy và trên 1.000 cán bộ, đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) dự chương trình.

Ngay sau lễ mít tinh, đông đảo cán bộ, ĐVTN đã tham gia diễu hành tuyên truyền về Ngày Nước thế giới, Ngày Khí tượng thế giới; ra mắt CLB thanh niên tình nguyện bảo vệ môi trường huyện Giao Thủy; ra quân dọn vệ sinh môi trường biển.

Tại Đồng Nai: Ngày 22/3 tại TP.Biên Hòa, Đồng Nai, Sở TN&MT Đồng Nai đã chủ trì phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Đồng Nai tổ chức Lễ mít tinh hưởng ứng Ngày Nước thế giới năm 2018, thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia.

Phát biểu tại buổi lễ, thay mặt Sở TN&MT Đồng Nai, ông Nguyễn Ngọc Hưng – Phó Giám đốc Sở TN&MT Đồng Nai đã kêu gọi tất cả mọi người ngoài việc tham gia các hoạt động hưởng ứng trong Ngày này, cần thường xuyên có những chương trình, hành động nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ nguồn tài nguyên nước bằng những việc làm, hành động cụ thể, như: Tiếp tục thực hiện công tác tuyên truyền đến cộng đồng về ý nghĩa của Ngày Nước thế giới, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của tài nguyên nước.

Tại Bắc Ninh: UBND tỉnh chỉ đạo Sở TN&MT chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức các hoạt động hưởng ứng thông qua các hoạt động truyền thông trực tiếp tại cơ sở như: Ra quân làm vệ sinh môi trường; Phổ biến chính sách, pháp luật nhằm tăng cường năng lực thực hiện chức năng giám sát, phản biện và tham vấn cộng đồng liên quan đến lĩnh vực quản lý tài nguyên nước;  Treo băng rôn, áp phích, khẩu hiệu; Phổ biến các mô hình, điển hình tiên tiến có đóng góp hiệu quả trong việc bảo vệ, sử dụng bền vững tài nguyên nước…

Tại Bình Dương: Sở TN&MT đã đẩy mạnh truyền thông bằng các hình thức trực quan và thông tin đại chúng. Các nội dung tuyên truyền phải mang tính đại chúng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, nhằm tập trung sự chú ý của cộng đồng và các doanh nghiệp vềý nghĩa, tầm quan trọng của tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu…

Theo đó đến nay, Sở đã đặt 16 standee với chủ đề, ý nghĩa Ngày Nước và Ngày Khí tượng thế giới; treo 500 banner nhằm vận động sử dụng nước tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên nước, tuyên truyền về biến đổi khí hậu và hành động ứng phó; thay nền 5 pano đã có và 10 pano mới cùng 10 tấm băng rôn để cung cấp kiến thức cơ bản về tài nguyên nước, hướng dẫn sử dụng nước tiết kiệm cho các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương…

Qua đợt truyền thông này, sẽ góp phần nâng cao ý thức của cộng đồng, doanh nghiệp trong việc chấp hành các quy định pháp luật về tài nguyên nước; nâng cao ý thức sử dụng tiết kiệm, bảo vệ tài nguyên nước trong đời sống, trong sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu, nguyên nhân và các ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản cho cộng đồng.

K.Linh (tổng hợp)


Ngày Nước thế giới với Chủ đề “Nước với Thiên nhiên” nhằm kêu gọi ý thức trách nhiệm của toàn xã hội trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước. Ảnh: MH

Năm 2018, Ngày Nước thế giới có Chủ đề là “Nước với Thiên nhiên” nhằm kêu gọi ý thức trách nhiệm của toàn xã hội trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước, hiểu đúng mối quan hệ sống còn giữa nguồn nước và thiên nhiên, từ đó, thúc đẩy việc tìm kiếm các giải pháp dựa vào tự nhiên để bảo vệ nguồn nước, đặc biệt là nguồn nước ngọt.

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Tài nguyên và Môi trường xung quanh sự kiện này.

PV: Thưa ông, ông có thể cho biết cụ thể hơn về chủ đề của Ngày Nước thế giới năm nay?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy: Nước là một trong những thành tố quan trọng nhất của môi trường sống, của thiên nhiên và ngược lại thiên nhiên trù phú sẽ là yêu tố quan trọng để bảo đảm một nguồn nước dồi dào và trong lành.

Trên phạm vi toàn cầu, nhân loại đang phải đối mặt với những vấn đề lớn như: 2/3 diện tích rừng đã bị suy giảm; 2/3 diện tích đất ngập nước đã biến mất. Hiện nay, hàng năm, có đến 4 tỷ người bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, hạn hạn hay bão và thiệt hại ước tính 40 tỷ USD/năm; 40 tỷ tấn phù sa bị rửa trôi theo các dòng sông, 2,1 tỷ người không được cấp nước an toàn và 80% lượng nước thải chưa được xử lý hoặc xủ lý chưa đạt hàng ngày xả ra sông suối, đại dương. Nhiều di sản thế giới gắn với nguồn nước, các hệ sinh thái tự nhiên đã tạo ra việc làm cho nhiều các ngành du lịch, giải trí, thủy sản, lâm nghiệp, nông nghiệp nhưng chúng đang bị đe dọa bởi nguồn nước suy giảm.

Để góp phần giải quyết những vấn có tính toàn cầu, đồng thời, nhấn mạnh mối quan hệ, tác động mật thiết giữa thiên nhiên với nước, cũng như tầm quan trọng của việc lựa chọn các giải pháp để giải quyết các vấn đề về nước trên phạm vi toàn cầu, tại mỗi quốc gia hay từng lưu vực sông, năm nay, Liên Hợp Quốc chọn chủ đề Ngày Nước thế giới 2018 là “Nước với thiên nhiên”, với thông điệp chủ đạo là: Làm cách nào chúng ta giảm thiểu lũ, hạn hán và ô nhiễm nguồn nước. Và câu trả lời chính là tự nhiên – Bằng cách ứng dụng các giải pháp có sẵn trong tự nhiên để giải quyết các vấn đề về nước.

Đó là tầm quan trọng của Chủ đề năm nay đối với mục tiêu phát triển bền vững số 6: “Đảm bảo nguồn cung cấp và quản lý bền vững tài nguyên nước và các điều kiện vệ sinh an toàn cho tất cả mọi người”.

Ông Hoàng Văn Bẩy

PV: Ông có thể cho biết, Việt Nam đang đối mặt với những thách thức nào từ nguồn nước?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy: Việt Nam có 3.450 sông, suối với chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó, có 13 sông lớn; 392 sông, suối liên tỉnh và 3.045 sông, suối nội tỉnh. Với tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng 830 – 840 tỷ m3, trong đó, về mặt không gian tập trung chủ yếu (khoảng 57%) ở lưu vực sông Cửu Long, hơn 16% ở lưu vực sông Hồng – Thái Bình, hơn 4% ở lưu vực sông Đồng Nai, còn lại ở các lưu vực sông khác.

Việt Nam cũng có tiềm năng khá lớn, khoảng 63 tỷ m3/năm, nhưng tập trung chủ yếu ở các khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, Đồng bằng Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên. Mặt khác, phần lớn các hệ thống sông lớn của Việt Nam đều là các sông xuyên biên giới mà Việt Nam là quốc gia ở hạ nguồn. Tổng lượng nước từ nước ngoài chảy vào Việt Nam khoảng trên 500 tỷ m3 (chiếm khoảng 63% tổng lượng nước trung bình hàng năm của toàn quốc), trong đó, lớn nhất là sông Cửu Long, trên 400 tỷ m3, chiếm khoảng 84% tổng lượng nước chảy xuyên biên giới vào nước ta; sông Hồng khoảng 50 tỷ m3, bằng khoảng 10%… Trong khi đó, việc gia tăng khai nước ở các quốc gia thượng nguồn đe dọa nghiêm trọng đến tổng lượng tài nguyên nước ở Việt Nam hiện tại và tương lai.

Những năm qua, nhu cầu về nước ngày càng tăng dẫn đến việc khai thác sử dụng tài nguyên nước ngày càng nhiều. Nhu cầu dùng nước ở nước ta do tăng dần số, đô thị hóa, công nghiệp hóa… sẽ lên đến khoảng 130 – 150 tỷ m3/năm, chiếm tới gần 50% lượng nước sản sinh trên lãnh thổ nước ta, gần 90% nguồn nước mùa khô (khoảng 170 tỷ m3).

Ngoài ra suy thoái, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm, thiếu nước, khan hiếm nước trở nên phổ biến hơn. Cạnh tranh giữa sử dụng nước cho thủy điện và các nhu cầu tiêu thụ nước khác, đặc biệt, cho sản xuất nông nghiệp ở hạ du một số lưu vực sông lớn đã xảy ra trong những năm gần đây, nhất là trong mùa khô.

Việc suy giảm rừng đầu nguồn, diện tích rừng không được cải thiện, chất lượng rừng kém làm giảm nguồn sinh thủy của các sông, suối, hồ chứa; nhu cầu sử dụng nước gia tăng trong khi tình trạng sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả còn khá phổ biến; chưa bảo đảm việc sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu, hiệu quả tài nguyên nước, nhất là huy động nguồn nước của hệ thống các hồ chứa tham gia điều tiết dòng chảy cho hạ du….

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là do khai thác thiếu hợp lý dẫn đến khai thác quá mức ở một số khu vực, lưu vực sông.

PV: Nguyên nhân nào dẫn đến khô hạn, hạn mặn tình trạng thiếu nước trầm trọng ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân khu vực phía Nam như ĐBSCL và Tây Nguyên, thưa ông?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy: Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn những năm qua đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của người dân vùng ĐBSCL. Theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng, với kịch bản trung bình, trong tương lại xâm nhập mặn còn lấn sâu hơn nhiều so với mùa cạn vừa rồi: 67 – 70 km trên sông Cửu Long, 125 km trên sông Vàm Cỏ Tây đối với giai đoạn 2020 – 2039 và 70 – 75 km trên sông Cửu Long, 129 km trên sông Vàm Cỏ Tây đối với giai đoạn 2040 – 2059.

Như vậy, trong thời gian tới, với tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng và tác động của các hoạt động khai thác, sử dụng nước của các quốc gia ở thượng nguồn sông Mê Công, đặc biệt là việc xây dựng, vận hành các hồ chứa thủy điện cả trên dòng chính và dòng nhánh, ĐBSCL sẽ phải thường xuyên đối mặt với tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn khốc liệt hơn những gì đã và đang xảy ra kể cả về quy mô, mức độ và thời gian nếu chúng ta không có các giải pháp căn cơ có tính chiến lược, lâu dài.

Nguyên nhân dẫn chủ yếu là do hiện tượng El Nino mạnh và kéo dài kỷ lục từ năm 2014 đến nay, dẫn đến lượng mưa trên toàn lưu vực suy giảm mạnh (khoảng 45%) so với lượng mưa TBNN. So với TBNN cùng thời kỳ, lượng mưa tháng 1/2016 ở trên toàn lưu vực sông Mê Công đều sụt giảm nghiêm trọng: sụt giảm 24% ở thượng lưu thuộc Vân Nam, Trung Quốc; 85% ở phần trung lưu thuộc Thái Lan, Lào, Tây Nguyên của Việt Nam và ở Biển Hồ (Tonle Sap) và châu thổ Mê Công thuộc Campuchia cũng sụt giảm tới 85%. Riêng Đồng bằng sông Cửu Long của nước ta, lượng mưa sụt giảm 30%, trong tháng 12/2015, còn tháng 1/2016, sụt giảm tới 100% so với TBNN. Bên cạnh đó, chế độ vận hành, điều tiết của hệ thống các hồ chứa trên thượng nguồn, kể cả trên dòng chính và dòng nhánh. Việc suy giảm dòng chảy trên Biển Hồ và gia tăng khai thác nước ở khu vực cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên.

Dòng chảy đến Tân Châu, Châu Đốc trước khi vào Đồng bằng sông Cửu Long sụt giảm: Do lượng mưa sụt giảm, dẫn đến dòng chảy trên sông sụt giảm, số liệu quan trắc dòng chảy tại Tân Châu, Châu Đốc cho thấy, tháng 12/2015, sụt giảm 50%, tháng 01/2016 sụt giảm 45%, tháng 02/2016 sụt giảm 32%, tháng 3/2016, sụt giảm 24% so với TBNN; mực nước trung bình tại Tân Châu, Châu đốc sụt giảm nghiêm trọng chỉ đạt 0,2 đến 0,4m.

Triều cường tăng cao cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến gia tăng xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua.

PV: Những giải pháp nào để cải thiện thực trạng suy giảm nguồn nước hiện nay tại Việt Nam, thưa ông?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy: Từ sau khi Luật Tài nguyên nước năm 2012 có hiệu lực đến nay, Bộ TN&MT đã hoàn thiện và trình Chính phủ phê duyệt 6 Nghị định và ban hành 30 Thông tư của Bộ. Điều này có thể khẳng định hệ thống pháp luật về tài nguyên nước đã được xây dựng khá toàn diện, đáp ứng yêu cầu quản lý tài nguyên nước trong thời gian tới. Vấn đề còn lại là phải tập trung triển khai trên thực tế để đưa các chính sách, biện pháp quản lý đó vào cuộc sống, bảo đảm quản lý tài nguyên nước có hiệu quả.

Trong đó, tập trung vào các giải pháp mang tính trọng tâm là xây dựng và phê duyệt quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch tài nguyên nước LVS Hồng, Cửu Long và các lưu vực sông lớn; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra; tăng cường giám sát vệc khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước thông qua hình thức giám sát tự động, trực tuyến; tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia nhằm nắm chắc nguồn tài nguyên nước Việt Nam và hiện trạng KTSD XNT vào nguồn nước; giám sát, chỉ đạo việc vận hành các hồ chứa lớn quan trọng tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 LVS quan trọng đã được Thủ tướng ban hành; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các biện pháp sử dụng nước tiêt kiệm hiệu quả đến tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức cá nhân và cộng đồng dân cư; Bộ TN&MT đã trình Chính phủ thành lập 5 lưu vực sông (Tờ trình số 24/TTr-BTNMT ngày 30/5/2017) để sớm thành lập và đưa vào hoạt động các Ủy ban Lưu vực sông để thực hiện có hiệu quả cơ chế điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước.

Đồng thời, đổi mới cơ chế, nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Quốc gia về tài nguyên nước; tăng cường năng lực, bao gồm cả tổ chức, bộ máy, cơ sở vật chất, công cụ kỹ thuật, thông tin cho các cơ quan quản lý chuyên ngành về tài nguyên nước từ Trung ương đến các cấp ở địa phương.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Thúy Hằng – Thanh Tâm (thực hiện)

(TN&MT) – Triển khai Nghị định 82/2017/NĐ-CP của Thủ tưởng Chính phủ  (NĐ 82) quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Sở TN&MT Điện Biên đã có hướng dẫn cụ thể đối với các Sở, đơn vị liên quan, các huyện, thị, thành phố và các tổ chức cá nhân thuộc đối tượng phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
Đến hiện tại, Điện Biên có 6 giấy phép thuộc đối tượng phải tính, nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Trong ảnh: Kiểm tra chất lượng nước đầu ra ở Công ty CP cấp nước Điện Biên
Đến hiện tại, Điện Biên có 6 giấy phép thuộc đối tượng phải tính, nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
(Trong ảnh: Kiểm tra chất lượng nước đầu ra ở Công ty CP cấp nước Điện Biên)

Theo đó, Sở TN&MT Điện Biên đã tiến hành rà soát, lập danh sách các tổ chức, cá nhân đã được UBND tỉnh cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước thuộc đối tượng phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, gồm 6 giấy phép khai thác nước mặt. Đồng thời có văn bản hướng dẫn về công thức tính, thời gian xác định, các tổ chức có trách nhiệm thực hiện và các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp tiền cấp quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo quy định của NĐ 82.
Thống kê đến thời điểm Nghị định 82 có hiệu lực, ngày 1/9/2017, UBND tỉnh Điện Biên đã cấp 6 giấy phép khai thác tài nguyên nước mặt cho Công ty Cổ phần cấp nước Điện Biên và đơn vị phải có nghĩa vụ nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định. Theo đó, đơn vị sẽ triển khai lập, nộp hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước về cho Sở TN&MT, gồm: Bản kê khai tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt và các tài liệu liên quan khác.
Ông Nguyễn Lệ Quế, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Công ty Cổ phần cấp nước Điện Biên cho biết: Từ khi NĐ 82 có hiệu lực, Công ty đã nghiên cứu nghị định, đồng thời đang lập tờ trình kê khai tính tiền cấp quyền khai thác nước mặt và dự ước số tiền nộp thuế. Tuy nhiên, trong quá trình kê khai tính tiền cấp quyền khai thác đơn vị gặp phải một số khó khăn. Trong khi, Nghị định hướng dẫn đối với công ty cung cấp, kinh doanh nước sạch phải thống kê, tổng hợp được sản lượng cấp nước riêng cho từng mục đích sử dụng, như: kinh doanh, dịch vụ, sản xuất, sinh hoạt hộ gia đình… Tuy nhiên đối với nhà máy nước ở các huyện, Công ty chỉ cung cấp và áp thu một mức giá duy nhất, vậy nên theo hướng dẫn của Nghị định thì Công ty đang khó khăn trong việc thống kê, quản lý các hộ, đối tượng sử dụng nước vào mục đích sản xuất kinh doanh để làm căn cứ áp tiền thu thế. Ngoài ra, Công ty còn băn khoăn giữa việc quy định áp giá tính công suất thiết kế với công suất thực tế của các nhà máy nước. Vì thực tế, một số nhà máy ở các huyện, công suất thực tế sản xuất luôn thấp và ít hơn so công suất thiết kế ban đầu của nhà máy, nhưng quy định của NĐ 82, Công ty vẫn phải “gánh” theo công suất thiết kế nhà máy…

Trên cơ sở tính toán, lập tờ trình của Công ty Cổ phần cấp nước Điện Biên, tới đây Sở Tài chính và Cục thuế tỉnh sẽ thẩm định lại và chốt phương án tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước để đơn vị thực hiện nghĩa vụ, đảm bảo hoàn thành trước ngày 30/8/2018.

 

Tác giả bài viết: Hoàng Châu

(TN&MT) – Mới đây, UBND tỉnh Điện Biên đã cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước cho Trung tâm Y tế 3 huyện Mường Chà, Mường Ảng và Điện Biên Đông, nâng tổng số đơn vị được cấp phép xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh Điện Biên lên 17 đơn vị.

Hệ thống xử lý nước thải Trung tâm Y tế huyện Điện Biên Đông
Hệ thống xử lý nước thải Trung tâm Y tế huyện Điện Biên Đông

Theo đó, các Trung tâm Y tế 3 huyện này phải tuân thủ các nội dung: Đảm bảo nguồn nước tiếp nhận nước thải, vị trí xả thải đúng vị trí đã đăng ký. Với phương thức xả thải tự chảy, xả gián đoạn 8 giờ/ngày với lưu lượng xả nước thải theo quy định. Chất lượng nước thải, giá trị các thông số ô nhiễm phải đảm bảo theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải. Thời gian cấp phép là 5 năm.
Các đơn vị được cấp phép phải thực hiện quan trắc nước thải và nước nguồn tiếp nhận. Hằng năm tổng hợp, báo cáo gửi UBND tỉnh qua sở Tài nguyên và Môi trường về tình hình thu gom, xử lý nước thải, xả nước thải  và các vấn đề phát sinh trong quá trình xử lý nước thải; các kết quả quan trắc lưu lượng, chất lượng nước thải, nước nguồn tiếp nhận theo đúng quy định. Thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2, Điều 38 của Luật Tài nguyên nước. nộp phí bảo vệ môi trường. lắp đặt thiết bị đo lưu lượng nước thải tại vị trí cửa xả thải trước khi nước thải vào nguồn tiếp nhận.

Cùng với đó, chịu sự kiểm tra của cơ quan quản lý tài nguyên nước các cấp. Nếu có sự cố bất thường liên quan đến việc xả nước thải phải ngừng ngay việc xả nước thải, báo cáo kịp thời về Sở tài nguyên Môi trường và chính quyền địa phương để được hỗ trợ về chuyên môn và có biện pháp xử lý.

UBND tỉnh Điện Biên giao sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với UBND các huyện có đơn vị được cấp giấy phép và các đơn vị có liên quan thường xuyên kiểm tra, giám sát chất lượng nước thải; xử lý nghiêm các sai phạm (nếu có) theo quy định của pháp luật.

 

Tác giả bài viết: Hà Thuận

(TN&MT) –  Sở Công Thương tỉnh Kon Tum, UBND huyện Đắk Hà khẳng định việc công ty thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi tích nước chạy thử khi chưa được phê duyệt bằng văn bản của các cấp có thẩm quyền làm chết gia súc của dân là trái quy định.

Trao đổi với PV báo điện tử TN&MT,  ông Nguyễn Văn Lập – CVP UBND huyện Đắk Hà, Kon Tum đã một lần nữa khẳng định về việc tích nước của công ty thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi là sai.

Như báo điện tử TN&MT đã đưa tin: Vào tối 9/12, thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi tích nước chạy thử mà không thông báo với người dân để họ di dời tài sản, gia súc, gia cầm, thu hoạch nông sản trong vùng gập đã làm cho 3 con bò, 1 con trâu chết và hơn 10 ha mì bị ngập trong nước.

Theo đó, vào đêm khuya ngày 9/12 thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi tích nước để xử lý việc hư hỏng đê quai công trình phía hạ lưu nhà máy làm cho nhiều trâu bò bị chết, hàng chục héc ta diện tích trồng mì, cà phê và cả con đường đi lại lên nương rẫy ngập trong nước.Bị chìm trong nước, mọi tuyến đường đi lên nương rẫy bị chia cắt hoàn toàn, làm cho việc thu hoạch nông sản gặp rất nhiều khó khăn.

dak pxi 2

Ngoài ra, nhiều diện tích cà phê, mỳ  của người dân 2 xã Đắk Long và Đắk Pxi đang trong mùa thu hoạch bị ngập sâu trong nước.

Trao đổi với PV, ông Lê Như Nhất – Giám đốc Sở Công Thương Kon Tum, cho biết: ‘‘Sau khi thông tin bài báo phản ảnh chúng tôi đã cử cán bộ xuống xác minh và xác định tổn thất cho bà con là đúng như những gì báo đã viết. Việc công ty thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi tích nước chạy thử gây hư hỏng đê quai phía hạ lưu nhà máy khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt  bằng văn bản  là trái với quy định của pháp luật. Hiện tại tôi đã cho làm báo cáo gửi UBND tỉnh, Ban Tuyên Giáo tỉnh ủy và UBND huyện Đắk Hà, và công ty thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi để thực hiện’’.

Cũng trong cuộc trao đổi chiều 18/12/2017, ông Phạm Văn Lập, cho biết thêm: Qua phản ánh của báo TN&MT thấy giá trị đền bù của công ty thủy điện Đức Nhân Đắk Pxi với người dân thiệt hại là chưa thỏa đáng với yêu cầu chính đáng của người dân. Cho nên UBND huyện Đắk Hà đã yêu cầu công ty thỏa thuận lại để đền bù đúng giá trị thực tài sản bị mất của dân./.

Đình Thắng

 

Nhiều năm nay, một số hộ dân tại xã Gio Phong, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị sống cạnh cửa hàng xăng dầu số 28 phải đi xin nước sạch từ các hộ ở xa về dùng do giếng nước bị nhiễm xăng dầu.

Thực trạng này đã kéo dài hơn 4 năm qua khiến người dân rất bất an, lo lắng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của dân. Không chỉ nước ăn uống, ngay cả việc tắm, giặt, người dân cũng không dám dùng nước ở nhà vì sợ ảnh hưởng đến sức khỏe.

Chính vì vậy, mấy năm nay người dân phải đi xin nước sạch từ các hộ khác về sử dụng. Khốn khổ nhất là về mùa khô, người dân nơi đây phải chắt chiu từng giọt nước mới đủ sinh hoạt, do nguồn nước sạch bị khan hiếm.

Quảng Trị_gieng nhiem dau
Giếng nước của nhà chị Luyến đọng một lớp váng dày, bốc mùi xăng dầu.

Người dân đã nhiều lần phản ánh việc nước sinh hoạt bị nhiễm xăng dầu song chưa được xử lý. Tại kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh Quảng Trị, khóa VII, người dân cũng đã gửi ý kiến đến nghị trường kêu cứu các ngành liên quan xem xét, giải quyết.

Ghi nhận của PV Dân trí, các hộ này ở sát cửa hàng xăng dầu số 28, thuộc Công ty xăng dầu Quảng Trị. Cách cây xăng này chừng 50m, hộ ông Nguyễn Quang Trinh, ở xã Gio Phong, huyện Gio Linh phải bỏ cả giếng nước đã dùng bấy lâu nay để khoan lại giếng mới có độ sâu hơn, nhưng nước vẫn nhiễm mùi xăng dầu.

quảng trị_nhiem xang dau 2
Cửa hàng xăng dầu rất gần với nhà dân, được cho là nguyên nhân khiến giếng nước sinh hoạt bị nhiễm bẩn

Ông Trinh cho biết, giếng này sâu chừng 22m, được gia đình ông đào lấy nước sử dụng sinh hoạt từ năm 1990. Tuy nhiên, đến năm 2013 thì nước giếng bơm lên có váng nhiều màu và mùi xăng dầu. Sau đó, gia đình ông Trinh đã khoan giếng ở các vị trí khác, có giếng khoan sâu đến 45m nhưng nước đều có hiện tượng bị nhiễm xăng dầu.

Nằm sát vách cửa hàng xăng dầu này, gia đình chị Lê Thị Minh Luyến (40 tuổi, thôn Gia Môn) cũng chịu cảnh khốn đốn do thiếu nước sạch đã nhiều năm qua. Chị Luyến cho biết, gia đình chị có giếng nước nhưng đã không dám sử dụng từ 5 năm qua.

Quảng Trị_gieng nhiem dau 3
Nhìn bên ngoài, giếng nước của nhà ông Trinh vẫn bình thường nhưng có mùi xăng dầu

Hiện nước trong giếng của gia đình chị Luyến bị nổi một lớp váng dày và đứng bên miệng giếng cũng đã có mùi xăng dầu khá nồng nặc. Giếng nước đào sâu khoảng 15m, gần với cây xăng này.

Chị Luyến cho hay, đã nhiều năm nay chị phải đi sang các hộ lân cận, cách cây xăng hàng cây số để xin nước sạch về dùng. Nhưng về mùa khô, nguồn nước khan hiếm nên việc sinh hoạt rất vất vả.

Quảng trị_gieng nhiem dau 4
Giếng nước của nhà chị Luyến không thể sinh hoạt được 5 năm qua và chị phải xin nước từ bên ngoài về dùng

Lo sợ trước hiện tượng này, người dân đã phản ánh lên chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng. Sau đó, cơ quan chuyên môn đã về lấy mẫu nước từ giếng của các gia đình này đi kiểm tra.

Ngày 8/5/2017, Phòng Tài nguyên – Môi trường phối hợp với UBND xã Gio Phong và Trung tâm Quan trắc tài nguyên môi trường đã tiến hành khảo sát lấy mẫu nước ngầm để phân tích.

Quảng trị_gieng nhiem dau 5
Chỉ cần mở miệng giếng có thể cảm nhận được mùi hôi, nhìn mắt thường thấy lớp váng dày đặc, nhưng kết quả xét nghiệm của cơ quan chức năng lại không có dấu hiệu gì (?)

Thế nhưng, tại văn bản ngày 26/7/2017 về “kết quả kiểm tra nước ngầm” của UBND huyện Gio Linh, kết quả phân tích 2 mẫu nước ngầm tại giếng của gia đình ông Trinh và gia đình chị Luyến thì: “Mẫu nước của hộ ông Nguyễn Quang Trinh có hàm lượng dầu mỡ khoáng trong nước là 3,38mg/l; còn mẫu nước của hộ bà Lê Thị Minh Luyến không phát hiện có hàm lượng dầu mỡ khoáng trong nước. Đối với các chỉ tiêu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhóm Clo hữu cơ thì 2 mẫu nước giếng của 2 hộ gia đình này đều không phát hiện có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhóm clo hữu cơ”.

Quảng trị_gieng nhiem dau 6
Tình trạng nước sinh hoạt bị nhiễm bẩn khiến cuộc sống của người dân trở nên khốn khổ

Trong khi chờ các cơ quan chức năng đưa ra kết luận chính thức về chất lượng nước và có biện pháp xử lý, người dân nơi đây tiếp tục sống cảnh khổ sở, bất an vì có nước mà không dám dùng.

Bài viết mới nhất