Tài nguyên nước

(TN&MT) – Ngày 14/12, tại Hà Nội, Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức tọa đàm “Phát triển bền vững nguồn nước và năng lượng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long”.
TS. Phạm Văn Tân - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phát biểu khai mạc tọa đàm
TS. Phạm Văn Tân – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phát biểu khai mạc tọa đàm
Phát biểu khai mạc tọa đàm, TS. Phạm Văn Tân – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho biết: Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một khu vực trù phú, giàu tiềm năng và là trọng điểm kinh tế của đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, ĐBSCL có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. BĐKH và nước biển dâng diễn ra phức tạp và nhanh hơn các kịch bản dự báo, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của người dân. Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào các nội vùng, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội của vùng. Mặt trái từ hoạt động phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa với cường độ cao ở nội vùng bộc lộ ngày càng gay gắt, gây nhiều hệ lụy như: ô nhiễm môi trường, suy giảm và mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng.
“Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia tới năm 2030 dự kiến xây dựng 14 nhà máy nhiệt điện than ở các vùng ven sông và ven biển ở ĐBSCL cũng sẽ tác động mạnh mẽ đến vấn đề BĐKH tại vùng đồng bằng này theo chiều hướng tiêu cực nếu không có các giải pháp hữu hiệu” – TS. Phạm Văn Tân cho biết thêm.
Quang cảnh tọa đàm
Quang cảnh tọa đàm
Theo TS. Phạm Văn Tân, thời gian qua, mối quan ngại về tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ sinh thái của thủy điện ở thượng nguồn, nguy cơ ô nhiễm môi trường của nhiệt điện đã được thảo luận, tuy nhiên mối quan hệ giữa an ninh nguồn nước và an ninh năng lượng trong bối cảnh BĐKH ở ĐBSCL chưa được phân tích kỹ lưỡng.
Dẫn chứng về nước ngầm ở ĐBSCL sụt giảm nhanh, ThS. Nguyễn Hữu Thiện – Chuyên gia Phát triển Bền vững ĐBSCL cho biết: Hiện có hơn 1 triệu giếng khoan nước ngầm, gây ra sụt giảm mực nước ngầm trung bình khoảng 26 cm/năm trên toàn đồng bằng, hơn 15 mét ở vùng Cà Mau từ năm 1990. Sự sụt lún đất 1,6 cm/năm và nếu tốc độ khai thác nước ngầm như hiện nay tiếp diễn, tổng sụt lún đến năm 2050 là 0,88 cm.
ThS. Nguyễn Hữu Thiện - Chuyên gia Phát triển Bền vững ĐBSCL
ThS. Nguyễn Hữu Thiện – Chuyên gia Phát triển Bền vững ĐBSCL đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nguồn nước và năng lượng trong bối cảnh BĐKH ở ĐBSCL
Để phát triển bền vững nguồn nước và năng lượng ở ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH, ThS. Nguyễn Hữu Thiện đề xuất thực hiện tốt tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ. Cụ thể, thích ứng thuận thiên là chính, tránh can thiệp thô bạo vào thiên nhiên, giảm lúa vụ ba, chuyển từ tư duy tăng gia sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp và không xây thêm nhà máy nhiệt điện than.
“Đồng thời, biến thách thức thành cơ hội; nước mặn không còn bị xem là kẻ thù; vùng nước lợ không bị xóa sổ; sông ngòi được chảy thông thoáng sẽ có khả năng tự làm sạch; nước sông ngòi được phục hồi, sử dụng; giảm sử dụng nước ngầm, giảm sụt lún đất” – ThS. Nguyễn Hữu Thiện kiến nghị.
PGS. TS. Lê Anh Tuấn – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ
PGS. TS. Lê Anh Tuấn – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ phát biểu tại tọa đàm
Nhằm cân bằng an ninh nước – lương thực – năng lượng trong thích ứng với BĐKH ở ĐBSCL, PGS. TS. Lê Anh Tuấn – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ đề xuất các chính sách: Áp dụng tiếp cận tổng thể trong quy hoạch tích hợp Nước – Lương thực – Năng lượng nhằm tránh xung đột giữa các ngành; điều chỉnh quy hoạch năng lượng của ĐBSCL trong quy hoạch tổng thể với quy hoạch nước và lương thực; xem xét lại Quy hoạch điện, giảm thiểu tỷ trọng nhiệt điện than, trước hết là ngừng xây dựng thêm các nhà máy nhiệt điện than mới; Chính phủ ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo để đáp ứng nhu cầu năng lượng đồng thời không tác động tiêu cực tới an ninh nguồn nước…
Tin & ảnh: Mai Đan

(TN&MT) – Bên lề Diễn đàn Doanh nghiệp Nước lần thứ 9 tổ chức ngày 13/12, tại Hà Nội; ông Triệu Đức Huy – Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia (Bộ TN&MT Việt Nam) cho biết, hội nhập và hợp tác quốc tế là giải pháp quan trọng để xây dựng hệ thống quản lý nước thông minh.
ông Triệu Đức Huy – Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia (NAWAPI)
Ông Triệu Đức Huy – Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia (NAWAPI) phát biểu chào mừng diễn đàn
Diễn đàn Doanh nghiệp Nước lần thứ 9 với chủ đề “Quản lý nguồn nước thông minh” được Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải Hàn Quốc (MoLIT); Diễn đàn nước Hàn Quốc (KWF), công ty K-water và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia phối hợp tổ chức. Diễn đàn là cơ hội để doanh nghiệp Hàn Quốc giới thiệu công nghệ quản lý nước thông minh đến các đại biểu tham dự cũng như trao đổi và nảy sinh những ý tưởng hợp tác với Việt Nam.
Nước – tài nguyên quan trọng hàng đầu
Phát biểu khai mạc diễn đàn, ông Park, Jae Heyon – Vụ trưởng Vụ chính sách tài nguyên nước Hàn Quốc (Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải Hàn Quốc) cho biết: Hiện nay, tất cả các nước trên thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề do sự nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu (BĐKH). Do đó, các hiện tượng như hạn hán và lũ lụt xảy ra thường xuyên ở các nước trên thế giới.
Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nảy sinh do quá trình đô thị hóa và sự gia tăng dân số, những thảm họa thiên nhiên như lũ lụt và tình hình thiếu nước do hạn hán ảnh hưởng nặng nề đến vùng Tam giác vàng của sông Mê Công.
ông Park, Jae Heyon - Vụ trưởng Vụ chính sách tài nguyên nước Hàn Quốc (Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải Hàn Quốc)
Ông Park, Jae Heyon – Vụ trưởng Vụ chính sách tài nguyên nước Hàn Quốc (Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải Hàn Quốc) phát biểu khai mạc diễn đàn
“Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng trong lĩnh vực phát triển tài nguyên nước và Hàn Quốc là quốc gia có “độ chín” về công nghệ, kinh nghiệm và năng lượng. Nếu như 2 bên có sự hợp tác sau diễn đàn này sẽ giúp cho sự phát triển của 2 nước lên một tầm cao mới” – ông Park, Jae Heyon khẳng định.
ông Nguyễn Chí Nghĩa – Phó Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thuộc NAWAPI
Ông Nguyễn Chí Nghĩa – Phó Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thuộc NAWAPI đánh giá mục tiêu mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế là vô cùng quan trọng
Phát biểu chào mừng diễn đàn, ông Triệu Đức Huy – Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia (NAWAPI) cho biết: Nước cần được nhìn nhận không chỉ ở khía cạnh là một nguồn tài nguyên quý giá, mà còn là chìa khóa để đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, với nhu cầu nước ngày càng tăng (theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế, dự kiến tăng 55% trong khoảng thời gian từ năm 2000-2050) sẽ gây ra những áp lực, thách thức to lớn cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội bền vững trên toàn cầu. Trước thực trạng này, việc quản lý nước thông minh là một trong những mục tiêu cao cả và quan trọng cần nỗ lực hướng tới ở cả bình diện quốc gia và quốc tế.
Hợp tác bền vững để quản lý nguồn nước thông minh
Theo ông Triệu Đức Huy, Việt Nam đang hướng tới việc xây dựng hệ thống quản lý nước thông minh hơn. Một trong số các giải pháp quan trọng là thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế, từ đó có thể trao đổi, học hỏi kinh nghiệm từ những bài học thành công về hệ thống quản lý nước thông minh tại nhiều quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn như, hệ thống quản lý nước thông minh được triển khai tại Isreal, Singapore, Đức, Quatar, Hàn Quốc…đã giúp giảm 40-50% tỷ lệ rò rỉ nước của các quốc gia này.
Ông Triệu Đức Huy mong muốn các nhà đầu tư, các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân quan tâm chia sẻ về các chiến lược, kinh nghiệm và công nghệ của các quốc gia, cũng như là các dự án hợp tác đã được lên kế hoạch hay có thể thực hiện giữa các ban ngành về nước, cả khối công và khối tư nhân. Đồng thời, thảo luận về cách thức hợp tác cho các dự án liên quan đến nước cũng như đưa ra các giải pháp và cơ hội mới cùng với các nhà hoạch định chính sách trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Quang cảnh diễn đàn
Quang cảnh diễn đàn
Để hợp tác bền vững, ông Triệu Đức Huy mong rằng 2 nước sẽ trao đổi về phương pháp thiết lập mạng lưới giữa các bên liên quan để xây dựng hệ thống quản lý nước thông minh, cũng như cùng nhau tìm kiếm cơ hội hợp tác phát triển, tạo ra các cơ hội kinh doanh mới trong số những đơn vị tham gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm
Về mục tiêu tài nguyên nước của Việt Nam hướng đến năm 2020, ông Nguyễn Chí Nghĩa – Phó Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thuộc NAWAPI cho biết, có 8 mục tiêu. Đó là: Khai thác và sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên nước; đảm bảo phân bổ và chia sẻ tài nguyên nước phù hợp giữa các ngành và các địa phương, sử dụng tiết kiệm và bảo đảm dòng chảy môi trường; bảo đảm tích hợp tính hiệu quả về mặt xã hội – kinh tế và môi trường của hệ thống hồ chứa và đập trong cả mùa lũ và mùa khô; đẩy mạnh năng lực điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; nâng cao đầu tư cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng trong cung cấp dịch vụ nước; phát triển nguồn lực con người, khoa học và công nghệ; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế; cải cách cơ chế tài chính. Trong đó, mục tiêu mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế là vô cùng quan trọng.
Mai Đan – Khương Trung
.
.

Dự án BOO nhà máy nước Phú Ninh phải tạm dừng do các hộ dân hai bên đường ĐH 104 ngăn cản đơn vị thi công đặt đường ống nước.

Tháng 2 năm nay, tỉnh Quảng Nam triển khai Dự án BOO nhà máy nước Phú Ninh, tổng vốn đầu tư gần 1.200 tỷ đồng nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết về nguồn nước sạch đáp ứng cho các doanh nghiệp trong Khu Kinh tế mở Chu Lai, Khu công nghiệp Tam Thăng và cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho người dân.

Qua hơn 10 tháng thi công, Dự án buộc phải tạm dừng do các hộ dân 2 bên đường ĐH 104, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành ngăn cản đơn vị thi công đặt đường ống vì sợ làm hư hỏng con đường này. Dự án ngưng trệ còn Chính quyền địa phương lúng túng trong xử lý.

Đường ống đặt sát mép đường nhưng người dân buộc phải bồi thường.
Đường ống đặt sát mép đường nhưng người dân buộc phải bồi thường.

Vướng mắc nảy sinh khi chủ đầu tư Dự án là Công ty Cổ phần BOO Nhà máy nước Phú Ninh triển khai thi công tuyến ống truyền tải nước sạch số 1 từ nhà máy xử lý nước sạch ở thôn Bình Sơn, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành chạy dọc tuyến ĐH 104 đến cầu Tam Kỳ.

Hướng tuyến này chủ yếu cấp nước cho Khu Công nghiệp Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ.

Phương án đặt đường ống dọc theo tuyến ĐH 104 được chính quyền tỉnh Quảng Nam, huyện Núi Thành chấp thuận.

Thế nhưng khi triển khai thi công thì bị người dân phản đối. Nhiều người cho rằng, nhà đầu tư xẻ đường đặt ống dẫn nước sẽ làm giảm chất lượng con đường này, gây mất an toàn giao thông.

Ông Nguyễn Minh Hiến ở thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam cho biết, qua nhiều lần họp dân, hầu hết các ý kiến đều phản đối: “Cưa đường là dứt khoát không được. Tôi cũng thống nhất với quan điểm của làng xóm là phải giữ con đường”.

Theo hồ sơ thiết kế được phê duyệt thì tuyến ống truyền tải của Dự án chủ yếu chạy dọc theo mép bê tông tuyến ĐH 104.

Trong đó, một số vị trí buộc phải cắt đường. Quá trình thi công, chủ đầu tư đã thỏa thuận bồi thường ở những khu vực tuyến ống lấn sang phần đất của dân.

Phương án thi công này được đa số bà con ủng hộ, nhưng sau đó lại nảy sinh vướng mắc khác.

Đó là một số hộ dân dựng hàng rào tạm bợ, trồng cây sát mép đường và yêu cầu chủ đầu tư bồi thường với giá cao hơn quy định.

Có trường hợp yêu cầu bồi thường đối với phạm vi không bị ảnh hưởng do thi công.

Một số khu vực đường ống lấn sang phần đất của dân.
Một số khu vực đường ống lấn sang phần đất của dân.

Ông Trương Văn Trung, Phó Chủ tịch UBND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam cho biết, đối với các dự án đầu tư, quy trình bồi thường là nhà đầu tư phải đăng ký kế hoạch sử dụng đất, nhưng đối với Dự án này, Công ty Cổ phần BOO nhà máy nước Phú Ninh không đăng ký kế hoạch sử dụng đất và cũng không lập phương án bồi thường.

“Vì ban đầu ý định là đặt đường ống không ảnh hưởng đến đất của dân, nhưng sau này việc cắt đường cũng gặp sự phản đối của dân. Huyện phải làm công tác vận động quần chúng chứ không thực hiện quy trình bồi thường như các dự án đầu tư khu công nghiệp hay các dự án đầu tư xây dựng trước đây”.

Dự án BOO Nhà máy nước Phú Ninh đang trong giai đoạn “nước rút” để kịp phục vụ nhu cầu nước sạch cho công nghiệp và sinh hoạt của người dân.

Hiện các hạng mục Nhà máy xử lý nước sạch, xây dựng tuyến ống nước thô, đường vào trạm bơm… đã cơ bản hoàn thành. Riêng tuyến ống số 1, việc thi công lắp đặt mới chỉ đạt 15% khối lượng.

Ông Hoàng Đăng Quang, Chuyên viên Ban Quản lý Dự án BOO Nhà máy nước Phú Ninh cho biết: “Khi bà con nhân dân có ý kiến thì chúng tôi cũng khảo sát lại, những đoạn nào mà lề đường còn lớn mà ảnh hưởng ít tới nhà, vật kiến trúc của bà con thì chúng tôi đã chủ động dịch chuyển ra ngoài và hỗ trợ đền bù mức tương đối lớn so với quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam hiện tại”.

Kiến nghị của người dân dọc tuyến ĐH 104, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành vừa được nêu ra tại Kỳ họp cuối năm Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam nhưng vẫn chưa có hướng giải quyết phù hợp.

Người dân tiếp tục phản đối trong khi vùng phía đông các huyện Núi Thành, Thăng Bình, Duy Xuyên và thành phố Tam Kỳ đang “khát” nước sạch./.

Theo VOV

(TN&MT) – Tổng cục Thủy lợi (Bộ NN&PTNT) vừa đề xuất giải pháp thúc đẩy xã hội hóa công tác cấp nước sạch nông thôn tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng. 

Theo đó, Nhà nước tiếp tục hỗ trợ vốn đầu tư nhưng điều chỉnh mức hỗ trợ theo hướng giảm đối với các vùng có thị trường tiêu thụ nước sạch thuận lợi; minh bạch trách nhiệm trong quản lý chất lượng nước; có lộ trình điều hành giá nước sạch tiếp cận với thị trường.

Các địa phương cần chuyển đổi chức năng của trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn ở các tỉnh đồng bằng sang quản lý, giám sát hoạt động xã hội hóa cấp nước nông thôn…

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Mục tiêu là cải thiện điều kiện vệ sinh, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi vệ sinh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng sống cho người dân nông thôn

Theo Tổng cục Thủy lợi, sau 8 năm thực hiện các quy định của Chính phủ về đầu tư, xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch chưa nhiều. Nguyên nhân là do ngân sách nhà nước còn hạn hẹp so với số lượng công trình cần đầu tư; ý thức sử dụng nước sạch của người dân nông thôn còn hạn chế…

PV

(TN&MT) – Với sự kỳ vọng của Chính phủ, Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam đang ngày một kiện toàn và phát triển để đề ra các định hướng chiến lược, nhiệm vụ và giải pháp về chuyển đổi có quy mô lớn phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu với tầm nhìn đến năm 2100.

Vai trò lớn của Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam đối với sự phát triển của ĐB SCL

Kể từ Hội nghị Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam tổ chức tại TP. Cần Thơ vào tháng 5/2017, lưu vực sông Mê Kông tiếp tục chịu nhiều tác động khó lường gia tăng. Nhu cầu khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn gia tăng mạnh, làm giảm dòng chảy mùa kiệt, giảm lượng phù sa. Lũ nhỏ cùng với triều cường, nước biển dâng làm xâm nhập mặn sâu hơn vào nội vùng. Biến đổi khí hậu cùng với các hiện tượng thời tiết cực đoan đang là thách thức ngày càng hiện hữu đối với các ngành sản xuất, đời sống dân sinh và sự phát triển KT-XH của các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện tượng sạt lở nghiêm trọng tiếp tục xảy ra ở nhiều địa phương đã và đang gây ra nhiều thiệt hại to lớn đe dọa đến tính mạng và tài sản của người dân.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà phát biểu tại Hội nghị tổng kết Uỷ ban Sông Mê Kông
Bộ trưởng Trần Hồng Hà phát biểu tại Hội nghị tổng kết Uỷ ban Sông Mê Kông

Trong bối cảnh đó, Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu cho Đảng và Chính phủ nhiều giải pháp cả về kỹ thuật và hợp tác đối ngoại trong khuôn khổ của hợp tác Mê Kông. Trong đó, có những kết quả đáng ghi nhận như:

Dựa trên kết quả từ Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông và các Nghiên cứu chiến lược do Thủ tướng Chính phủ giao, Ủy ban đã tham mưu cho Chính phủ về các vấn đề thủy điện dòng chính, diễn biến phù sa bùn cát trên lưu vực và Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Ủy ban tiếp tục theo dõi diễn biến của tình hình phát triển trên thượng nguồn, tiến hành các nghiên cứu chi tiết, tổng thể tác động và kiến nghị các đối sách, các giải pháp ứng phó tác động cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Trong năm 2017, Ủy ban phối hợp với các quốc gia thành viên khác của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế và Ban thư ký Ủy hội đã tiến hành tham vấn trước Dự án thủy điện Pắc-Beng theo đề nghị của Lào. Sau 6 tháng tiến hành tham vấn, Ủy hội đã ra được Tuyên bố chung xác định trách nhiệm của các bên trong mục tiêu giảm thiểu tác động của công trình đối với các quốc gia ven sông. Ủy ban sẽ tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố chung và theo dõi diễn biến tình hình phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông, để kịp thời tham vấn cho Đảng và Nhà nước các đối sách và cập nhật thông tin cho các bên liên quan.

Đối với hoạt động hợp tác trong Uỷ hội sông Mê Kông quốc tế, Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam đã phối hợp tốt với các nước thành viên trong Ủy hội để thúc đẩy thực hiện các cam kết cấp cao trong các Tuyên bố Hủa Hỉn (2010) và Tuyên bố thành phố Hồ Chí Minh (2014), thực hiện Kế hoạch chiến lược của Ủy hội giai đoạn 2016-2020 và Kế hoạch phát triển lưu vực dựa trên quản lý tổng hợp tài nguyên nước; hoàn thành Nghiên cứu chung về quản lý và phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông, bao gồm tác động của các dự án thủy điện dòng chính; xây dựng các chiến lược ngành với mục tiêu phát triển bền vững; duy trì hệ thống quan trắc tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan toàn lưu vực và bộ công cụ hỗ trợ ra quyết định; mở rộng hợp tác với các quốc gia thượng lưu là Trung Quốc và Mi-an-ma và các đối tác phát triển.

Ngoài ra Ủy ban đã chủ động đẩy mạnh quan hệ hợp tác song phương với các quốc gia thành viên Uỷ hội như Lào, Campuchia và Thái Lan thông qua các kênh hợp tác song phương của Chính phủ và giữa Ủy ban sông Mê Kông quốc gia các nước. Đồng thời, Uỷ ban cũng đã tiếp nhận và đang triển khai tốt các hoạt động thực hiện chức năng chủ chốt về quản lý lưu vực sông từ Ủy hội sông Mê Kông quốc tế thực hiện tại Việt Nam, nhằm tăng cường tính tự chủ của quốc gia và lồng ghép kế hoạch phát triển của quốc gia trong kế hoạch vùng.

Chuyển hóa các thách thức thành cơ hội để phát triển vùng ĐBSCL

Các thách thức do biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng các hoạt động sử dụng nước ngày một gia tăng ở các quốc gia thượng nguồn sẽ tiếp tục ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của đồng bằng sông Cửu Long. Trên thực tế, tình trạng thiên tai ngày càng trở lên nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến tính mạng và tài sản của nhân dân, đòi hỏi chúng ta phải hành động quyết liệt và hiệu quả, góp phần chuyển hóa các thách thức thành cơ hội để phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Trong hai ngày 26 và 27/9/2017, Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm huy động các tư tưởng, sáng kiến lớn giúp Chính phủ và các địa phương trong vùng nhận diện đầy đủ, toàn diện những thách thức, cơ hội; đề ra các định hướng chiến lược, nhiệm vụ và giải pháp về chuyển đổi có quy mô lớn phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu với tầm nhìn đến năm 2100.

Ngay sau Hội nghị quan trọng này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó đã chỉ ra bốn thách thức mà ĐBSCL đang phải đối mặt, đồng thời đã xác định rõ mục tiêu đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2100 đối với đồng bằng, các quan điểm chỉ đạo, chủ trương và định hướng chiến lược phát triển vùng ĐBSCL; giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan có liên quan để phát triển bền vững ĐBSCL trong điều kiện thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đặc biệt, Nghị quyết đã giao một số nhiệm vụ cụ thể cho Bộ TN&MT, các Bộ, ngành và địa phương trong khuôn khổ hợp tác Mê Kông như: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành về đồng bằng sông Cửu Long, kết nối với cơ sở dữ liệu của Uỷ hội sông Mê Kông quốc tế; Đánh giá, đề xuất các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả Hiệp định Mê Kông 1995, phát huy vai trò của Việt Nam tại Uỷ hội sông Mê Kông quốc tế, tăng cường hợp tác với các quốc gia trong lưu vực sông Mê Kông, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các bên liên quan trong quản lý, khai tách và sử dụng tài nguyên nước sông Mê Kông.

Đồng bằng Sông Cửu Long với sản vật trù phú nay đang ngày càng chịu tác động nặng nề của Biến đổi khí hậu
Đồng bằng Sông Cửu Long với sản vật trù phú nay đang ngày càng chịu tác động nặng nề của Biến đổi khí hậu

Phát biểu trong Hội nghị toàn thể Uỷ ban sông Mê Kông Việt Nam ngày 08/12, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà, Chủ tịch Ủy ban sông Mê Công Việt Nam cho biết, Hội nghị  Hội nghị toàn thể Uỷ ban sông Mê Kông Việt Nam “Có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ là cơ hội để Ủy ban chúng ta xác định lại các định hướng trong chỉ đạo, mà còn để thống nhất các giải pháp và kế hoạch hành động của chúng ta, triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, đề ra các định hướng chiến lược, nhiệm vụ và giải pháp về chuyển đổi có quy mô lớn phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu với tầm nhìn đến năm 2100.”

Khương Trung

(TN&MT) – Góp ý dự thảo Thông tư quy định đánh giá sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của sông, hồ; Bộ Xây dựng cho rằng, cần xem xét đến yếu tố thủy văn, địa hình sông và khả năng tự làm sạch của nguồn nước.

Văn bản số 2806/BXD-HTKT của Bộ Xây dựng góp ý dự thảo Thông tư quy định đánh giá sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của sông, hồ.

Theo đó, về căn cứ pháp lý, Bộ Xây dựng đề nghị bổ sung Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Đề nghị sử dụng thuật ngữ “khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước” trong tên gọi của Thông tư cho phù hợp với khoản 17 Điều 2 Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012.

Đặc biệt, lưu ý về việc tính toán sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của sông, hồ cần được xem xét đến yếu tố thủy văn, địa hình sông và khả năng tự làm sạch của nguồn nước.

Đồng thời, xem xét việc ứng dụng các Mô hình hóa trong việc tính toán, kiểm chứng khả năng tiếp nhận, cũng như mô phỏng tổng thể diễn biến ô nhiễm của các lưu vực sông.

PV

.

Hồ thủy lợi Triệu Thượng 2, huyện Triệu Phong (Quảng Trị) đang đứng trước nguy cơ mất an toàn rất cao. 4,3 triệu m3 nước của hồ chứa này đang đe dọa trực tiếp đến 3.000 người dân và 730 ha đất canh tác vùng hạ du.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Quảng Trị đã có tờ trình gửi UBND tỉnh, đề nghị ban bố tình trạng khẩn cấp đối với hồ chứa nước này.

Báo cáo ngày 5/12 của Công ty TNHHMTV Quản lý khai thác công trình thủy lợi Quảng Trị gửi Tổng cục Thủy Lợi (Bộ NN&PTNT) nêu rõ: Do ảnh hưởng của mưa bão năm 2017, đập Triệu Thượng 2 đã bị hư hỏng thêm, nếu không được sửa chữa kịp thời thì nguy cơ võ đập là rất lớn; ảnh hưởng trực tiếp đến 3.000 người dân, 730 ha đất canh tác cùng nhiều công trình dân sinh, hạ tầng kỹ thuật vùng hạ du.

Ngày 1/12/2017, Sở NN&PTNT Quảng Trị có tờ trình gửi UBND tỉnh này về việc công bố tình trạng khẩn cấp đập chính hồ Triệu Thượng 2. Theo đó,  từ cuối tháng 7 đến 25/10/2017, do mưa lũ phức tạp, hồ Triệu Thượng 2 đã tích nước đầy và tràn đã làm việc.

Đập đất hồ Triệu Thượng 2 đang đứng trước nguy cơ bị vỡ rất cao. Ảnh: Thanh Tùng.
Đập đất hồ Triệu Thượng 2 đang đứng trước nguy cơ bị vỡ rất cao. Ảnh: Thanh Tùng.

Theo kết quả giám định nguyên nhân sự cố, đây là thời điểm tiềm ẩn nhiều tác động bất lợi, gây mất an toàn đối với đập đất, dẫn đến nguy cơ mở rộng vết trượt mái hạ lưu đập chính hồ Triệu Thượng 2. Hiện cao trình vết trượt còn cách đỉnh đập 2,0 m, nguy cơ vỡ đập rất cao. Hồ chứa Triệu Thượng 2 được xây dựng từ năm 1989, là một trong 48 hồ chứa nước lão hóa, hư hỏng, xuống cấp, thường trực nguy cơ mất an toàn đối với vùng hạ du trong mùa mưa lũ.

Cùng với đó, tuy đã được phản ánh nhưng đến thời điểm này, Công trình đập dâng Nam Thạch Hãn, phục vụ tưới tiêu cho 15.000 ha lúa và đất đai canh tác của các huyện Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị vẫn không được cải thiện. Công trình thủy lợi này được xây từ năm 1978, sau nhiều năm sử dụng đã xuống cấp, thường trực nguy cơ mất an toàn. Tháng 10/2016, một trận lũ lớn đã cuốn phăng gần 1.000 m3 bê tông cốt thép kết cấu của con đập. Nước lũ cũng xói sâu tạo thành nhiều hốc rỗng trong thân đập khiến công trình đập dâng có tuổi đời gần 40 năm này thêm rệu rã.

Ông Nguyễn Sinh Công, Phó Tổng Giám đốc Công ty thủy lợi  Quảng Trị cho biết, khó khăn lớn nhất để duy trì nhiều hồ chứa được xây dựng từ  cách đây 30, 40 năm là kinh phí. Công ty được giao quản lý, khai thác 16 hồ chứa với tổng dung tích 190 triệu m3 nước, 8 đập ngăn mặn, 27 trạm bơm lớn nhỏ, phục vụ cho 31.000 ha lúa và đất canh tác của tỉnh Quảng Trị. Nhiều công trình đập, hồ chứa có tuổi thọ cao đã xuống cấp nhưng không có kinh phí đầu tư.

Theo quy định, các hồ, đập dâng có dung tích 10 triệu m3 trở lên, cứ sau 10 năm phải tiến hành kiểm định an toàn bằng phương pháp khoa học nhưng do thiếu kinh phí nên đơn vị được giao quản lý, khai thác chỉ có thể đánh giá bằng trực quan.

Theo Đại Đoàn Kết

(TN&MT) – Sáng 7/12, tại Hà Nội, Cục Quản lý tài nguyên nước tổ chức cuộc họp về Chương trình xây dựng Quy trình vận hành liên hồ chứa, định mức kinh tế – kỹ thuật quy chuẩn, tiêu chuẩn. Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên tham dự và phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp.
Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp
Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp
Báo cáo công tác xây dựng văn bản năm 2017, Cục trưởng Cục quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy cho biết: Cục Quản lý tài nguyên nước được giao nhiệm vụ xây dựng 10 Thông tư và 3 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, điều chỉnh bổ sung quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông và tham gia, phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung một số văn bản trong lĩnh vực tài nguyên nước.
Cụ thể, Cục đã thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung 3 Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng, sông Sê San và sông Mã trình Bộ để Bộ trình Thủ tướng Chính phủ tại các Tờ trình số: 95, 96, 97/TTr-BTNMT ngày 17/11/2017.
Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy đánh giá công tác xây dựng và ban hành văn bản năm 2017 vẫn còn tồn tại một số hạn chế như chậm tiến độ, lùi thời gian ban hành do có nội dung phức tạp, cần thêm thời gian để hoàn thiện.
Về nhiệm vụ, kế hoạch năm 2018, ông Hoàng Văn Bẩy cho biết Cục sẽ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trọng tâm là rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định về cấp phép khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, xử lý, trám lấp giếng không sử dụng; bảo vệ nước dưới đất, các định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá…để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới, xây dựng các quy định, hướng dẫn xác định và công bố dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu hồ chứa để quản lý, giám sát chặt chẽ hơn các hoạt động vận hành hồ chứa.
Cục trưởng Cục quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy báo cáo công tác xây dựng văn bản năm 2017 và nhiệm vụ, kế hoạch năm 2018
Cục trưởng Cục quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy báo cáo công tác xây dựng văn bản năm 2017 và nhiệm vụ, kế hoạch năm 2018
Năm 2018, Cục Quản lý tài nguyên nước cũng sẽ rà soát, tổng kết, đánh giá tình hình vận hành các hồ chứa, trên cơ sở đó, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các Quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp vận hành điều tiết nước đáp ứng yêu cầu về phòng, chống, giảm lũ, cấp nước mùa cạn và phát điện của các hồ chứa.
Đồng thời, Cục sẽ nghiêm túc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước; tiếp tục rà soát, thực hiện các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về tài nguyên nước theo Nghị quyết của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ, cập nhật các thủ tục hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch, chính xác.
Cục lên kế hoạch cụ thể là xây dựng Thông tư quy định nội dung, biểu mẫu, báo cáo trong lĩnh vực tài nguyên nước; Thông tư quy định về điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất; Quy chuẩn xây dựng các trạm quan trắc tài nguyên nước. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực các sông: sông Ba, sông Trà Khúc, sông Kôn – Hà Thanh, trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 3/2018.
Ông Hoàng Văn Bẩy kiến nghị tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước; tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về tài nguyên nước; nâng cao nhận thức cộng đồng về pháp luật tài nguyên nước, trong đó chú trọng nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử; tăng kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để có thể xin ý kiến tham vấn của các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học, tổ chức các buổi hội thảo để xây dựng được văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn triển khai; tăng kinh phí tuyên truyền, phổ biến pháp luật và công tác thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước; điều chỉnh thời gian trình Thủ tướng Chính phủ 3 Quyết định Sửa đổi, bổ sung quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba, Trà Khúc và sông Kôn – Hà Thanh.
Quang cảnh cuộc họp
Quang cảnh cuộc họp
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Thứ trưởng Trần Quý Kiên đánh giá, các văn bản quy phạm pháp luật năm 2017 mà Cục Quản lý tài nguyên nước xây dựng hoàn thành tiến độ trình Thủ tướng Chính phủ. Thứ trưởng lưu ý Cục phải bám sát văn phòng Chính phủ và phối hợp với Bộ NN&PTNT giải trình nhằm đảm bảo Thủ tướng ký ban hành các Quy trình vận hành liên hồ sớm nhất chứa để đảm bảo vận hành trong năm 2018.
Riêng các Thông tư, Thứ trưởng Trần Quý Kiên đề nghị Vụ Pháp chế chịu trách nhiệm tính hợp pháp, tính hiệu quả (tiến độ và chất lượng) và tính khả thi của Thông tư. Đặc biệt, đối với Thông tư quy định bảo vệ nước dưới đất và Thông tư quy định về việc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng, không được quy định dùng ngân sách nhà nước để trám lấp giếng vô chủ mà phải quy định chính quyền địa phương các cấp chịu trách nhiệm xử lý, trám lấp những giếng này cũng như xử lý các trường hợp khoan, khai thác giếng trái phép gây ô nhiễm môi trường.
Thứ trưởng Trần Quý Kiên yêu cầu những vấn đề cấp bách về tài nguyên nước chưa được giải quyết, cần dành thời gian nghiên cứu thời điểm thích hợp để sửa đổi cho phù hợp.
Về 3 Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba, Trà Khúc và sông Kôn – Hà Thanh, Thứ trưởng  Trần Quý Kiên chỉ đạo Cục Quản lý tài nguyên nước đến 30/6/2018 phải có Quy trình để gửi đến các Vụ chức năng trong Bộ trong tháng 7 và gửi đến Chính phủ trong tháng 8 để ban hành trước ngày 1/9/2018.
Riêng tiền cấp quyền, Thứ trưởng Trần Quý Kiên cho rằng Cục Quản lý tài nguyên nước cần xem kỹ quy định của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP, ngày 17/7/2017 của Chính phủ: Quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước để tính toán chi phí hợp lý cấp quyền khai thác tài nguyên nước và tiên lượng kinh phí hợp lý các phiên họp năm 2018.
“Cần chú trọng hợp tác quốc tế với các tổ chức chính phủ, phi chính phủ và các quốc gia, cố gắng khôi phục, đẩy mạnh hợp tác quốc tế để thể hiện vai trò to lớn của ngành tài nguyên nước” – Thứ trưởng Trần Quý Kiên chỉ đạo.
Tin & ảnh: Mai Đan

Mới đây, tại TP Rạch Giá (Kiên Giang), UBND 2 tỉnh Kiên Giang và An Giang đồng tổ chức hội thảo tổng kết thực hiện thỏa thuận quản lý nguồn nước giữa 2 tỉnh.

Thảo thuận hợp tác quản lý nước vùng Tứ giác Long Xuyên (TGLX) giữa 2 tỉnh được ký kết từ giữa năm 2013, với sự hỗ trợ của Tổ chức GIZ/ICMP (Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức/Chương trình quản lý tổng hợp vùng ven biển).

Theo đó, có 5 nội dung được 2 bên thống nhất hợp tác thực hiện, gồm: Những vấn đề quản lý nhà nước về tài nguyên nước, kiểm soát lũ, kiểm soát mặn, cấp nước sản xuất nông nghiệp và trách nhiệm các cấp chính quyền địa phương.

Các đại biểu tham gia hội thảo
Các đại biểu tham gia hội thảo

Từ thỏa thuận hợp tác, 2 bên cũng đã thống nhất các hoạt động triển khai cụ thể như: cập nhật, bổ sung, thiết lập cơ sở dữ liệu tài nguyên nước, công trình quản lý nước; xây dựng mô hình thủy văn – thủy lực phục vụ quản lý nước vùng TGLX; xây dựng quy trình vận hành hệ thống kiểm soát lũ vùng TGLX, kiểm soát mặn ven biển Tây; giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng về quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả và bảo vệ nguồn nước…

ThS Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái ĐBSCL cho rằng, tài nguyên nước, gồm cả nước ngọt, mặn và lợ, được xác định là vấn đề cốt lõi trong phát triển kinh tế ở ĐBSCL nói chung và và TGLX nói riêng. Vì vậy, rất cần có sự hợp tác, chia sẻ nguồn tài nguyên quý giá này, sao cho việc sử dụng phải hiệu quả, bền vững.

“Xu hướng hiện nay là tìm giải pháp thích ứng, thuận thiên là chính, tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên. Nên tiếp cận theo vùng nhưng phải có sự điều phối thống nhất để tạo sự iên kết vùng, theo nguyên tắc “không hối tiếc”, tức là cái gì chắc chắn, có tính khả thi cao thì ưu tiên làm trước, theo tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển tổng thể ĐBSCL”, ThS Thiện đề xuất.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lâm Quang Thi, khẳng định thỏa thuận hợp tác giữa 2 tỉnh mang lại liệu hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển kinh tế khá tốt. Thời gian tới, 2 bên sẽ tiếp tục triển khai thực hiện thỏa thuận, dù còn sự tài trợ của GIZ/ICMP nữa hay không. TGLX có tổng diện tích 498.141 ha, trong đó An Giang có 245.084 ha, Kiên Giang 237.879 ha, phần còn lại thuộc TP Cần Thơ. Vùng này trũng thấp nhưng bằng phẳng, thuận lợi trồng lúa, thủy sản nước ngọt và nuôi tôm nước lợ.

Theo Nông nghiệp VN

Liên quan đến việc công trình cấp nước sạch cho khu vực Phong Nha tại xã Sơn Trạch (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) xuống cấp do không vận hành hơn 10 năm qua. Trước nhu cầu cấp bách phục vụ dân sinh và du lịch, UBND tỉnh Quảng Bình đã giao cho Cty CP Cấp nước Quảng Bình làm chủ đầu tư dự án trên.

Hư hỏng toàn bộ

Sau khi liên hệ với chính quyền địa phương để nắm bắt sự việc. PV đã tìm tới công trình cấp nước sạch cho khu vực Phong Nha để kiểm tra hiện trường, xem xét sự xuống cấp.

Theo quan sát của PV, một số hạng mục của công trình đã bị hoen rỉ, bể chứa nước, chân móng tường bị nứt; đường ống dẫn nước cũng hư hỏng. Trong thời điểm này, nhân lực của Cty CP TV ĐTXD An Bình đang xây lắp nhà điều hành trạm tại cấp nước nói trên.

Ông Hoàng Triệu Dương – Phó Giám đốc Cty CP TV ĐTXD An Bình cho biết: “Vừa qua, đơn vị chúng tôi nhận tu sửa, thi công mới một số hạng mục thuộc công trình cấp nước sạch cho khu vực Phong Nha do phía Cty CP Cấp nước Quảng Bình làm chủ đầu tư.

Công trình cấp nước sạch khu vực Phong Nha, hiện đang được đầu tư mới
Công trình cấp nước sạch khu vực Phong Nha, hiện đang được đầu tư mới

Một số hạng mục cũ như bể chứa nước, tháp nước, đường ống cấp nước được làm mới gần như 100%. Trong đó, bể chứa nước do trước đây thi công với kết cấu không đảm bảo: xây gạch kết hợp lớp bê-tông gia cường mỏng nên bị thấm, không trữ được nước, thành bể bị nứt vỡ. Đường ống chính dẫn nước toàn tuyến dài 5.100m được lắp đặt lại.

Rút kinh nghiệm từ đơn vị thi công trước, các hạng mục được làm mới đợt này như nhà điều hành, bể hóa chất khử trùng bằng Clo và cải tạo bể chứa cũ, tu sửa tháp nước… chúng tôi sẽ cố gắng hoàn thiện ở mức cao nhất”.

PV cũng được thông tin thêm rằng: Với những công trình cấp nước kiểu xây lên rồi “đắp chiếu”: Sau khi hoàn thiện, tiến hành nghiệm thu bàn giao thì đơn vị thi công sẽ không chịu trách nhiệm trước các hư hỏng. Trách nhiệm sẽ gắn cho chủ đầu tư, do không khai thác, vận hành hiệu quả công trình.

Bể chứa cũ bị hư hỏng, không trữ được nước do nhiều nguyên nhân
Bể chứa cũ bị hư hỏng, không trữ được nước do nhiều nguyên nhân

Định giá và chuyển giao

Thời điểm khởi công Công trình cấp nước sạch khu vực Phong Nha vào cuối năm 2003, Sở Thương mại – Du lịch tỉnh Quảng Bình làm chủ đầu tư. Với quy mô công suất 3.000m³/ngày-đêm. Sau đó ít lâu, do nhiều nguyên nhân dẫn tới việc xây lên rồi vận hành kém hiệu quả. Công trình cứ thế đi vào quên lãng.

Thời điểm năm 2016, xác định du lịch hang động là hướng đi mũi nhọn để tăng trưởng kinh tế địa phương. Đồng thời, nhu cầu nhân dân khu vực Phong Nha cần nước sạch đã rất cao. Việc một công trình xây lên rồi bị “bỏ hoang” hơn 10 năm, hao phí ngân sách, bất bình dư luận, nên UBND tỉnh Quảng Bình đã giao cho Cty CP Cấp nước Quảng Bình phụ trách dự án trên, tái đầu tư.

Sau đó, đơn vị đã thuê Trung tâm Kiểm định Chất lượng Công trình Xây dựng Quảng Bình kiểm định, đánh giá chất lượng công trình cũ. Kết quả định giá tài sản cũ còn khoảng 2 tỷ đồng.

Nhà điều hành công trình cấp nước đang được nhân lực Cty CP TV ĐTXD An Bình xây lắp.
Nhà điều hành công trình cấp nước đang được nhân lực Cty CP TV ĐTXD An Bình xây lắp.

Từ thực tế đó, đơn vị đã bắt tay vào việc đầu tư mới. Với quy mô công suất 1.500m³/ngày-đêm. Tổng mức đầu tư hơn 11 tỷ đồng. Gồm các hạng mục chính: xây dựng công trình thu nước và trạm bơm cấp 1 bên sông Son; xây dựng cụm bể lắng lọc; xây dựng cụm khử nước cứng, khử trùng nước bằng Clo; xây dựng nhà quản lý điều hành; đầu tư lắp đặt lại mạng lưới đường ống phân phối dài 5.100m và hệ thống điện.

“Hiện khối lượng công việc đã hoàn thành một số. Thời gian thực hiện dự án đặt ra trong vòng 300 ngày. Dự kiến, mùa hè năm 2018 hệ thống cấp nước nói trên sẽ đi vào vận hành. Đảm bảo cấp đủ lượng nước sạch cho khu vực Phong Nha” – Ông Lê Văn Nghĩa – Phó Giám đốc Cty CP Cấp nước Quảng Bình chia sẻ.

Trông đợi làn gió mới

Anh Nguyễn Ngọc Điệp (thôn 1 Phong Nha, xã Sơn Trạch) từng chia sẻ với chúng tôi: Khi biết dự án nước sạch được đầu tư mới trở lại, chúng tôi rất mừng và mong chờ. Hệ thống đường ống dẫn nước đang được chủ đầu tư cho lắp đặt lại. Tuy vậy, chúng tôi vẫn quan ngại về chất lượng nước mặt từ sông Son. Không biết nhà máy nước sau khi bơm và xử lý có còn tình trạng nước bị nhiễm vôi, nhiễm hóa chất không?

Bởi những năm qua, thực trạng nước mặt nhiễm phèn, nước ngầm nhiễm vôi qua xử lý nhưng không khả quan, gây nên tâm lý ám ảnh cho nhân dân. Điều người dân đang băn khoăn, PV đã chuyển đến đơn vị cấp nước.

Mạng lưới đường ống dẫn nước được lắp đặt lại.
Mạng lưới đường ống dẫn nước được lắp đặt lại.

Ông Lê Anh Dũng – Chủ tịch HĐQT Cty CP Cấp nước Quảng Bình khẳng định: “Rút kinh nghiệm từ khâu thiết kế, thi công, vận hành Công trình cấp nước Phong Nha trước đây. Nên khi được chuyển giao, bắt tay vào đầu tư mới. Chúng tôi đã xác định nhu cầu thực tế tại địa phương để xây dựng dự án với quy mô công suất 1.500m³/ngày-đêm, đáp ứng đủ nhu cầu của dân cư.

Tiên lượng trước chỉ tiêu nước cứng tại sông Son nếu không xử lý tốt thì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm lý nhân dân. Cty đã đầu tư cụm xử lý khử nước cứng tại công trình lần này. Đường ống dẫn không sử dụng quá lâu, chúng tôi đã thay mới. Và giá bán nước thì chúng tôi sẽ bán với mức giá do UBND tỉnh quy định”.

Theo Báo Xây dựng

Bài viết mới nhất